DanLuat 2015

Nhập nhằng giữa tội giết người và cố ý gây thương tích

Chủ đề   RSS   
  • #222191 25/10/2012

    Cuonglawyer
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2011
    Tổng số bài viết (7261)
    Số điểm: 45062
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 2697 lần
    Lawyer

    Nhập nhằng giữa tội giết người và cố ý gây thương tích

     
     
    Cùng một hành vi nhưng khi đánh giá động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo cơ quan tố tụng nhiều nơi "lúng túng" khi xác định tội danh, dẫn tới cơ quan này thì cho rằng hành vi đó là "giết người", nhưng nơi khác lại cho rằng chỉ phạm tội "cố ý gây thương tích" và ngược lại.
     

    Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP HCM vừa xử phúc thẩm đã tuyên phạt bị cáo Dương Thế Duy (27 tuổi, ngụ TP Tân An, tỉnh Long An) mức án 6 năm tù về tội "cố ý gây thương tích". Đáng chú ý, trước đó bị cáo này bị truy tố và xét xử đến 2 tội danh "giết người" và "cố ý gây thương tích".

    Theo nội dung vụ án, tối 1/5/2011, Đặng Đình Duy (tự Duy sida, 27 tuổi, ngụ Long An) đi cùng Nguyễn Minh Trung (22 tuổi, ngụ Long An) bằng xe môtô trên đường Châu Thị Kim, phường 4, TP Tân An thì thấy Dương Thế Duy đang ngồi uống rượu cùng bạn bè trước cửa hàng bán điện thoại di động Ánh Dương. Đình Duy và Trung liền ghé vào rủ Thế Duy đi nhậu tiếp nhưng người này từ chối.

    Cho rằng Thế Duy "chê", không thèm nhậu chung với mình nên Đình Duy kiếm cớ gây sự với Thế Duy, dẫn đến hai bên cãi cọ với nhau. Sau đó, Thế Duy về nhà, còn Đình Duy cùng Trung đi nhậu. Sau khi nhậu xong, Đình Duy mang theo dao rồi kêu Trung chở đến nhà Thế Duy nằm trên đường Thủ Khoa Huân, phường 1, TP Tân An để nói chuyện.

     

    Bị cáo Dương Thế Duy.

     

    Tại đây, trong lúc cãi nhau, bị Đình Duy lấy dao mang theo đâm 1 nhát trúng vào tay, Thế Duy liền chạy vào nhà lấy dao đâm trả. Hậu quả là cả hai đều bị thương tích đầy người. Trong lúc hai bên đang giằng co nhau thì Thế Duy bị Trung đứng phía sau chụp cánh tay đang cầm dao. Đang trớn, Thế Duy gạt mạnh tay về phía sau thì mũi dao trúng vào bụng Trung, thương tích 35%. Qua giám định thương tật của Đình Duy là 12% vĩnh viễn.

    Với hành vi phạm tội như trên, VKSND tỉnh Long An ra cáo trạng truy tố Dương Thế Duy về tội giết người có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS và tội "cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 104 BLHS. Đồng quan điểm với VKS, tòa án cấp sơ thẩm nhận định hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành 2 tội danh như cáo trạng đã quy kết, từ đó tuyên phạt Thế Duy 7 năm tù về tội giết người và 3 năm tù về tội cố ý gây thương tích, tổng hợp hình phạt là 10 năm tù. Riêng đối với hành vi của nạn nhân Đặng Đình Duy gây thương tích cho bị cáo, tòa án cấp sơ thẩm cho rằng thuộc thẩm quyền điều tra của cấp huyện, TP, cơ quan điều tra chuyển hồ sơ theo thẩm quyền xem xét, do đó không đề cập đến tại phiên tòa này.

    Sau khi bản án tuyên, bị cáo đã làm đơn kháng cáo. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm vào ngày 17/10, thực hành quyền công tố tại tòa, đại diện VKSND tối cao đề nghị HĐXX bỏ tội giết người mà VKS và Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo. Theo nhận định của VKS, lỗi trong vụ án này bắt đầu từ phía bị hại, xem xét toàn diện vụ án thì thấy bị cáo chỉ phạm tội cố ý gây thương tích. Đồng quan điểm với VKS, HĐXX cấp phúc thẩm cũng nhận định, tội giết người chỉ cấu thành khi hành vi của bị cáo có chủ ý, mục đích từ trước.

    Trong vụ án này bị cáo là người bị chém trước, sau đó bị cáo mới có hành vi tấn công lại nên không thể kết tội bị cáo cố ý giết người mà chỉ phạm tội cố ý gây thương tích. Do bị cáo cố ý gây thương tích cho 2 người nên mức án về tội này cũng tăng lên. Từ những nhận định như trên nên HĐXX đã chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, tuyên bị cáo chỉ phạm tội "cố ý gây thương tích" và tuyên mức án như trên.

    Cách đó không lâu, TAND TP HCM xử phúc thẩm đã bác đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Kiệm (21 tuổi, ngụ Kiên Giang), giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo này mức án 8 năm tù về tội "cố ý gây thương tích". Tuy nhiên, trong phần nhận định, HĐXX cho rằng, hành vi của bị cáo này đã cấu thành tội giết người nhưng tòa án cấp sơ thẩm chỉ nhận định cố ý gây thương tích là chưa đánh giá đúng mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do vụ án không có kháng cáo của bị hại và kháng nghị của VKS nên HĐXX cho biết sẽ báo cáo vụ việc lên giám đốc thẩm, đề nghị hủy án để xét xử bị cáo về tội giết người.

    Theo nội dung vụ án, Nguyễn Văn Kiệm làm thuê cho gia đình ông Huỳnh Văn Hiệp (ngụ phường Long Trường, quận 9) và được người này cho ở cùng nhà. Trong quá trình ở chung với gia đình, Kiệm nảy sinh tình cảm với con gái ông Hiệp là chị H.T.C.N. nhưng bị chị này từ chối. Từ đó, Kiệm rất tức tối và nảy sinh ý định chém ông Hiệp để trả thù.

    Rạng sáng 25/1, thấy ông Hiệp vào nhà vệ sinh, Kiệm lấy dao đứng chờ sẵn bên ngoài. Khi ông Hiệp vừa đi ra thì bị Kiệm dùng dao đâm trượt, con dao trúng vào tường gãy cán. Sau đó, Kiệm lấy một con dao khác chém nạn nhân 17 nhát vào vùng đầu, trán, mặt, bả vai… Sau đó, người nhà nạn nhân phát hiện tri hô, Kiệm mới bỏ đi. Theo giám định, ông Hiệp bị thương tật 51% vĩnh viễn. Với hành vi phạm tội như trên, Kiệm chỉ bị VKS và TAND quận 9 truy tố và xét xử về tội "cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 104 BLHS.

    Được biết, để "phân biệt" hai tội danh này TAND Tối cao đã có nhiều văn bản hướng dẫn để thẩm phán phân biệt khi xử lý. Cụ thể như Công văn số03/1987-TAND TC ngày 22/10/1987 của TAND Tối cao, Nghị quyết 01 ngày 19/4/1989, Nghị quyết 04 ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để hướng dẫn…

    Tuy nhiên, các văn bản này cũng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể từng hành vi. Vì vậy, khi ngồi xét xử để định tội danh nhiều HĐXX cũng chủ yếu là dựa vào công cụ gây án và vùng trọng yếu bị tác động trên người nạn nhân, ngay cả khái niệm "vùng trọng yếu" cũng dễ dàng chấp nhận là đầu, ngực, bụng của bị hại. Hoặc cũng HĐXX, chỉ dựa vào ý thức chủ quan bằng mặt khách quan của hành vi phạm tội… mà định tội bị cáo.

    Theo: cand.com.vn

     

    Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

    Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

    - Điện thoại/Fax:0437.327.407

    -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

    I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

    Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

    1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

    2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

    3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

    4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

    5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

    II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

    1. Hình thức tư vấn miễn phí:

    Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

    - Điện thoại: 0977.999.896

    - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

    - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

    2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

    III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

    Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

    Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

     
    6245 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #222241   26/10/2012

    anhdv352
    anhdv352
    Top 25
    Female
    Lớp 12

    Quảng Ninh, Việt Nam
    Tham gia:18/12/2010
    Tổng số bài viết (2389)
    Số điểm: 23754
    Cảm ơn: 825
    Được cảm ơn 1335 lần
    Moderator

    Đây đúng là vấn đề mà người học luật cũng như áp dụng pháp luật quan tâm. Trước đây trong quá trình học, chúng tôi cũng đã nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề này.

    Đối với những trường hợp này, để định tội danh đúng thì cần xác định được lỗi của người thực hiện hành vi PT thì mới có thể xác định chính xác được vấn đề. Nếu ai quan tâm, đọc bài viết trong cuốn Lỗi trong LHS VN của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì sẽ hiểu hơn về vấn đề này.

    Để mọi người tiện theo dõi và thảo luận. tôi xin post bài viết mà chúng tôi đã nghiên cứu để tham khảo.

     

    Việc xác định lỗi của những người có hành vi xâm phạm đến thân thể của người khác có ý nghĩa rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp. Trong nhiều trường hợp hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác có biểu hiện khách quan tương tự nhau, việc phân biệt những trường hợp này đòi hỏi phải xác định lỗi của người thực hiện hành vi. Xác định lỗi sai sẽ dẫn đến định tội sai.

    VD:

    -         Cùng là hành vi (cố ý) xâm phạm thân thể người khác gây chết người, nhưng có thể là phạm tội giết người (Đ.93) hoặc CYGTT (Đ.104 khoản 3).

    -         Cùng là hành vi cướp TS gây chết người, nhưng có thể PT cướp TS (K4Đ.133) hoặc phạm 2 tội cướp TS (Đ.133) và giết người (Đ.93).

    Việc xác định lỗi của người phạm tội trong những trường hợp PT nêu trên chủ yếu là xác định lỗi (cố ý trực tiếp hay cố ý GT hay vô ý vì quá tự tin) đối với hậu quả chết người (đã hoặc chưa xảy ra).

    Để xác định được lỗi đúng trong những trường hợp này đòi hỏi phải trả lời hai câu hỏi:

    -Câu hỏi 1: Người PT có thấy trước hậu quả chết người hay không?

    - Câu hỏi 2: Nếu thấy trước hậu quả thì họ mong muốn hay chấp nhận, hay đã loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra.

    Nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là không thì có thể loại trừ được ngay khả năng lỗi cố ý đối với hậu quả (giết người). Lỗi cố ý của người PT trong trường hợp này chỉ còn có thể là lỗi cố ý đối với hành vi (gây thương tích, cướp TS…).

    Chỉ có khả năng có lỗi cố ý đối với hậu quả (giết người) khi câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là có. Sẽ có lỗi cố ý đối với hậu quả (giết người) nếu người PT mong muốn hay chấp nhận hậu quả chết người xảy ra.

    Việc xác định người PT mong muốn hay chấp nhận hậu quả chết người xảy ra hay có ý thức loại trừ khả năng hậu quả xảy ra chính là xác định thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người đã thấy trước.

    Khi đã thấy trước hậu quả chết người mà người PT vẫn thực hiện hành vi PT thì chỉ có thể thuộc một trong 4 trường hợp:

    + Mong muốn hậu quả chết người xảy ra => Lỗi CYTT với hậu quả.

    + Chấp nhận HQ chết người xảy ra => Lỗi CYGT với hậu quả.

    + Loại trừ khả năng xảy ra hậu quả chết người (sự loại trừ là thiếu cơ sở). =>Lỗi VY do QTT với hậu quả.

    + Loại trừ khả năng xảy ra hậu quả chết người (sự loại trừ là có cơ sở đầy đủ). =>Không có lỗi với hậu quả.

    * Để xác định thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người có thể dựa vào những tình tiết sau:

    1. Nhóm những tình tiết phản ánh sự quan tâm của người PT đối với hậu quả chết người:

    - Có thể sử dụng những tình tiết này để chứng minh thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người vì: trong trường hợp người PT có ý thức chấp nhận hậu quả xảy ra, người PT không quan tâm đến hậu quả chết người; trường hợp người PT mong muốn hậu quả chết người xảy ra thì họ có quan tâm đến hậu quả chết người (quan tâm theo hướng để hậu quả chết người xảy ra); còn trường hợp người PT có ý thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra, họ cũng quan tâm đến hậu quả chết người (nhưng là quan tâm theo hướng để hậu quả chết người không xảy ra).

    - Các tình tiết cụ thể:

    ·        Sự lựa chọn công cụ phương tiện, phương pháp phạm tội và lựa chọn cách thức sử dụng phương tiện:

    Có thể sử dụng tình tiết này để chứng minh thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết người vì trong sự lựa chọn phương tiện, phương pháp phạm tội và lựa chọn cách thức sử dụng phương tiện của người PT có thể có những biểu hiện phản ánh sự quan tâm của người PT đối với hậu quả chết người, qua đó phản ánh thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người.

    + Trường hợp người PT chấp nhận hậu quả chết người xảy ra, người PT không quan tâm đến hậu quả chết người nên không quan tâm đến mức độ nguy hiểm của phương tiện, phương pháp phạm tội, cách thức sử dụng phương tiện. Người PT chỉ quan tâm đến mục đích chính khác (không phải mục đích gây hậu quả chết người), do đó tiêu chí để người Pt lựa chọn phương tiện, phương pháp PT là những thứ có khả năng giúp người PT đạt được mục đích chính chứ không phải những phương tiện, phương pháp có khả năng gây hậu quả chết người. Biểu hiện của thái độ tâm lý chấp nhận hậu quả chết người trong việc lựa chọn phương tiện, phương pháp phạm tội và cách thức sử dụng phương tiện của người PT là người PT lựa chọn, chuẩn bị bất kỳ phương tiện, phương pháp phạm tội nào, sử dụng phương tiện bằng bất kỳ cách thức nào có khả năng cao nhất giúp họ đạt được mục đích chính, không phụ thuộc vào tính nguy hiểm của phương tiện hay cách thức sử dụng phương tiện đối với tính mạng của nạn nhân. Người PT chấp nhận việc sử dụng phương tiện, phương pháp và cách thức sử dụng phương tiện đó có thể dẫn đến cả hai khả năng hậu quả chết người xảy ra hoặc không xảy ra, miễn là đạt được mục đích chính của mình. Họ không lựa chọn vì tính nguy hiểm của phương tiện cũng như của cách thức sử dụng chúng mà chỉ có sự lựa chọn để đảm bảo đạt được mục đích chính.

    + Trong trường hợp người PT có ý thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra, người PT vừa quan tâm làm sao để tránh hậu quả chết người xảy ra vừa quan tâm đến mục đích chính, do đó người phạm tội vừa quan tâm đến mức độ nguy hiểm vừa quan tâm đến khả năng giúp đạt được mục đích của phương tiện, phương pháp PT cũng như cách thức sử dụng. Tiêu chí để người phạm tội lựa chọn phương tiện, phương pháp phạm tội và cách thức sử dụng là những phương tiện, phương pháp ít nguy hiểm nhất, sao cho tránh được hậu quả chết người mà vẫn có khả năng giúp người PT đạt được mục đích chính, trong đó tránh hậu quả chết người là tiêu chí được ưu tiên số 1 (lựa chọn những phương tiện, phương pháp có thể tránh hậu quả chết người trước, sau đó mới lựa chọn trong số phương tiện, phương pháp đó lấy phương tiện, phương pháp có khả năng cao nhất giúp người PT đạt được mục đích chính). Biểu hiện: người Pt lựa chọn phương tiện, phương pháp ít nguy hiểm nhất, và ngay khi chuẩn bị hoặc trong quá trình sử dụng phương tiện và phương pháp phạm tội, người phạm tội có thể có những biện pháp làm giảm bớt mức độ nguy hiểm của phương tiện hoặc sử dụng phương tiện bằng cách thức ít nguy hiểm nhất để tránh hậu quả chết người xảy ra.

    VD: Dùng vải hoặc cao su để bọc vào đầu búa để cướp TS; hoặc dùng cán cuốc để tác động vào nạn nhân chứ không dùng bàn cuốc.

    + Trường hợp người PT mong muốn hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội quan tâm làm sao để gây ra hậu quả chết người, do đó quan tâm đến mức độ nguy hiểm của phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng phương tiện. Tiêu chuẩn lựa chọn phương tiện của người phạm tội trong trường hợp này là phương tiện có khả năng cao nhất gây ra hậu quả chết người. Biểu hiện: người phạm tội lựa chọn phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng phương tiện có mức độ nguy hiểm cao nhất; trong khi chuẩn bị, sử dụng phương tiện, phương pháp phạm tội, người phạm tội có thể có những biện pháp làm tăng mức độ nguy hiểm của phương pháp, phương tiện phạm tội.

    ·        Diễn biến thái độ của người PT trong quá trình thực hiện TP:

    Có thể sử dụng tình tiết này để chứng minh thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người đã thấy trước vì nó phản ánh người phạm tội có  hoặc không quan tâm đến hậu quả chết người.

    + Trường hợp người phạm tội chấp nhận khả năng hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội không quan tâm đến hậu quả chết người mà chỉ quan tâm đến việc đạt được mục đích chính. Do đó trong quá trình thực hiện tội phạm, diễn biến xấu đối với nạn nhân hay hậu quả chết người xảy ra không tác động đến người phạm tội, chỉ khả năng đạt được mục đích chính mới tác động đến người phạm tội. Người PT sẽ tiếp tục thực hiện hành vi xâm phạm thân thể của nạn nhân đến khi đạt được mục đích chính mới dừng, dù có những biểu hiện cho thấy tính mạng của nạn nhân đã trực tiếp bị đe dọa. Nếu chưa đạt được mục đích chính, người PT có thể hành động quyết liệt hơn nhưng không phải để hậu quả chết người xảy ra mà chỉ nhằm đạt được mục đích chính.

    VD: Cướp TS, mục đích chính là chiếm đoạt được TS, không quan tâm nạn nhân có chết hay không.

    + Trường hợp người PT có ý thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra, người PT vừa quan tâm để tránh hậu quả chết người vừa quan tâm để đạt mục đích chính, do đó diễn viến xấu đối với nạn nhân hay hậu quả chết người xảy ra hay khả năng đạt được mục đích chính đều có tác động đến người PT, tuy nhiên mức độ tác động của chúng đối với người phạm tội là khác nhau vì thứ tự ưu tiên quan tâm của người phạm tội là làm sao để tránh hậu quả chết người trước, sau đó mới quan tâm đến khả năng đạt được mục đích chính. Vì vậy, trong trường hợp này người phạm tội luôn luôn theo dõi tình trạng của nạn nhân, và khi có biểu hiện nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân người PT có thể thay đổi cách thức thực hiện hành vi theo hướng làm giảm bớt mức độ nguy hiểm của hành vi (thay đổi vị trí tác động, cường độ tác động..), thậm chí có thể dừng lại hoặc có những hành động nhằm cứu chữa cho nạn nhân; khi hậu quả chết người xảy ra thì người phạm tội thường có thái độ hoảng hốt, thậm chí không còn quan tâm đến mục đích chính nữa.

    VD: Xiết cổ nạn nhân để đe dọa nhằm cướp TS, nếu thấy nhận nhân có biểu hiện nguy hểm đến tính mạng thì người phạm tội nới lỏng tay, dừng lại. Nạn nhân chết thì bỏ chạy, không lấy tài sản nữa…

    + Trường hợp người PT mong muốn hậu quả chết người xảy ra, người PT quan tâm là sao để gây ra hậu quả chết người, do đó khả năng gây ra hậu quả chết người cao hay thấp đều có tác động đến diễn biến thái độ của người PT trong quá trình thực hiện tội phạm. Cụ thể, người phạm tội luôn luôn theo dõi tình trạng của nạn nhân, khi có biểu hiện hậu quả chết người chưa xảy ra hoặc khả năng khó xảy ra thì người PT có thể thực hiện hành vi với cường độ quyết liệt, mạnh mẽ hơn hoặc thay đổi cách thức, phương tiện, phương pháp phạm tội theo hướng làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi. Và về lý thuyết, khi hậu quả chết người xảy ra thì người PT có thái độ thỏa mãn vì mục đích chính là gây hậu quả chết người đã đạt được.

    VD: Bóp cổ để giết chết nạn nhân, nhưng nạn nhân chưa chết thì có thể dung dao đâm cho đến khi nạn nhân chết.

    (Lưu ý: Có thể trong quá trình thực hiện hành vi người PT chuyển thái độ chủ quan từ loại trừ sang chấp nhận khả năng hq chết người xảy ra).

     

    ·        Những biểu lộ khác của người PT trước, trong và sau khi thực hiện TP (trước hết là những biểu lộ bằng ngôn ngữ):

    Có thể sử dụng những tình tiết này để chứng minh thái độ chủ quan của người PT vì những biểu hiện bên ngoài và thái độ tâm lý bên trong có liên quan đến nhau, những suy nghĩ bên trong của người PT có thể được bộc lộ qua những biểu hiện bên ngoài; những biểu hiện bên ngoài của người PT có thể phản ánh sự quan tâm của người PT đối với hậu quả chết người đã thấy trước, qua đó có thể chứng minh người phạm tội mong muốn hay chấp nhận hay có ý thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra.

    Tuy nhiên không phải mọi biểu hiện bên ngoài đều phản ánh đúng suy nghĩ bên trong của người PT, người PT có thể có những biểu lộ ra bên ngoài không đúng suy nghĩ bên trong của mình nhằm che giấu hành vi phạm tội, hoặc do bực tức, nóng giận mà có những lời nói, hành vi không đúng với mong muốn, suy nghĩ thực sự của bản thân. Do đó cần đánh giá, kiểm tra những tình tiết này qua những tình tiết khác của vụ án (sự lựa chọn phương tiện, phương pháp PT; diễn biến thái độ trong khi thực hiện TP) để xác định được chính xác thái độ tâm lý của người PT. Nói chung, nhóm tình tiết này chỉ có giá trị xác nhận, củng cố cho các tình tiết khác mà không có giá trị chứng minh khi đứng độc lập.

    2. Nhóm các tình tiết khác:

    Nhóm tình tiết này không phản ánh sự quan tâm của người phạm tội đối với hậu quả chết người nhưng từ những tình tiết này có thể rút ra kết luận về thái độ của người PT đối với hậu quả trong những trường hợp cá biệt.

    ·        Tính chất nguy hiểm của hành vi PT:

    Tính chất nguy hiểm của hành vi PT vừa giúp xác định người PT có thấy trước hq chết người hay không, vừa có thể giúp xác định thái độ chủ quan của người PT đối với hq chết người đã thấy trước trong một số trường hợp cá biệt, đó là trường hợp người PT thực hiện hành vi nguy hiểm đến mức độ tất nhiên phải gây ra hq chết người, thì có thể trực tiếp kết luận được thái độ chủ quan của người PT chỉ có thể là mong muốn hq chết người xảy ra, loại trừ được hai khả năng người PT chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra. Tính chất nguy hiểm của hành vi đến mức độ tất nhiên phải gây hậu quả chết người có thể do tính chất của hành vi quyết định (VD: Bỏ thuốc kịch độc (thạch tín) vào thức ăn của nạn nhân; dí súng vào đầu nạn nhân bóp cò); hoặc do mức độ thực hiện hành vi quyết định (VD: đập liên tiếp thanh gỗ chắc vào đầu nạn nhân…).

    Lưu ý: Nếu người PT thực hiện hành vi nguy hiểm không đến mức độ tất nhiên phải gây ra hq chết người thì không thể rút ra kết luận trực tiếp về thái độ chủ quan của người PT, mà phải đánh giá trong mối liên hệ với những tình tiết khác của vụ án để củng cố, xác nhận tình tiết này.

    VD: Dùng gậy chắc đập một nhát vào đầu nạn nhân; đâm dao vào bụng nạn nhân…

    ·        Động cơ, mục đích chính cũng như nhân cách (thái độ) của người phạm tội:

    3 yếu tố này luôn có mối liên quan với nhau, quyết định lựa chọn hành vi xử sự của mỗi người bị quy định bởi nhiều yếu tố trong đó có nhân cách và động cơ hành động.

    Trong một số trường hợp, nghiên cứu nhân cách của người PT (thái độ đối với tính mạng, sức khỏe của người khác), động cơ hành động có thể giúp xác định mục đích phạm tội, qua đó xác định được thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người.

    - Nếu làm rõ được động cơ hành động (tại sao người PT thực hiện TP) phù hợp với mục đích của hành động (người PT muốn gì qua hành vi PT), hành động tước đoạt tính mạng của người khác để đạt được mục đích cũng chính là nhằm thỏa mãn động cơ => Người PT mong muốn hq chết người xảy ra.

    VD: A TCTS, bị B phát hiện, A đập gậy vào đầu B làm B chết.

    Nếu nạn nhân quen biết người PT => động cơ giết người để che giấu hành vi TCTS => mong muốn hậu quả chết người xảy ra.

    Nếu nạn nhân không quen biết người PT => động cơ đánh người để tẩu thoát => không mong muốn hậu quả chết người xảy ra.

    - Nếu người PT đánh giá việc đạt được mục đích chính của mình quan trọng hơn việc tránh hậu quả chết người xảy ra, nên đã lựa chọn quyết định thực hiện hành vi Pt nhằm đạt được mục đích chính, chấp nhận khả năng hậu quả chết người xảy ra => người PT chấp nhận hq . Sự đánh giá, lựa chọn này của người PT có chịu ảnh hưởng của nhân cách cá nhân. Do đó có thể sử dụng tình tiết nhân cách và mục đích chính cuả người PT cùng với những tình tiết khác để xác định thái độ chủ quan của người PT đối với hậu quả chết người đã thấy trước.

    Lưu ý: + Từ một động cơ có thể có nhiều mục đích khác nhau.

                + Một mục đích có thể xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau.

                + Một người có thể có sử xự phù hợp hoặc trái với nhân cách của họ.

    Do đó những tình tiết này chỉ có ý nghĩa tham khảo, giúp xác nhận củng cố nhận định khi nó phù hợp với những tình tiết khác của vụ án.

    VD: Hành vi giết người của một người chuyên nghề đâm thuê, chém mướn là phù hợp với nhân cách của họ (coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác). Nhưng hành vi của một người bố giết con mình do người con nghiện ma túy và thường xuyên đe dọa, hành hung, chửi bới bố mẹ để lấy tiền mua ma túy, có thể không phù hợp với nhân cách của người bố.

    * Lưu ý chung khi sử dụng các tình tiết của vụ án để xác định thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết người đã thấy trước:

    - Suy nghĩ chủ quan của người PT có thể thay đổi trong quá trình thực hiện tội phạm.

    VD: ban đầu là thái độ loại trừ hậu quả, nhưng sau đó chuyển sang thái độ chấp nhận hậu quả.

    - Suy nghĩ của con người không theo cùng một khuôn mẫu, do đó khi đánh giá tình tiết để xác định thái độ chủ quan của người PT phải xuất phát từ vị trí của người phạm tội (năng lực chủ thể, hoàn cảnh, không gian, thời gian PT…)

    - Từng tình tiết có thể phản ánh nhiều khả năng khác nhau, do đó phải đánh giá từng tình tiết trong sự thống nhất với những tình tiết khác của vụ án.

    Đường chông gai chờ ngày mai ta bước tiếp!

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-