DanLuat 2015

Nhận định, bình luận và tìm hiểu pháp luật đó đây!

Chủ đề   RSS   
  • #17393 24/07/2008

    lethigam_ms
    Top 150
    Lớp 1

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:03/04/2008
    Tổng số bài viết (423)
    Số điểm: 2783
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 82 lần


    Nhận định, bình luận và tìm hiểu pháp luật đó đây!

    Nhân dịp Quốc hội đang lấy ý kiến về dự thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng, tôi xin đưa lên một số quy định ở các nước về Bảo vệ người tiêu dùng.

    Mong nhận được sự đóng góp của các thành viên!
    Cập nhật bởi navelvu ngày 19/03/2010 06:35:23 PM Cập nhật bởi navelvu ngày 19/03/2010 06:27:38 PM
     
    15767 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

3 Trang 123>
Thảo luận
  • #17394   24/07/2008

    lethigam_ms
    lethigam_ms
    Top 150
    Lớp 1

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:03/04/2008
    Tổng số bài viết (423)
    Số điểm: 2783
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 82 lần


    Hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng!

    I. Mục tiêu

    Để thực hiện sự quan tâm đến quyền lợi người tiêu dùng trong tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển; ghi nhận rằng người tiêu dùng thường phải chịu sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thương lượng trong mua bán; và ý thức được rằng người tiêu dùng có quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý, bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng này nhằm thực hiện những mục tiêu sau đây:

    (a) Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là người tiêu dùng;

    (b) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng;

    (c) Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng;

    (d) Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng;

    (e) Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập;

    (f) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế  trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng;

    (g) Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;

    (h) Khuyến khích tiêu dùng bền vững.

    II. Các nguyên tắc chung

    Để thực hiện sự quan tâm đến những điều hướng dẫn sau đây, các chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc giữ vững các chính sách mạnh mẽ về bảo vệ người tiêu dùng. Để thực hiện được điều đó, chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra.

    Những nhu cầu pháp lý mà bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:

    a. Bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn;

    b. Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;

    c. Thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;

    d. Giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;

    e. Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng;

    f. Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.

    g. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

    Việc sản xuất và tiêu dùng không bền vững, đặc biệt là ở các nước công nghiệp, là nguyên nhân chính của sự xuống cấp của môi trường toàn cầu. Tất cả các nước cần thúc đẩy tiêu dùng bền vững; các nước phát triển cần đi đầu trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững; các nước đang phát triển cần tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu dùng bền vững trong quá trình phát triển của mình, cần quan tâm thích đáng tới nguyên tắc chung và các trách nhiệm cụ thể. Tình hình cụ thể và nhu cầu của các nước đang phát triển cần phải được ghi nhận đầy đủ.

    Chính sách khuyến khích tiêu dùng hợp lý cần phải lưu ý mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội và giữa các nước.

    Các chính phủ cần phát triển, củng cố và duy trì đủ cơ sở hạ tầng để phát triển, thực hiện và điều hành các chính sách bảo vệ người tiêu dùng. Cần quan tâm đặc biệt để bảo đảm các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện và quyền lợi của toàn dân, đặc biệt là người dân sống ở vùng nông thôn và người nghèo.

    Tất cả các tổ chức kinh doanh phải tuân theo pháp luật  và những quy định của nhà nước, đồng thời phải phù hợp với những quy định của tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ người tiêu dùng mà cơ quan chức năng của nước đó đã thỏa thuận. (Sau đây các tiêu chuẩn quốc tế nói trong bản hướng dẫn đều được hiểu trong văn cảnh của chương này).

    Vai trò tích cực của việc nghiên cứu trong các trường đại học và các doanh nghiệp kinh doanh tư nhân hay nhà nước cần được xem xét khi hoạch định các chính sách bảo vệ người tiêu dùng.

    III. Các hướng dẫn

    Các nguyên tắc chỉ đạo sau đây được áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước và nhập khẩu.

    Khi áp dụng bất cứ biện pháp hoặc quy định nào về bảo vệ người tiêu dùng, cần quan tâm thỏa đáng để đảm bảo rằng những quy định ấy sẽ không gây cản trở và mâu thuẫn với những điều ước về thương mại quốc tế.  

    A. An toàn sản phẩm

    Chính phủ các nước cần phê chuẩn hoặc khuyến khích việc phê chuẩn các biện pháp thích hợp bao gồm những hệ thống pháp lý, những quy định về an toàn, các tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, các tiêu chuẩn tự nguyện và lưu trữ hồ sơ an toàn để đảm bảo rằng các sản phẩm phải an toàn cho sử dụng theo mục đích, hoặc bình thường có thể dự đoán trước được.

    Những chính sách thích hợp cần đảm bảo các sản phẩm được sản xuất ra phải an toàn cho việc sử dụng có mục đích hoặc bình thường có thể dự đoán được. Những người có trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường đặc biệt là những người cung cấp, xuất nhập khẩu, những người buôn bán lẻ và tương tự (sau đây gọi là những nhà phân phối) cần phải đảm bảo rằng trong quá trình lưu thông, những hàng hóa này không trở thành độc hại do lưu kho hoặc quản lý không tốt. Người tiêu dùng cần được hướng dẫn đầy đủ về cách sử dụng hàng hóa và phải được thông báo về sự cố có thể xảy ra khi sử dụng theo mục đích, hoặc trong khi sử dụng bình thường có thể thấy trước được. Thông tin quan trọng về an toàn phải được truyền đạt tới người tiêu dùng bằng những ký hiệu quốc tế dễ hiểu nếu có.

    Cần có chính sách thích hợp để đảm bảo rằng nếu nhà sản xuất hoặc nhà phân phối thấy được tác hại sau khi hàng hóa đó được đưa ra thị trường, thì họ phải khai báo ngay với những người có trách nhiệm, và tốt hơn là với toàn thể công chúng. Các chính phủ cần quan tâm đến các phương thức để bảo đảm rằng người tiêu dùng được thông tin chính xác về những tác hại ấy.

    Khi cần thiết, chính phủ các nước cần ban hành các chính sách để nếu một sản phẩm được phát hiện là kém chất lượng một cách nghiêm trọng hoặc gây ra những tác hại thực sự nghiêm trọng ngay cả khi được sử dụng đúng, thì nhà sản xuất hoặc nhà phân phối phải thu hồi và thay thế, hoặc sửa chữa, hoặc đổi sản phẩm khác. Nếu không thể thực hiện được việc này trong một thời gian hợp lý, thì người tiêu dùng phải được bồi hoàn thỏa đáng.

    B. Thúc đẩy và bảo vệ những quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng

    Các chính sách của nhà nước cần làm cho người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều nhất từ các nguồn lực kinh tế của họ. Những chính sách này phải cố gắng để hoàn thiện phương thức phân phối, thực hiện buôn bán ngay thẳng, tiếp thị có đầy đủ thông tin, và bảo vệ có hiệu quả chống lại những thủ đoạn có thể phương hại đến quyền lợi kinh tế và sự lựa chọn của người tiêu dùng trên thị trường.

    Các chính phủ cần cố gắng ngăn chặn những thủ đoạn gây tổn hại đến quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng, bằng cách bảo đảm các nhà sản xuất, nhà phân phối và những người có liên quan đến việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ phải tuân theo những luật pháp đó định và các tiêu chuẩn bắt buộc. Các tổ chức của người tiêu dùng cần được khuyến khích để giám sát những việc làm có hại như pha chất độn trong thực phẩm, quảng cáo gây nhầm lẫn hoặc gian dối trên thị trường và các gian lận trong cung cấp dịch vụ.

    Trong trường hợp có thể, các chính phủ nên phát triển, củng cố và duy trì những biện pháp liên quan đến việc kiểm soát các thủ đoạn hạn chế hay lạm dụng trong buôn bán có thể có hại đến người tiêu dùng, bao gồm những biện pháp cưỡng chế đối với những thủ đoạn đó. Về vấn đề này, các chính phủ cần làm theo sự cam kết của mình đối với “Các nguyên tắc và quy tắc công bằng, nhất trí của nhiều bên và các điều lệ về kiểm soát các thủ đoạn hạn chế buôn bán” do Đại hội đồng thông qua trong Nghị quyết 35/63 ngày 5 tháng 12 năm 1980.

    Các chính phủ cần phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất phải đảm bảo hàng hóa đáp ứng được nhu cầu hợp lý về độ bền, công dụng và độ tin cậy, phù hợp với mục đích sử dụng, và người bán phải biết được những yêu cầu này đó được đáp ứng hay chưa. Những chính sách tương tự cũng phải được áp dụng trong các khâu cung ứng dịch vụ.

    Các chính phủ cần khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả nhằm tạo cho người tiêu dùng được lựa chọn trong phạm vi rộng các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất.

    Ở những nơi phù hợp, các chính phủ cần quan tâm để nhà sản xuất hoặc những nhà bán lẻ phải đảm bảo cung cấp các phụ tùng và dịch vụ sau bán hàng đủ tin cậy.

    Người tiêu dùng cần được bảo vệ để tránh những gian lận trong hợp đồng, như hợp đồng do một bên quy định tiêu chuẩn, hợp đồng bỏ ra ngoài những quyền cơ bản và những điều kiện giao nhận không sòng phẳng của người bán.

    Việc xúc tiến thương mại và việc thực hiện buôn bán phải tuân theo các nguyên tắc đối xử công bằng với người tiêu dùng và hợp pháp. Nguyên tắc này quy định việc cung cấp thông tin cần thiết để người tiêu dùng có thể độc lập quyết định, cũng như những biện pháp để bảo đảm rằng thông tin cung cấp là chính xác.

    Các chính phủ cần khuyến khích mọi nguồn tin tự do đưa những thông tin chính xác về mọi mặt của sản phẩm tiêu dùng.

    Để người tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin chính xác về tác động môi trường của các sản phẩm và dịch vụ thì cần phải thông qua các phương tiện như các thông tin về sản phẩm, các báo cáo về môi trường của ngành, của các trung tâm thông tin người tiêu dùng, các chương trình dỏn nhãn chứng nhận về môi trường và các đường dây nóng thông tin về sản phẩm.

    Các chính phủ, hợp tác chặt chẽ với các nhà sản xuất, các nhà phân phối và các tổ chức người tiêu dùng, cần có các biện pháp đối với các thông tin gây nhầm lẫn về môi trường trong các quảng cáo và các hoạt động tiếp thị khác.

    Trong bối cảnh riêng của từng nước, các chính  phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các điều luật về tiếp thị và hành vi thương mại, thông qua sự hợp tác với các tổ chức người tiêu dùng, nhằm bảo vệ người tiêu dùng một cách thỏa đáng. Những thỏa thuận tự nguyện cũng có thể được các tổ chức kinh doanh và các bên quan tâm khác cùng nhau xây dựng. Những điều luật này phải được công bố rộng rãi.

    Các chính phủ cần thường xuyên xem xét các văn bản pháp lý liên quan đến việc tính toán và đánh giá xem bộ máy thi hành có đủ năng lực không.  

    C. Các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ

    Trong điều kiện thích hợp, các chính phủ cần xây dựng hoặc xúc tiến việc soạn thảo và thực hiện các tiêu chuẩn theo hình thức tự nguyện hoặc các hình thức khác, ở cấp độ quốc gia và quốc tế về an toàn và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ, và phải công bố công khai những tiêu chuẩn đó. Những quy định và tiêu chuẩn quốc gia về an toàn và chất lượng sản phẩm  phải được thường xuyên xem xét để khi có điều kiện, đảm bảo cho những quy định và tiêu chuẩn đó phù hợp với những tiêu chuẩn chung đó được quốc tế công nhận.

    Ở những nơi nào do điều kiện kinh tế mà phải áp dụng những tiêu chuẩn thấp hơn những tiêu chuẩn phổ biến được quốc tế công nhận, thì phải cố gắng nâng cao những tiêu chuẩn đó càng sớm càng tốt.

    Các chính phủ cần khuyến khích và đảm bảo các phương tiện  để kiểm nghiệm và xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu của người tiêu dùng.

    D. Các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu

    Nếu phự hợp, các chính phủ cần xem xột:

    (a) Phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách để đảm bảo sự phân phối hiệu quả hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; ở nơi thích hợp, cần xem xét các chính sách đặc biệt để đảm bảo việc phân phối những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở những nơi việc phân phối gặp khó khăn, đặc biệt đối với các khu vực nông thôn. Những chính sách ấy có thể bao gồm việc trợ giúp để tạo ra các kho chứa và các phương tiện bán lẻ thích hợp ở các trung tâm mua bỏn nông thôn, khuyến khích người tiêu dùng tự giải quyết và kiểm tra tốt hơn các điều kiện cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở nông thôn;

    (b) khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã tiêu thụ và các hoạt động thương mại có liên quan, cũng như thông tin về các hoạt động đó, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

    E. Các biện pháp giúp người tiêu dùng được bồi thường

    Chính phủ các nước cần thiết lập hoặc duy trì những biện pháp hành chính và/hoặc pháp chế để giúp người tiêu dùng hoặc, nếu phù hợp, các tổ chức liên quan có thể nhận bồi thường thông qua các thủ tục chính thức hoặc không chính thức một cách nhanh chóng, công bằng, không tốn kém và thuận tiện. Cần đặc biệt chú ý tới nhu cầu của người tiêu dùng có thu nhập thấp.

    Các chính phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp giải quyết thắc mắc của người tiêu dùng một cách sòng phẳng, nhanh chóng và bình thường; nên thiết lập các cơ chế tự nguyện, bao gồm những dịch vụ tư vấn và các phương thức khiếu nại không chính thức để giúp đỡ người tiêu dùng.

    Cần để người tiêu dùng nhận được các thông tin về việc bồi thường và các hình thức giải quyết tranh chấp. 

    F. Các chương trình giáo dục và thông tin

    Các chính phủ cần phát triển hoặc khuyến khích các chương trình thông tin và giáo dục cho người tiêu dùng, bao gồm thông tin về tác động đối với môi trường của sự lựa chọn của người tiêu dùng và hành vi và các tác dụng có thể có, bao gồm các lợi ích và chi phí, của những thay đổi trong tiêu dùng, có lưu ý đến truyền thống văn hóa của những đối tượng được giáo dục. Mục đích của các chương trình này cần tạo cho mọi người khả năng hành động độc lập, có khả năng lựa chọn một cách có căn cứ các hàng húa, dịch vụ và ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của họ. Khi thực hiện các chương trình đó, cần chú ý đặc biệt đến nhu cầu của những người tiêu dùng bị thiệt thòi ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị, kể cả những người tiêu dùng có thu nhập thấp và những người có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ. Các tổ chức người tiêu dùng, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác cần phải cùng tham gia vào những nỗ lực giáo dục này. 

    Ở nơi nào phù hợp, giáo dục người tiêu dùng phải trở thành một bộ phận cấu thành của chương trình cơ bản của hệ thống giáo dục, tốt nhất là lồng ghép vào các môn học hiện hành.

    Các chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng phải bao quát các khía cạnh quan trọng về bảo vệ người tiêu dùng sau đây:

    (a) Sức khỏe, dinh dưỡng, ngăn cản bệnh loãng xương, thực phẩm bị pha trộn;

    (b) Tác hại của sản phẩm;

    (c) Ghi nhãn sản phẩm;

    (d) Pháp luật có liên quan; làm thế nào để được bồi thường, các cơ quan và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng;

    (e) thông tin về cân đo, giá cả, chất lượng, điều kiện mua bán và việc cung ứng các nhu cầu cơ bản;

    (f) bảo vệ môi trường;

    (g) sử dụng hợp lý vật liệu, năng lượng, nguồn nước

    Các chính phủ cần khuyến khích các tổ chức người tiêu dùng và các nhóm liên quan khác, bao gồm báo chí, để tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, bao gồm các tác động về môi trường của việc mua sắm, bao gồm các lợi ích và chi phí của những thay đổi trong tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của các nhóm người tiêu dùng thu nhập thấp ở cả khu vực thành thị và nông thôn.

    Ở những nơi nào phù hợp, doanh nghiệp phải đảm trách hoặc tham gia một cách thực tiễn và thích hợp vào các chương trình thông tin giáo dục người tiêu dùng.

    Quan tâm đến sự cần thiết phải đưa chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng đến những người tiêu dùng ở nông thôn và những người tiêu dùng không biết chữ, các chính phủ cần phát triển hoặc khuyến khích phát triển các chương trình thông tin người tiêu dùng trên phương tiện thông tin đại chúng.

    Các chính phủ cần tổ chức hoặc khuyến khích  các chương trình tập huấn cho những người làm công tác giáo dục, những người công tác ở các phương tiện thông tin đại chúng và những người làm tư vấn về tiêu dùng, để giúp họ có thể tham gia vào việc triển khai các chương trình giáo dục và thông tin cho người tiêu dùng.

    G. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững

    Tiêu dựng bền vững là việc thỏa mãn được nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai đối với hàng hóa và dịch vụ một cách bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.

    Tiêu dùng bền vững là trách nhiệm chung của tất cả các nước thành viên, các tổ chức xã hội, người tiêu dùng, doanh nghiệp, các tổ chức lao động. Các tổ chức môi trường và các tổ chức người tiêu dùng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Người tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững về mặt môi trường, kinh tế, xã hội, bao gồm thông qua tác động của sự lựa chọn các nhà sản xuất. Các Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển và thực hiện các chính sách tiêu dùng bền vững và phải thống nhất chính sách này với các chính sách công khác. Việc hoạch định chính sách của chính phủ nên được tiến hành với sự tham vấn của doanh nghiệp, người tiêu dùng, các tổ chức môi trường và các tổ chức có liên quan khác. Doanh nghiệp có trách nhiệm thúc đẩy tiêu dùng bền vững thông qua việc thiết kể, sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ. Người tiêu dùng và các tổ chức môi trường có trách nhiệm thúc đẩy sự tham gia tranh luận về của công chúng đối với vấn đề tiêu dùng bền vững và hợp tác với chính phủ và doanh nghiệp về vấn đề tiêu dùng bền vững.

    Các chính phủ, hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức dân sự liên quan, cần xây dựng và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tiêu dùng bền vững thông qua việc phối hợp thực hiện nhiều chính sách trong đó có thể bao gồm các quy định pháp luật; các công cụ kinh tế xã hội; các chính sách trong các lĩnh vực như sử dụng đất, giao thông, năng lượng và nhà ở; các chương trình thông tin nhằm tăng cường nhận thức về tác động của tiêu dùng; loại bỏ những trợ cấp là nguyên nhân gây ra sản xuất và tiêu dùng bất hợp lý và thúc đẩy các hoạt động quản lý môi trường đối với từng ngành cụ thể.

    Các chính phủ cần khuyến khích việc thiết kế, phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ an toàn và tiết kiệm năng lượng, có cân nhắc tới các tác động vòng đời. Các chính phủ cần khuyến khích các chương trình tái chế nhằm khuyến khích người tiêu dùng tái chế rác thải và mua bán các sản phẩm tái chế.

    Các chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển và việc sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia về an toàn môi trường đối với sản phẩm và dịch vụ; những tiêu chuẩn đó không được tạo ra các rào cản thương mại.

    Các chính phủ cần khuyến khích kiểm nghiệm tác động môi trường của sản phẩm.

    Các chính phủ cần quản lý cẩn thận việc sử dụng những vật liệu gây nguy hại đến môi trường và khuyến khích sự ra đời của những vật liệu thay thế. Những vật liệu mới tiềm tàng chứa đựng nguy cơ gây hại tới môi trường cần phải được đánh giá trên cơ sở khoa học về tác động lâu dài đối với môi trường trước khi những vật liệu đó được đem đi phân phối.

    Các chính phủ cần tăng cường nhận thức các lợi ích liên quan tới sức khỏe của việc tiêu dùng và sản xuất bền vững, lưu ý cả các tác động đối với sức khỏe cá nhân và đối với tập thể thông qua bảo vệ môi trường.   

    Các chính phủ, phối hợp với doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức liên quan khác, cần khuyến khích thay đổi việc tiêu dùng không bền vững thông qua phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường và cho ra đời các công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin về công nghệ truyền thông, mà có thể vừa thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng vừa giảm thiểu ô nhiễm và sự mất cân đối các nguồn lực tự nhiên.

    Các chính phủ cần xây dựng hoặc phát triển các cơ chế quản lý hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng, bao gồm các khía cạnh của tiêu dùng bền vững.

    Các chính phủ cần xem xét một loạt các công cụ kinh tế, ví dụ như các công cụ tài khóa về chi phí môi trường, để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, cần lưu ý các nhu cầu xã hội, nhu cầu và động lực gây ra hành vi bền vững, trong khi tránh những tác động tiêu cực tiềm tàng khi tiếp cận thị trường, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển.

    Các chính phủ, hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác, cần xây dựng những hướng dẫn, phương pháp luận và cơ sở dữ liệu đối với những tiến bộ theo hướng tiêu dựng hợp lý ở mọi cấp độ. Thông tin này cần được công bố công khai.

    Các chính phủ và các tổ chức quốc tế cần đi đầu trong việc thực hiện các hoạt động bền vững trong hoạt động của mình, đặc biệt thông qua các chính sách mua sắm của họ. Ở những nơi thích hợp, mua sắm của chính phủ cần khuyến khích sự phát triển và sử dụng những sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường.

    Các chính phủ và các tổ chức liên quan khác cần thúc đẩy nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng mà có liên quan tới thiệt hại đối với môi trường để xác định các biện pháp giúp tiêu dùng ngày càng bền vững.

    H. Các biện pháp liên quan tới các lĩnh vực cụ thể

    Trong việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nếu cho phép, các chính phủ cần ưu tiên cho các lĩnh vực được quan tâm đặc biệt về sức khỏe của người tiêu dùng như thức ăn, nước và thuốc chữa bệnh. Cần phê duyệt hoặc duy trì các chính sách về kiểm tra chất lượng sản phẩm, về các phương tiện phân phối an toàn và thích hợp, tiêu chuẩn hóa việc ghi nhãn quốc tế và thông tin, cũng như các chương trình giáo dục nghiên cứu ở các vùng này. Hướng dẫn của chính phủ đối với các lĩnh vực cụ thể cần được phát triển trong khuôn khổ các điều khoản của văn bản này.

    Thực phẩm.

    Khi xây dựng các chính sách và kế hoạch nhà nước về thực phẩm, các chính phủ cần xem xét nhu cầu của tất cả những người tiêu dùng đối với sự an toàn thực phẩm, cần ủng hộ và nếu có thể, chấp nhận các tiêu chuẩn của Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức y tế thế giới của Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Codex Limentarius cả WHO hoặc khi không có những tiêu chuẩn này thì công nhận các tiêu chuẩn về thực phẩm quốc tế đó được công nhận rộng rãi khác.

    Các chính phủ cần đẩy mạnh các chính sách và hoạt động nông nghiệp bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nước, ghi nhận kiến thức truyền thống.

    Nước

    Trong khuôn khổ đề ra cho chương trình cấp nước quốc tế và Thập kỷ vệ sinh, các chính phủ cần xây dựng, duy trì và củng cố các chính sách nhà nước để cải tiến việc cung cấp, phân phối, và chất lượng nước uống. Cần phải quan tâm thích đáng đến việc lựa chọn những mức độ chất lượng và công nghệ phù hợp, đến nhu cầu cho các chương trình giáo dục và tầm quan trọng của việc tham gia của cộng đồng.

    Các chính phủ cần đặt ưu tiên cao cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình liên quan tới việc sử dụng nước, ghi nhận tầm quan trọng của sự phát triển bền vững của nước nói chung và thực tế hạn chế nguồn nước nói riêng.

    Dược phẩm

    Các chính phủ cần phát triển hoặc duy trì các tiêu chuẩn hợp lý, những quy định và các hệ thống điều hành phù hợp để đảm bảo chất lượng và việc sử dụng dược phẩm một cách hợp lý thông qua các chính sách thống nhất của nhà nước về dược phẩm. Những tiêu chuẩn và quy định đó cần đề cập đến việc cung ứng phân phối, sản xuất cấp chứng nhận các hệ thống đăng ký, và việc cung cấp những thông tin tin cậy về dược phẩm. Những tiêu chuẩn và quy định đó cần  đề cập đến việc cung ứng phân phối, sản xuất, cấp chứng nhận các hệ thống đăng ký, và việc cung cấp những thông tin tin cậy về dược phẩm. Trong khi thực hiện, các chính phủ cần chú ý đặc biệt đến công việc và những kiến nghị của Tổ chức y tế thế giới về dược phẩm. Đối với những sản phẩm phù hợp, nên khuyến khích việc sử dụng bản kế hoạch cấp chứng chỉ về chất lượng của các loại dược phẩm đang lưu hành trên thương trường quốc tế và các hệ thống thông tin quốc tế khác của WHO về dược phẩm. Nếu được, cũng cần phải thực hiện những biện pháp đẩy mạnh việc sử dụng những tên gọi quốc tế không độc quyền cho các loại dược phẩm (INNs) do Tổ chức y tế thế giới vạch ra.

    62. Ngoài những lĩnh vực ưu tiên nói ở trên, các chính phủ cần phê chuẩn những biện pháp phù hợp đối với lĩnh vực khác, như thuốc trõ sâu và hóa chất, và nếu được, quy định cả việc sử dụng, sản xuất, và lưu kho của các loại thuốc trên. Để thể hiện sự quan tâm thích đáng đến các thông tin về sức khỏe và môi trường, các chính phủ có thể yêu cầu người sản xuất phải cung cấp thông tin, kể cả việc ghi lại thông tin đó trên nhãn sản phẩm.

    IV. Hợp tác quốc tế

    63. Đặc biệt trong bối cảnh khu vực hoặc tiểu khu vực, các chính phủ cần:

    (a) Phát triển, rà soát, duy trì hoặc củng cố các cơ chế trao đổi thông tin về những chính sách và biện pháp của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng.

    (b) Hợp tác và khuyến khích sự hợp tác trong việc áp dụng các chính sách bảo vệ người tiêu dùng nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong phạm vi những nguồn lực hiện có. Những ví dụ về sự hợp tác như vậy có thể là sự hợp tác trong việc lập ra hay phối hợp sử dụng những trang thiết bị thớ nghiệm, những quy trình thử nghiệm chung, thay đổi những chương trình về thông tin và giáo dục người tiêu dùng, những chương trình tập huấn và phối hợp biên soạn các quy định.

    (c) Hợp tác trong việc cải thiện những điều kiện để cung ứng những sản phẩm thiết yếu cho người tiêu dùng, chú ý cả hai mặt giá cả và chất lượng. Sự hợp tác như vậy cần bao gồm việc phối hợp cung ứng những hàng hóa thiết yếu, trao đổi thông tin về khả năng cung ứng và những thỏa thuận về việc xác định đặc tính của sản phẩm trong địa phương.

    64. Các chính phủ cần phát triển hoặc củng cố các mạng lưới thông tin có liên quan tới các sản phẩm đó và đang bị cấm, thu hồi hoặc thu hẹp phạm vi lưu hành nhằm tạo điều kiện cho các nước nhập khẩu khác tự bảo vệ có hiệu quả tránh những hậu quả tai hại của các sản phẩm đó.

    65. Các chính phủ cần hành động để đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm và những thông tin liên quan tới các sản phẩm đó không thay đổi trong các nước trên thế giới để có thể gây tác hại cho người tiêu dùng.

    66. Để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, các chính phủ, các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp cần hợp tác với nhau để phát triển, chuyển giao và tuyên truyền về các công nghệ có lợi cho môi trường, bao gồm thông qua các hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển, và để tạo ra các cơ chế mới hỗ trợ việc trao đổi giữa tất cả các nước, đặc biệt là đối với và giữa các nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế chuyển đổi.

    67. Các chính phủ và các tổ chức quốc tế, ở những nơi thích hợp, cần thúc đẩy và tạo điều kiện xây dựng năng lực trong lĩnh vực tiêu dùng bền vững, đặc biệt là ở những nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế chuyển đổi. Đặc biệt, các chính phủ cũng cần tạo điều kiện hợp tác giữa các nhóm người tiêu dùng và các tổ chức quần chúng liên quan nhằm mục đích xây và củng cố năng lực trong lĩnh vực này.

    68. Các chính phủ và các cơ quan quốc tế, ở những nơi thích hợp, cần thúc đẩy các chương trình liên quan đến giáo dục và thông tin người tiêu dùng.

    69. Các chính phủ cần hành động để đảm bảo rằng các chính sách và biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện với sự quan tâm đúng mức để chúng không trở ngại và phù hợp với các chế định của thương mại quốc tế.

    Bài này được đăng trên website thongtinphapluatdansu.

    Bạn nào có bài nào của các nước khác nữa không, vui lòng chia sẻ đi ạ!
    Cám ơn nhiều!
     
    Báo quản trị |  
  • #17395   04/08/2008

    bluesea
    bluesea
    Top 500
    Chồi

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2008
    Tổng số bài viết (113)
    Số điểm: 1520
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 8 lần


    Một số Luật bảo vệ người tiêu dùng của Hợp Chủng quốc Hoa kỳ.

    Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.

    Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh - Mỹ (common law system - hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật.

    Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm

    Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

    Theo nguyên tắc “trách nhiệm tuyệt đối”, nhà sản xuất, phân phối hay bán lẻ có thể phải chịu trách nhiệm đối với những thương tật do khuyết tật của sản phẩm gây ra, bất kể đã áp dụng các biện pháp đề phòng. Nói chung, khi nói đến trách nhiệm sản phẩm, người ta phân thành 3 loại khuyết tật: khuyết tật sản xuất (khi sản phẩm sai lệch với thiết kế gốc mặc dù đã thực hiện tất cả những biện pháp cẩn trọng trong quá trình sản xuất và marketing); lỗi thiết kế (khi thiệt hại do sản phẩm gây ra có thể tránh hoặc được giảm nhẹ bằng một mẫu thiết kế hợp lý khác); và lỗi cảnh báo không đầy đủ (khi thiệt hại nhẽ ra có thể tránh hoặc giảm nhẹ bằng việc sử dụng những chỉ dẫn hay cảnh báo phù hợp). Mặc dù đây là những cách thông thường nhất để quyết định có hay không khuyết tật sản phẩm, song luật của các bang có thể khác nhau trong việc quyết định khuyết tật sản phẩm.

    Bồi thường và nộp phạt gần 370 triệu USD do lỗi thiết kế kỹ thuật

    Một bồi thẩm đoàn ở hạt San Diego (Hoa Kỳ) ngày 3/6/2004 đã ra phán quyết buộc một hãng xe hơi Hoa Kỳ phải trả cho một phụ nữ bị tai nạn khi lái xe do hãng này sản xuất số tiền kỷ lục là gần 369 triệu USD, gồm 246 triệu tiền phạt và 122,6 triệu tiền bồi thường.

    Theo luật sư của bên nguyên trong vụ kiện này, một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn thuộc về lỗi kỹ thuật thiết kế xe. Chiếc xe có trọng tâm cao, có khoảng cách giữa bánh xe trước và sau hẹp khiến người lái khó kiểm soát được tay lái trong những lúc quẹo cua gắt.

    Vào tháng 1 năm 2002, trên xa lộ liên bang phía đông San Diego, chủ nhân chiếc xe bị tai nạn này đã tránh một chướng ngại vật trên đường và bị mất kiểm soát tay lái dẫn đến xe bị lật mấy vòng. Khi xe bị lật mui xe đã sụp xuống đè lên người nạn nhân làm bà ta bị liệt nửa người.

    Không chỉ nhà sản xuất, mà các nhà phân phối và bán lẻ những sản phẩm có khuyết tật cũng có thể bị quy trách nhiệm một cách nghiêm khắc. Trong những trường hợp nhất định, các nhà phân phối và bản lẻ có thể chuyển trách nhiệm cho nhà sản xuất. Do vậy, việc soạn thảo hợp đồng và đơn mua hàng một cách cẩn thận có vai trò quan trọng trong vấn đề này. Nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ có thể được giảm nhẹ hoặc thậm chí miễn trách trong một số trường hợp, ví dụ như trong trường hợp khách hàng sử dụng sai hoặc thay đổi sản phẩm.

    Nói chung, theo luật trách nhiệm sản phẩm, “sản phẩm” là một thuật ngữ khá rộng. Tuy nhiên, các dịch vụ đơn thuần không được coi là sản phẩm.

    Công ty nước ngoài có thể phải chịu thẩm phán của tòa án Hoa Kỳ về trách nhiệm sản phẩm ngay cả khi công ty đó rất ít làm ăn trực tiếp tại Hoa Kỳ. Ví dụ, một công ty nước ngoài mặc dù không hề có mối liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ, song nếu chi nhánh của nó phân phối các sản phẩm có khuyết tật tại Hoa Kỳ thì công ty đó vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật.

    Hàng hóa sản xuất ở nước ngoài bị phát hiện có khuyết tật có khả năng gây hại cho người sử dụng sẽ không được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ hoặc phải thu hồi (nếu như đã bán cho người tiêu dùng) để sửa chữa hoặc thay thế miễn phí. Những trường hợp như vậy chắc chắn sẽ gây tổn hại về kinh tế hoặc bị kiện tụng cho người nhập khẩu, phân phối, hoặc bán lẻ. Để tránh những tổn thất này, chắc chắn các nhà nhập khẩu, phân phối hoặc bán lẻ phải rất cẩn thận trong việc lựa chọn nguồn cung cấp.

    Các luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng

    Hoa Kỳ có rất nhiều đạo luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng. Mỗi đạo luật được thực thi và giám sát bởi một cơ quan chính phủ liên bang. Sau đây là một số cơ quan và những đạo luật chính liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng.

    Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ
    Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ (CPSC) là một cơ quan liên bang độc lập được thành lập theo Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSA). Bằng luật này, Quốc hội giao trách nhiệm cho CPSC “bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng”. Không phải tất cả các sản phẩm tiêu dùng đều thuộc thẩm quyền của CPSC, song cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý hơn 15 ngàn loại sản phẩm. Danh mục các sản phẩm này có thể tìm thấy trên trang web của CPSC tại địa chỉ là: www.cpsc.gov/. Trang web này cũng hướng dẫn đầy đủ các yêu cầu của các đạo luật liên quan và cách thử nghiệm sản phẩm để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn qui định. CPSC thực hiện trách nhiệm trên bằng cách:

    - Xây dựng các tiêu chuẩn tự nguyện cho các ngành công nghiệp;

    - Ban hành và thực thi các tiêu chuẩn bắt buộc;

    - Thông báo cho các cơ sở sản xuất biết và hướng dẫn họ thực hiện các yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm thông qua các hình thức như hội thảo hoặc gửi thông báo;

    - Cấm các sản phẩm tiêu dùng nếu các sản phẩm đó không có các tiêu chuẩn có tính khả thi để bảo vệ thích đáng công chúng;

    - Kiểm tra và đưa ra lệnh thu hồi sản phẩm có khuyết tật hoặc yêu cầu những sản phẩm đó được sửa chữa.

    - Tiến hành nghiên cứu về các sản phẩm có thể gây nguy hại;

    - Cung cấp thông tin và hướng dẫn người tiêu dùng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chính quyền bang và địa phương, các tổ chức tư nhân, và bằng cách trả lời các câu hỏi của người tiêu dùng.

    Dưới đây là một số luật liên bang thuộc thẩm quyền thực thi của CPSC. Mặc dù chưa đủ, song qua các luật này, chúng ta có thể hiểu được những chức năng chủ yếu của CPSC cũng như mối liên hệ của cơ quan này đối với việc sản xuất và phân phối sản phẩm tiêu dùng tại Hoa Kỳ.

    Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (Consumer Product Safety Act)

    Theo định nghĩa trong CPSA, các sản phẩm tiêu dùng là những vật phẩm hay các bộ phận của những vật phẩm đó được sản xuất, phân phối hoặc có công dụng để sử dụng lâu dài hoặc tạm thời trong và xung quanh hộ gia đình hay khu cư xá, trường học, nơi vui chơi hay những nơi khác. Những sản phẩm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của CPSA bao gồm máy bay, động cơ và thiết bị máy bay, một số loại tàu và thuyền, mỹ phẩm, dược phẩm, súng đạn, thực phẩm, xe động cơ và thiết bị xe động cơ, các loại thuốc trừ sâu và các sản phẩm thuốc lá.

    CPSC được phép đề ra các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm liên quan đến sự vận hành, thành phần, nội dung, thiết kế, sản xuất, hoàn tất, đóng gói và dán nhãn. Nguyên tắc chung là nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng là đối tượng của quy định này phải phát hành giấy chứng nhận khảng định hàng phù hợp với các tiêu chuẩn qui định và phải dán nhãn trên sản phẩm ghi rõ ngày và nơi sản xuất sản phẩm, tên và địa chỉ của nhà sản xuất, chứng nhận tuân thủ các luật lệ áp dụng và mô tả ngắn gọn các luật lệ đó.

    Hình thức chủ yếu để trừng phạt việc không tuân thủ các quy định của CPSA là từ chối không cho nhập hàng vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, CPSC có thể tiến hành các thủ tục bắt giữ hoặc cảnh báo sản phẩm nếu sản phẩm đó được coi là có thể gây nguy hiểm. Khi CPSC xác định một sản phẩm nguy hiểm, CPSC có thể yêu cầu nhà sản xuất thông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù hợp của sản phẩm đó và yêu cầu nhà sản xuất hoặc phải sửa chữa, thay thế sản phẩm hoặc trả lại tiền cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nhà sản xuất vi phạm luật lệ và có sản phẩm gây tổn thương cho người sử dụng có thể bị phạt về dân sự hay hình sự.

    Cũng cần lưu ý rằng việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm của CPSA không có nghĩa là nhà sản xuất được miễn trách đối với người bị sản phẩm làm tổn thương. Tương tự như vây, các nhà xản xuất vẫn phải chịu trách nhiệm về an toàn sản phẩm đối với những mặt hàng không phải tuân thủ các tiêu chuẩn bắt buộc của CPSC.

    Thu hồi lò sưởi điện

    Ngày 17 tháng 3 năm 2004, CPSC và nhà sản xuất ở Chicago, bang Illinois đã ra thông báo số 04-098 thu hồi 150.000 lò sưởi điện do hãng này sản xuất đã được tiêu thụ ở Hoa Kỳ với giá từ 30 đến 40 USD/chiếc trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 2 năm 2004.

    Mặc dù chưa có trường hợp tai nạn nào liên quan đến sản phẩm này được phản ảnh, song CPSC và Công ty đã quyết định thu hồi sản phẩm sau khi phát hiện các mối nối điện bên trong lò sưởi có thể bị lỏng dẫn đến các bộ phận kim loại của lò sưởi có thể bị nhiễm điện gây nguy hiểm cho người dùng. Người tiêu dùng được khuyến cáo không nên tiếp tục dùng sản phẩm này, và liên hệ với Công ty để được sửa chữa miễn phí hoặc thay thế sản phẩm mới.

    Phạt do không thông báo khuyết tật sản phẩm

    Ngày 7 tháng 6 năm 2001 CPSC đã ra thông báo số 01-167 phạt công ty sản xuất đồ chơi ở Los Angeles 1,1 triệu USD do lỗi không báo cáo về khuyết tật của loại xe đồ chơi có bánh chạy bằng ắc qui. Khuyết tật trong phần điện đã gây cháy, làm bỏng người sử dụng và thiệt hại về vật chất. Sản phẩm này cũng còn có khuyết tật trong hệ thống điều khiển dẫn đến một số xe không dừng lại được và đã đâm vào các vật thể khác gây tai nạn cho người và thiệt hại về vật chất.

     
    Báo quản trị |  
  • #17396   04/08/2008

    bluesea
    bluesea
    Top 500
    Chồi

    Quảng Trị, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2008
    Tổng số bài viết (113)
    Số điểm: 1520
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 8 lần


    Một số Luật bảo vệ người tiêu dùng của Hợp Chủng quốc Hoa kỳ(TT).

    Luật liên bang về các chất nguy hiểm (Federal Hazardous Substances Act)

    Luật liên bang về các chất nguy hiểm do CPSC giám sát thực thi, quy định về việc dán nhãn những sản phẩm độc hại dùng trong gia đình có thể gây thương tích hoặc bệnh tật đáng kể cho người sử dụng khi sử dụng chúng một cách bình thường và hợp lý. Các chất đó bao gồm các chất độc, chất ăn mòn, chất dễ cháy hoặc nổ, chất gây khó chịu cho người, hoặc chất gây nhậy cảm mạnh. Ngoài các thông tin hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng, nhãn hàng còn phải hướng dẫn các biện pháp sơ cứu nếu xẩy ra tai nạn.

    Luật này cũng cho phép CPSC cấm những sản phẩm quá nguy hiểm hoặc độc hại đến mức mà việc thực hiện đầy đủ những qui định về nhãn hàng cũng không bảo vệ được thích đáng người tiêu dùng, trong đó có các loại đồ chơi trẻ em có chứa chất nguy hiểm hoặc gây nguy hiểm do điện, nhiệt, hoặc cơ khí.

    Để xác minh việc tuân thủ các quy định của Luật liên bang về các chất nguy hiểm, CPSC có thể điều tra các địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói, kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu. CPSC cũng có thể kiểm tra các phương tiện dùng để vận chuyển hoặc cất giữ các chất nguy hiểm. Các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu về nhãn hàng của Luật liên bang về các chất nguy hiểm sẽ không được nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Nếu sau khi dán lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu, hàng sẽ phải tái xuất nếu không sẽ bị tiêu hủy.

    Luật về vải dễ cháy (Flammable Fabrics Act)

    CPSC cũng giám sát thực thi Luật về vải dễ cháy. Luật này nghiêm cấm việc nhập khẩu, sản xuất, vận chuyển hay bán các loại quần áo, đồ trang trí nội thất, vải hay các chất liệu liên quan không phù hợp với các tiêu chuẩn phòng cháy do CPSC đề ra. Việc không tuân thủ đạo luật về vải dễ cháy có thể dẫn đến việc tịch thu hay sung công sản phẩm. Ngoài ra, CPSC có thể áp dụng các hình phạt dân sự hoặc hình sự ở mức nhẹ nếu cố ý vi phạm các quy định trong luật về vải dễ cháy.

    Luật về an toàn tủ lạnh gia đình (Household Refrigerator Safety Act)

    CPSC cũng giám sát thực hiện Luật về an toàn tủ lạnh gia đình. Theo đó, các tủ lạnh gia đình được vận chuyển trong lưu thông thương mại giữa các bang phải có một thiết bị cho phép tủ lạnh được mở từ bên trong. Vi phạm luật này có thể dẫn tới phạt dân sự hay hình sự hoặc cả hai.

    Luật về đóng gói phòng ngộ độc (Poison Prevention Packaging Act)

    Luật về đóng gói phòng ngộ độc ban hành năm 1970 đưa ra các quy định về dán nhãn và đóng gói những sản phẩm gia dụng có nguy cơ gây tai nạn ngộ độc hay thương tổn nghiêm trọng cho trẻ em và người già. Những sản phẩm thuộc diện điều chỉnh của luật này phải được đóng gói sao cho trẻ em dưới 5 tuổi trong khoảng thời gian hợp lý khó có thể mở hoặc tiếp cận một khối lượng có thể gây nguy hiểm, đồng thời không được khó cho những người lớn bình thường. CPSC có những qui định cụ thể về tiêu chuẩn đóng gói đối với những hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của luật này.

    Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm
    Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) có nhiệm vụ bảo đảm thực phẩm an toàn và không có độc tố, mỹ phẩm không gây hại, thuốc men, các thiết bị y tế, và các sản phẩm tiêu dùng có phát phóng xạ (như lò vi sóng) an toàn và hiệu quả. Cơ quan này cũng kiểm tra thức ăn cho các vật nuôi trong gia đình và tại các nông trường và quy định các loại dược phẩm dùng cho các súc vật này. FDA thực thi Đạo luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm (Food, Drug and Cosmetic Act - FDCA) và một vài luật khác về y tế cộng đồng. Hàng năm, cơ quan này kiểm tra việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ và bán hàng trị giá khoảng 1 nghìn tỷ USD.

    Luật về thực phẩm, dược phẩm, và mỹ phẩm

    Luật này không cho phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ bất kỳ sản phẩm nào nếu sản phẩm đó (1) được sản xuất, chế biến hay đóng gói trong những điều kiện không vệ sinh; (2) bị cấm hay hạn chế bán ở nước mà sản phẩm đó được sản xuất hay xuất khẩu; (3) chưa được chấp nhận là một loại thuốc mới; hoặc (4) bị pha trộn hoặc dán nhãn sai. Mặc dù FDA có thể không đưa ra quyết định về việc hàng có đảm bảo các quy định của Đạo luật FDCA hay không trước khi giám định hàng tại cảng đến, song các công ty có thể gửi hàng mẫu tới FDA để FDA kiểm tra xem liệu sản phẩm đó có đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định hay không. Các sản phẩm không tuân theo các quy định của FDA sẽ không được nhập cảng, bị tạm giữ và hủy nếu sản phẩm đó không được tái xuất. Ngoài ra, các hình phạt hình sự có thể được áp dụng.

    Luật chống khủng bố sinh học

    Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002 (Public Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002), gọi tắt là Luật Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act) được Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush ký ngày 12/6/2002 nhằm tiến hành và áp dụng các biện pháp cần thiết để đối phó với nguy cơ khủng bố nhằm vào nguồn cung thực phẩm cho người và động vật tại Hoa Kỳ.

    Theo Luật này, các sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho người và động vật tại Hoa Kỳ sử dụng phải đăng ký cơ sở với FDA. Trong trường hợp có nguy cơ hoặc xảy ra khủng bố sinh học hoặc phát sinh ốm đau do thực phẩm gây ra, các thông tin đăng ký cơ sở sẽ giúp cho FDA xác định địa điểm và nguồn gốc sự kiện và thông báo nhanh chóng đến các cơ sở có thể bị ảnh hưởng

    Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA)

    Nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ môi trường thiên nhiên: không khí, nước và đất.

    Có một số sản phẩm nhập khẩu nằm dưới sự kiểm soát của EPA. Cơ quan này giám sát thực thi Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Control Act) và Luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường (Environmental Pesticide Control Act).

    Luật kiểm soát chất độc

    Luật này hạn chế việc nhập khẩu các chất có nguy cơ gây nguy hiểm không hợp lý đối với sức khỏe hay môi trường. Luật này xác lập một chương trình quốc gia để bảo vệ con người và môi trường tránh những nguy hại do chất độc gây ra. Luật này cho phép từ chối việc nhập vào Hoa Kỳ bất kỳ chất nào vi phạm đạo luật này. Nếu nhà nhập khẩu không tái xuất, chất độc vi phạm luật có thể bị hủy hay thu giữ, và nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại và phí tổn từ việc hủy chất độc đó. Vi phạm đạo luật kiểm soát chất độc có thể dẫn đến phạt dân sự trên cơ sở thiệt hại được đánh giá hàng ngày hoặc các hình phạt hình sự nếu cố tình vi phạm.

    Luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường

    Luật này quy định các thủ tục dán nhãn và đóng gói đối với các loại thuốc trừ sâu. Khi nhập khẩu thuốc trừ sâu, người nhập khẩu phải thông báo và gửi mẫu cho Cơ quan bảo vệ môi trường. Hàng bị pha tạp, dán nhãn sai hay vi phạm các quy định khác của luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường sẽ không được phép nhập vào Hoa Kỳ. Vi phạm luật này có thể bị phạt dân sự hoặc phạt hình sự nếu cố tình vi phạm.

    Cục quản lý rượu, thuốc lá, và súng cầm tay

    Cục quản lý rượu, thuốc lá, và súng cầm tay (ATF) là một cơ quan thực thi pháp luật nằm trong Bộ Tài chính Hoa Kỳ có trách nhiệm giảm tội phạm bạo lực, thu ngân sách, và bảo vệ dân chúng. ATF thực thi các luật và quy định liên bang liên quan đến rượu, thuốc lá, các loại súng cầm tay, chất nổ và chất cháy.

    Việc bán hàng, quảng cáo và dán nhãn các đồ uống có cồn (rượu mùi, rượu vang…) được điều chỉnh bởi Luật quản lý rượu liên bang (Federal Acohol Administration Act) do Bộ trưởng Bộ Tài chính giám sát. Các vi phạm được đánh giá hàng ngày và có thể bị phạt dân sự. Các bang cũng có nhiều điều luật riêng đối với những đồ uống này.

    ủy ban thương mại liên bang (FTC)

    FTC giám sát thi hành nhiều luật bảo vệ người tiêu dùng và luật chống độc quyền của liên bang. Vai trò của FTC trong việc chống độc quyền là điều tra các chứng cớ về sự độc quyền trên thị trường, trong đó có việc định giá mang tính cưỡng ép. Các luật chống độc quyền về cơ bản là để nhằm kiểm soát việc thủ tiêu cạnh tranh, trong đó có thỏa thuận hạn chế mua bán. FTC tìm cách đảm bảo thị trường trong nước vận hành một cách hiệu quả và có tính cạnh tranh, không bị những hạn chế không chính đáng. FTC thúc đẩy sự vận hành trôi chảy của thị trường bằng cách loại bỏ những hành vi không công bằng hay có tính chất lừa đảo. Nói tóm lại, các nỗ lực của FTC trong vấn đề chống độc quyền là để ngăn các hành động đe dọa đến cơ hội được lựa chọn của người tiêu dùng.

    FTC có trách nhiệm giám sát thi hành nhiều luật về dán nhãn để bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có Luật về dán nhãn các sản phẩm len (Wool Products Labelling Act), Luật về dán nhãn các sản phẩm từ da lông thú (Fur Products Labelling Act) và Luật phân biệt các sản phẩm sợi dệt (Textile Fiber Products Indentification Act). Nói chung, những luật này quy định những nguyên tắc cụ thể cho việc dán nhãn sản phẩm. FTC cũng giám sát việc dán nhãn thuốc lá theo Luật về quảng cáo và dán nhãn thuốc lá liên bang (Federal Cigarette Labelling and Advertising Act). Luật này quy định các nhà sản xuất, đóng gói và nhập khẩu phải báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân dân các thành phần của thuốc lá.

    Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (DOT) và Cục an toàn giao thông đường cao tốc quốc gia (NHTSA)

    Bộ trưởng giao thông vận tải ban hành các tiêu chuẩn an toàn cho việc nhập khẩu các loại xe và thiết bị có động cơ. Tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn là điều kiện tiên quyết cho việc nhập khẩu các loại xe có động cơ vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, luật liên bang đặt trách nhiệm cho các nhà sản xuất phải bồi thường những vi phạm về tiêu chuẩn an toàn cũng như những khuyết tật liên quan đến an toàn được phát hiện sau khi nhập khẩu.

    Các loại xe cộ khác như nhà và thuyền di động được điều chỉnh bởi Luật tiêu chuẩn an toàn và xây dựng nhà di động quốc gia và Subtitle II (Vessels and Seamen) thuộc Tille 46 của U.S. Code.

    Cục an toàn giao thông đường cao tốc quốc gia (NHTSA) thuộc Bộ Giao thông vận tải Hoa Kỳ, thực hiện các chương trình an toàn theo Luật năm 1966 về an toàn xe có động cơ và giao thông quốc gia và Luật năm 1966 về an toàn trên đường cao tốc. NHTSA cũng thực hiện các chương trình dành cho người tiêu dùng theo Luật năm 1972 về tiết kiệm chi phí và thông tin về xe có động cơ.

    An toàn xe hơi ở Hoa Kỳ

    Kể từ năm 1960 đến nay, ở Hoa Kỳ đã có trên 40 nghìn vụ (riêng giai đoạn 2000- 2003 là 4.455 vụ) các hãng sản xuất ô tô phải thu hồi sản phẩmcủa mình để thay thế các bộ phận có khuyết tật không đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

    Bộ Nông nghiệp

    Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ giám sát thực thi các quy định về kiểm dịch đối với việc nhập khẩu thực vật và các sản phẩm thực vật, vật nuôi, thịt và gia cầm, các sản phẩm sản xuất từ động vật, trong đó có lông chim và da động vật sống. Các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu phải tuân theo các tiêu chuẩn về cấp, kích cỡ, chất lượng và độ chín. Nhập khẩu các loại chim và động vật sống được kiểm soát rất chặt chẽ và phải tuân theo các quy định về kiểm dịch. Bất kỳ loại chim hay động vật sống nào cũng là đối tượng của Luật về các loài có nguy cơ diệt chủng (Endangered Species Law) và các luật liên quan đến tính hợp pháp của việc bắt, giữ hoặc xuất khẩu chim hoặc động vật.

    Luật về bảo đảm bảo hành cho người tiêu dùng

    Các công ty quan tâm đến kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết Luật bảo hành Magnuson-Moss (MMWA). Ngoài những luật về bảo hành cho người tiêu dùng ở các bang, luật liên bang này được ban hành nhằm làm cho dễ hiểu hơn và tăng thêm trách nhiệm bảo hành hàng tiêu dùng. Theo luật này, hàng tiêu dùng được định nghĩa là những tài sản cá nhân hữu hình được lưu thông trong thương mại và thông thường được dùng cho cá nhân, gia đình hay hộ gia đình. Bất kỳ người tiêu dùng nào bị thiệt hại do việc người bảo hành không thực hiện nghĩa vụ bảo hành của mình có thể khởi kiện tại tòa án bang hay liên bang.

    Ngoại lệ đối với hàng hóa quá cảnh

    Những sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ để tái xuất không phải là đối tượng của các luật bảo vệ người tiêu dùng của nước này. Tuy nhiên, những sản phẩm đó phải được dán nhãn là hàng tạm nhập để tái xuất và không có nguy cơ gây thương tổn đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ.

    Luật các bang bảo vệ người tiêu dùng

    Các doanh nghiệp cũng cần biết rằng sản phẩm của mình có thể là đối tượng của rất nhiều luật và quy định của bang mà trong một số trường hợp có thể còn khắt khe hơn các quy định tương ứng của luật liên bang. Trước khi đưa một sản phẩm nào đó vào một bang cụ thể, việc xem xét cẩn thận các luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng của bang đó là một việc làm rất cần thiết.

                                                                                (Từ trang thongtinphapluatdansu)

     
    Báo quản trị |  
  • #17438   27/01/2009

    buivuha
    buivuha

    Sơ sinh

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:09/06/2008
    Tổng số bài viết (25)
    Số điểm: 185
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Quy định xử lý vi phạm hành chính của các nước khác như thế nào?

    Chào các bạn! $0Tôi muốn tìm hiểu các quy định về xử lý vi phạm hành chính của các nước khác trên thế giới được quy định như thế nào? Điểm giống và khác so với xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam ?$0 $0Bạn nào biết nói giúp tôi với. Cảm ơn các bạn !$0
     
    Báo quản trị |  
  • #17439   10/01/2009

    BaoHacTu
    BaoHacTu
    Top 500
    Mầm

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2008
    Tổng số bài viết (254)
    Số điểm: 915
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 17 lần


    Hì, Nếu bạn giỏi tiếng anh thì có thể xem tại các link bên dưới trực tiếp nhé! Còn ko thì nhờ Google dịch hộ cũng có thể mở rộng kiến thức đó.
    - Của liên bang Nga
    - Của Trung Quốc
    - Của Texas
     
    Báo quản trị |  
  • #17440   10/01/2009

    BaoHacTu
    BaoHacTu
    Top 500
    Mầm

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2008
    Tổng số bài viết (254)
    Số điểm: 915
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 17 lần


    #ccc" align="center">

    Luật Vi phạm hành chính liên quan đến giao thông của LB Nga:  lái xe vào phần đường của người đi bộ bị phạt 2.000 rúp (80 USD), nói chuyện điện thoại di động không có thiết bị hỗ trợ trong lúc lái xe bị phạt 300 rúp (12 USD) cho lần vi phạm đầu tiên. Lái xe đi sai làn đường có thể bị treo giấy phép lái xe tới 6 tháng. 

    Từ ngày 1/1/2008, tiền phạt cho lỗi vượt đèn đỏ tăng lên 700 rúp (28 USD) so với mức 100 rúp hiện nay; lỗi chạy quá tốc độ 60 km/giờ bị phạt tới 2.500 rúp (100 USD) và còn bị treo giấy phép lái xe trong khoảng thời gian nhất định; không cài dây an toàn khi lái xe cũng bị phạt tới 500 rúp (20 USD) so với 100 rúp trước đây.

    Hình phạt nặng nhất bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2008 nhằm vào những lái xe từ chối thử máu, lái trong tình trạng say rượu hoặc đang bị treo giấy phép lái xe. Những lỗi vi phạm này ngoài bị phạt tiền còn bị bỏ tù 15 ngày. Phụ nữ mang thai, trẻ em, người tàn tật lái xe sẽ bị phạt tới 5.000 rúp (200 USD)…

    Luật Mỹ: Hút thuốc lá ở nơi công cộng (công sở, nhà hàng…) cũng bị cấm tại tất cả các bang, thậm chí các sân bay của Mỹ cũng không hề có phòng hút thuốc như các sân bay khác ở châu Âu hay châu Á. Hầu hết các khách sạn cũng không cho phép hút thuốc trong phòng, nhiều khách sạn đề rõ mức phạt lên tới 250USD vi phạm, họ gọi đó là phí làm sạch môi trường (Clean fee). luật an ninh nội địa của Mỹ ghi rõ “phạt 5 năm tù và 250.000 USD nếu mang súng hoặc dao lên máy bay” bất kể vô tình hay cố ý.

    (Nguồn: lượm lặt)

     
    Báo quản trị |  
  • #9869   19/01/2010

    thanhquan
    thanhquan

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/03/2009
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 10
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Trọng tài và Toà án

    Khi có tranh chấp hợp đồng thì vụ việc có thể đưa ra giải quyết thông qua trọng tài hoặc toà án tuỳ theo sự thoả thuận trong họp đồng của các bên.
    Vậy xin giải thích giúp: đưa vụ việc ra giải quyết thông qua trọng tài hay toà án tốt và thuận tiện hơn, ưu và nhược điểm.
    Xin cảm ơn .

     
    Báo quản trị |  
  • #9870   19/01/2010

    TRITHONGMINHNHANTAO
    TRITHONGMINHNHANTAO
    Top 500


    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (184)
    Số điểm: 1715
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 9 lần


    #ccc" align="justify">Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu!

    #ccc" align="justify">Các bài viết không dấu sẽ bị xem là bài viết vi phạm!
    Bài

    #ccc" align="justify">#2d3f52; FONT-FAMILY: Verdana">Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ.

    Như vậy, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể đưa vụ việc ra toà án hoặc trọng tài để giải quyết. Hai con đường này có sự khác biệt cơ bản, tuy kết quả cuối cùng đều có thể được thực thi bằng cơ quan thi hành án.

    Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh nước CHXHCN Việt Nam quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử theo trình tự Tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng như vậy, đương nhiên là phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án được tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ.

    Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, chỉ nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn. Thủ tục giải quyết có nhiều mặt ngược với tố tụng toà án.

    Ưu, nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với giải quyết tại toà án

    Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có những ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp tại toà án. Những ưu điểm đó là:

    - Đề cao ý chỉ tự do thoả thuận của các bên tranh chấp;

    - Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có nhiều công đoạn tố tụng, nhanh, gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên có liên quan;

    - Nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó, có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh;

    - Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng;

    - Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp, có chuyên môn sâu và kinh nghiệm giải quyết đối với lĩnh vực của vụ tranh chấp;

    - Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của toà án;

    - Tố tụng trọng tài không bị ràng buộc về mặt lãnh thổ, nghĩa là các bên muốn chọn trung tâm trọng tài nào cũng được, bất kể địa chỉ của họ ở đâu;

    - Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án;

    - Quyết định giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài phải được các bên thi hành nhanh chóng, trong thời hạn 30 ngày. Quá hạn đó, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh, nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành quyết định trọng tài;

    - Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện;

    - Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của toà án trên các mặt sau: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài.

    - Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng.

    - Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạt cảm. Trong khi đó, toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”.

    Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế qua con đường trọng tài cũng có những nhược điểm so với tranh chấp tại toà án kinh tế. Đó là:

    - Cơ quan trọng tài kinh tế không có quyền ra lệnh kê biên khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp. Việc kê biên chỉ được thực hiện thông qua toà án trên cơ sở yêu cầu của trọng tài. Quá trình kê biên theo trình tự này có thể kéo dài, không đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời để phòng ngừa việc tẩu tán tài sản;

    - Phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm, nhưng bên bị đơn có thể yêu cầu toà án xem xét lại. Như vậy, phán quyết của trọng tài nhiều lúc làm cho bên “thắng kiện” không yên tâm.

    Thực trạng về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và nguyên nhân

    Nếu so sánh giữa ưu và nhược điểm thì việc giải quyết tranh chấp kinh tế qua trọng tài là con đường tốt hơn đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, số lượng giải quyết tranh chấp qua trọng tài kinh tế hết sức nhỏ. Tại thành phố Hà Nội, tranh chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài năm 2005, chỉ có 13 vụ, năm 2004, khoảng 10 vụ. ở TP Hồ Chí Minh - nơi có nền kinh tế sôi động, số lượng doanh nghiệp chiếm phần lớn so với cả nước, tuy nhiên, số vụ đưa ra giải quyết bằng trọng tài chiếm một tỷ lệ nhỏ so với số lượng tranh chấp xảy ra trong đời sống thương mại ở nước ta. Theo chúng tôi, có ba nguyên nhân cơ bản sau đây:

    - Ý thức về pháp luật của các doanh nghiệp và việc kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt làm cho các chủ thể trong quan hệ đều vi phạm hợp đồng. Trong một giao dịch, bên này vi phạm việc này, bên kia sai việc khác; hoặc hôm nay, bên này sai, thì ngày mai, bên kia sai; người ta tìm cách thương thuyết “tay đôi” để giải quyết ổn thoả, nhằm giữ quan hệ làm ăn lâu dài. Vì lẽ đó, việc đưa nhau ra xử lý bằng trọng tài hoặc toà án các bên đều không muốn. Theo số liệu của Phòng kinh tế thương mại Việt Nam, giải quyết tranh chấp kinh tế qua toà án và trọng tài chỉ chiếm khoảng 90% số lượng các vụ tranh chấp trong thực tế.

    - Nhiều doanh nghiệp, cá nhân không am hiểu những vấn đề liên quan đến tố tụng thông qua con đường trọng tài thương mại. Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, ở nước ta có trọng tài kinh tế nhà nước - cơ quan này quản lý hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhà nước. Nhưng việc đó đã bãi bỏ lâu. Từ đó, các doanh nghiệp và nhân dân chỉ quen tranh chấp bằng con đường tố tụng tại toà kinh tế. Nghiên cứu cho thấy, hầu hết các hợp đồng kinh tế chỉ có quy định hai biện pháp tranh chấp là tự thương lượng giải quyết, nếu không giải quyết được thì đưa ra giải quyết tại toà án có thẩm quyền. Trong một ngàn hợp đồng, chỉ có một vài hợp đồng chế định việc tranh chấp tại trọng tài kinh tế. Như vậy, phương pháp tự xử và xử lý tranh chấp tại toà đã ăn sâu vào tiềm thức của các doanh nghiệp.

    - Trọng tài kinh tế là tổ chức phi Chính phủ. Chúng ta sống trong hệ thống chính trị mà người dân nghĩ rằng chỉ có các quyết định của Đảng và Nhà nước mới có hiệu lực và tính khả thi. Với chiều dài của lịch sử, với thực tiễn cuộc sống đã làm cho dân ta nhận thức một cách không đầy đủ về xã hội dân sự. Đây là nhận thức về bề nổi, nhưng lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của tổ chức phi Chính phủ. Thực trạng này, phần lớn cũng do các yếu tố pháp lý gây nên. Pháp lệnh về trọng tài vẫn còn có những hạn chế, làm giảm hiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài. Một phán quyết của trọng tài dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết định công nhận và cho thi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành án. Quy định này, làm tăng thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng trọng tài để phân xử tranh chấp.

    - Tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài. Thực tiễn là như vậy, nhưng mạng lưới trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt. Đến thời điểm hiện nay, chúng ta chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các trung tâm trọng tài chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh chấp. Nhưng các vụ tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năng phát triển công nghệ, mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TRITHONGMINHNHANTAO vì bài viết hữu ích
    khanh270375 (30/09/2014)
  • #11680   20/09/2009

    anhuy01011981
    anhuy01011981

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/12/2008
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bằng cấp giả, thực trạng nhức nhối!

    Cho em hỏi hiện nay rất nhiều người sử dụng bằng cấp và chứng chỉ giả rất phổ biến. Vậy những người sử dụng bằng cấp giả đó khi phát hiện thì sẽ bị xử lý ra sao theo pháp luật Việt Nam?

     

    Cập nhật bởi navelvu ngày 18/03/2010 05:04:45 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #12603   28/02/2009

    maixuanhuong
    maixuanhuong
    Top 150
    Male


    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/07/2008
    Tổng số bài viết (466)
    Số điểm: 2097
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 9 lần


    Chiến dịch giờ trái đất của WWF và Việt Nam

    Tôi cũng mới nghe nói đến tổ chức này, WWF là một tổ chức về bảo vệ môi trường đã phát động chiến dịch "tắt đèn" này để thu hút sự chú ý của thế giới trong việc bảo vệ môi trường. Năm nay Việt Nam tham gia lần đầu tiên với khẩu hiệu: Tắt đèn để bật tương lai theo http://www.vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/Thien-nhien/2009/02/3BA0B7C3/

    Nhưng tôi không hiểu Việt Nam được lợi gì khi tham gia chiến dịch này?
    Tắt đèn mà chỉ có 1h thôi sao, chuyện ấy có cần thiết đáng bàn ở Việt Nam không, có cần thiết phải phát động hay không?
    Tắt đèn để bật tương lai ư! Khẩu hiệu này có ổn không nhỉ?
    Mong các thành viên cho ý kiến!
     
    Báo quản trị |  
  • #12604   28/02/2009

    ntdieu
    ntdieu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:11/02/2009
    Tổng số bài viết (13539)
    Số điểm: 93336
    Cảm ơn: 3057
    Được cảm ơn 4692 lần
    SMod

    Thưa LS Mai Xuân Hương, đây là chiến dịch được tổ chức để nâng cao nhận thức của con người trước tình trạng nóng dần lên của khí quyển. Theo tôi hiểu mục đích của chiến dịch này là thu hút được ít nhất 1 tỷ người tham gia và hiểu được tầm quan trọng của việc chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Các nhà tổ chức không đặt ra mục tiêu "tiết kiệm được bao nhiêu kWh trong khoảng thời gian 1 h này".

    Việt Nam tham gia không phải vì chúng ta có lợi gì từ chiến dịch này, mà để tỏ rõ cho thế giới biết chúng ta không đứng ngoài cuộc trong việc bảo vệ môi trường sống của nhân loại. Global warming là một nguy cơ lớn đối với khí hậu trên trái đất, có thể dẫn tới nhiều thiên tai thảm họa khác nhau như hạn hán, lụt lội, bão lớn, sóng thần, vv.

    Để tham gia chiến dịch này chỉ cần tắt đèn và các thiết bị điện không cần thiết khác vào 8h30 - 9h30 tối ngày 28/03/2009. Một hành động nhỏ mang ý nghĩa lớn.
     
    Báo quản trị |  
  • #17441   11/01/2009

    Lucy_3112
    Lucy_3112
    Top 500
    Mầm

    Vĩnh Phúc, Việt Nam
    Tham gia:19/09/2008
    Tổng số bài viết (253)
    Số điểm: 807
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 11 lần


    BaoHacTu viết:
    Hì, Nếu bạn giỏi tiếng anh thì có thể xem tại các link bên dưới trực tiếp nhé! Còn ko thì nhờ Google dịch hộ cũng có thể mở rộng kiến thức đó.
    - Của liên bang Nga
    - Của Trung Quốc
    - Của Texas


    Baohactu ơi, tại sao Lucy không vào được các link của bạn gửi nhỉ?
     
    Báo quản trị |  
  • #17442   27/01/2009

    BaoHacTu
    BaoHacTu
    Top 500
    Mầm

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2008
    Tổng số bài viết (254)
    Số điểm: 915
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 17 lần


    [quote=Lucy_3112
    Baohactu ơi, tại sao Lucy không vào được các link của bạn gửi nhỉ? [/quote]

     Link chạy mà Lucy, bạn thử click con chuột vào lại xem! Nếu ko được thì mình chẳng bit tại sao?!
     
    Báo quản trị |  
  • #17443   27/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Tui vô thoải mái mà, Lucy? Đây nè:

    Của liên bang Nga


    Code Of Administrative Offences Of The Russian Federation

    NO. 195-FZ OF DECEMBER 30, 2001
    (with the Amendments and Additions of April 25, December 31, 2002, June 30, July 4, November 11, December 8, 2003, April 25, 2002)
    Adopted by the State Duma on December 20, 2001
    Endorsed by the Council of Federation on December 26, 2001

    Section I
    Chapter 1
    Aims and Principles of the Legislation on Administrative Offences
    Chapter 2
    Administrative Offence and Administrative Responsibility
    Chapter 3
    Administrative Penalty
    Chapter 4
    Imposition of an Administrative Penalty

    Chapter 3. Administrative Penalty

    ..........
     
    Báo quản trị |  
  • #11681   04/12/2008

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Tôi đã kiểm tra lại thì thấy rằng bạn là thành viên mới (đăng kí tham gia LawSoft từ 4/12) và ngay trong ngày, bạn đã 3 lần gửi 3 chủ đề
    1-VAN DE VE HOC CONG AN 
    2-VAN DE VE NGUOI SU DUNG BANG CAP GIA 
    3-Vấn đề bằng cấp giả! 
     
    và cả 3 lần đó đều vi phạm Thỏa ước sử dụng. Tuy vậy, tôi chắc chắn rằng bạn đang gặp khó khăn về sử dụng tiếng Việt trên diễn đàn. 

    Bạn hãy thử áp dụng kinh nghiệm đã hướng dẫn tại: 

    Hướng dẫn thành viên viết bài trên Lawsoft

    Chúc bạn thành công!!!!
     
    Báo quản trị |  
  • #11682   30/12/2008

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Câu hỏi đã được sửa lại rồi, sao không có ai trả lời nhỉ?
     
    Báo quản trị |  
  • #11683   03/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Chờ mãi hổng có ai trả lời, tôi đành phải cố thử vậy!!!
    -------------------------------------------------------------
    Thưa bạn, từ lâu pháp luật Việt Nam đã có những qui định để xử lí những người sử dụng bằng cấp và chứng chỉ giả.

    Từ ngày 23/5/1993 Chính phủ đã có Nghị định số 25/CP. Tuy nhiên, đến tận năm 2000, việc xử lí những người sử dụng bằng cấp và chứng chỉ giả vẫn lúng túng như gà mắc tóc. Có ý kiến đề nghị những người được tuyển dụng, xét tuyển từ sau khi ban hành Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993, nếu sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp đều bị xử lý buộc thôi việc. Ý kiến khác cho rằng chỉ nên buộc thôi việc những trường hợp sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp để xét tuyển cán bộ, công chức từ sau khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành (1/5/1998). Vậy là nguời ta kết luận: "Khó xử lý cán bộ dùng bằng giả vì thiếu thông tư". Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ được giao xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc xử lý cán bộ, công chức sử dụng văn bằng, chứng chỉ bất hợp pháp. Quá trình xây dựng bắt đầu từ 4/12/2000. Kể cả sau đó có thông tư cũng chả giải quyết được gì. Tình trạng sử dụng bằng giả càng nghiêm trọng hơn. 

    Ngày 17/3/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 35/NĐ-CP. Báo chí ngày đó đã reo lên vui mừng: 

    Cán bộ, công chức sử dụng văn bằng giả sẽ bị buộc thôi việc

     

    Vừa qua, ngày 17-3-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2005/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm các quy định của pháp luật trong đó có nêu rõ sẽ buộc thôi việc đối với những cán bộ, công chức (CBCC) sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước. Có thể nói, buộc thôi việc là biện pháp xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhất từ trước tới nay được Chính phủ áp dụng để xử lý đối với CBCC sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả, quy định này được nhân dân rất đồng tình ủng hộ.

     

     

    Đã từ lâu, tình trạng CBCC sử dụng văn bằng giả luôn là nỗi nhức nhối cho xã hội. Bằng giả được sử dụng tràn lan trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề khác nhau từ bằng tốt nghiệp phổ thông trung học đến bằng tốt nghiệp đại học.  Nhiều người đã dùng văn bằng, chứng chỉ giả để được tuyển dụng vào cơ quan Nhà nước hoặc nguy hiểm hơn, những người sau khi dùng bằng giả để chui vào đội ngũ CBCC còn tiếp tục dùng thủ đoạn để leo lên những vị trí cao hơn thậm chí là những vị trí lãnh đạo trong các cơ quan Nhà nước. Đây chính là những con sâu bỏ rầu nồi canh, những người sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả không chỉ tự huỷ hoại đạo đức, tư cách mình mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của cả đội ngũ CBCC. Nạn sử dụng bằng giả và mức độ nghiêm trọng của nó đã được thể hiện bằng những con số đáng báo động mà khi đọc lên người ta không khỏi giật mình. Theo số liệu của Bộ Giáo dục - Đào tạo, từ tháng 6-2000 đến tháng 12-2004, qua thanh tra, kiểm tra, cả nước đã phát hiện được 1,28 triệu  văn bằng, chứng chỉ bất hợp pháp, trong đó, số CBCC sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả là 2.057 người. Trong lúc hàng nghìn CBCC sử dụng văn bằng chứng chỉ giả này chưa bị vạch mặt chỉ  tên họ đã làm thiệt hại về vật chất đồng thời làm suy yếu năng lực của đội ngũ CBCC. Con số này đem so với hàng nghìn sinh viên miệt mài học tập 4, 5 năm trên giảng đường để rồi khi ra trường lại không có việc làm, chất xám không được sử dụng đúng chỗ thì mới thấy thật xót xa biết bao.

    Lâu nay, việc xử lý CBCC  dùng văn bằng giả vẫn chưa triệt để, chế tài xử lý chưa nghiêm, chỉ mang tính chất răn đe, chưa kiên quyết. Qua các đợt thanh, kiểm tra, việc phát hiện văn bằng giả thì nhiều nhưng xử lý lại ít. Mức độ xử lý cũng nhẹ, giơ cao đánh khẽ. Nguyên nhân của tình trạng trên rất nhiều, một phần do vì nể anh em cán bộ mình nhưng nguyên nhân chính vẫn là thiếu chế tài để xử lý. Nay chế tài đã được quy định rõ trong một văn bản pháp lý cấp Chính phủ, vấn đề là các địa phương khi phát hiện sai phạm có nghiêm túc thực hiện theo đúng tinh thần của Nghị định hay không? Việc ban hành Nghị định về xử lý CBCC vi phạm các quy định của pháp luật đặc biệt là những chế tài nghiêm khắc đối với CBCC sử dụng văn bằng không hợp pháp là cần thiết, đúng đắn và kịp thời, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao năng lực, đạo đức của đội ngũ CBCC. /.

                                                            Thu Huyền

    Sử dụng văn bằng chứng chỉ giả để đủ điều kiện nhập học chỉ là một phần nhỏ của thực trạng này. Đáng lo ngại hơn rất nhiều là những trường hợp sử dụng văn bằng chứng chỉ giả "trình độ cao" như bằng tốt nghiệp ĐH, CĐ, các chứng chỉ ngoại ngữ… để được tuyển dụng, nâng bậc, nâng lương, đạt chuẩn trình độ cán bộ…

    Những trường hợp này sẽ bị xử lý theo Nghị định 35 nói trên của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. Nghị định có qui định xử lý những trường hợp sử dụng văn bằng chứng chỉ bất hợp pháp rất nghiêm khắc, từ mức cảnh cáo đến buộc thôi việc. Nếu là cán bộ công chức giữ chức vụ có thể bị cách chức.

    Thế nhưng, nếu các bạn để ý thì thấy tình trạng sử dụng bằng cấp chúng chỉ giả vẫn ngày càng công khai hơn và việc xử lí thì cứ như chuyện đùa!

    >> Chủ tịch Công đoàn Công ty Cao su dùng nhiều bằng giả, đó là ông Nguyễn Việt Hùng- Chủ tich Công đoàn Cty Cao su Hà Tĩnh. Chính ông đã có tường trình thừa nhận: “Việc làm của tôi (sử dụng bằng giả) là hoàn toàn sai trái, không đúng với lương tâm, trách nhiệm và đạo đức của người cán bộ. Tôi xin thành thật nhận lỗi và xin chịu mọi hình thức kỷ luật do bản thân tôi gây ra…” và kết quả điều tra, xác minh tại nhiều cơ quan, Đảng ủy, BGĐ CTCSHT đã tổ chức nhiều cuộc họp kiểm điểm, đi đến kết luận:

    Ngoài việc sử dụng bằng đại học giả, ông Nguyễn Việt Hùng còn có một số sai phạm khác đó là trong quá trình công tác dù đã được Phòng Tổ chức lao động CTCSHT nhiều lần nhắc nhở bổ sung hồ sơ cán bộ nhưng ông Hùng không cung cấp một cách đầy đủ.

    Tuy nhiên, lãnh đạo CTCSHT cũng cho rằng, bản thân ông Hùng trưởng thành từ cơ sở, đặc biệt ông Hùng là Bí thư xã đầu tiên đưa cây cao su vào trồng ở huyện Kỳ Anh, công ty tiếp nhận vào làm việc chủ yếu dựa trên “năng lực thực tế chứ không phải bằng cấp”. Sau khi “cân đong” giữa sai phạm và “điểm sáng” trong quá trình công tác, Đảng ủy, Bán Giám đốc CTCSHT đã tiến hành họp xét, đề xuất các hình thức kỷ luật đối với ông Nguyễn Việt Hùng như sau:

    Về Đảng, đề nghị Huyện ủy Hương Khê khiển trách trước toàn Đảng bộ Công ty, miễn nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng ủy và Phó Ban tuyên giáo Đảng ủy; Về chuyên môn, khiển trách trước toàn Công ty, thôi không cho tiếp tục học Đại học và đề xuất Công đoàn Ngành Cao su Việt Nam khiển trách trong toàn ngành.

    Cà Mau: Loạn bằng cấp !
    05-11-2005, 10:41 PM

    http://www.baocongantphcm.com.vn/image_upload/news_1c-1342.jpg
    Ông Thái Văn Long, Giám đốc Sở Giáo dục - đào tạo tỉnh Cà Mau: “93 giáo viên sử dụng VBCC không hợp pháp, đã bị buộc thôi việc”


    CÁI LÝ CỦA BÀ THẠC SĨ VĂN HÓA

    Đến nay, sau khi tỉnh Cà Mau có kết luận chính thức các đối tượng sử dụng VBCC không hợp pháp thì một số cán bộ công chức thở phào nhẹ nhõm; một số đối tượng không chịu cung cấp bằng trung học mà chỉ chịu nộp bằng đại học, thạc sĩ mừng thầm. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh Hương - thạc sĩ văn hóa cũng không khác. Nhờ “học vị” của mình, bà Hương được đề bạt nhanh như diều gặp gió. Từ một cán bộ “thường thường bậc trung” ở trung tâm văn hóa tỉnh, bà Hương được đề bạt Phó bí thư Tỉnh đoàn rồi Trưởng ban văn hóa xã hội - Hội đồng nhân dân tỉnh. Hiện nay, bà Hương đang theo học lớp cử nhân chính trị tại Thủ Đức. Suốt thời gian qua, từ Tỉnh đoàn đến Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu bà Hương nộp bằng nhưng bà chỉ nộp bằng... thạc sĩ! Cán bộ kiểm tra thắc mắc, bà nhoẻn miệng cười: “Bằng cấp 3 vài bữa nữa em sẽ photo nộp”. Nhưng thấy bà cứ hứa hoài mà không đưa, Chi bộ Hội đồng nhân dân mời bà lên làm việc. Tại đây, bà Hương chịu nói thiệt: “Em có bằng trung cấp văn hóa”. Cán bộ thắc mắc: “Vậy tại sao có bằng thạc sĩ?”. Bà đổ thừa: “Có bằng trung cấp văn hóa nên được đi học thạc sĩ”(!). Còn bằng cấp 3, bà cố tình né tránh. Trước cái lý lạ đời của bà thạc sĩ văn hóa nên tập thể cơ quan phải xem xét lại. Sự thật như thế nào chỉ bà Hương biết mà thôi, nhưng chắc chắn một điều do việc học hành “đi ngang về tắt” nên trình độ cũng bằng... cái sự học! Một cán bộ lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh kể, có lần tập thể đề nghị trưởng ban văn hóa viết một bản thuyết trình trong buổi họp cấp tỉnh, sau đó bà Hương đưa cho vị lãnh đạo này sửa lại... 2 ngày! Trong buổi họp cơ quan, bà Hương bạo miệng: “Theo tôi, đường lối phát triển kinh tế địa phương không theo cơ cấu kinh tế nào mà chỉ dựa vào tiêu chí đời sống của người dân...”(?). Đến nước này, không ít cán bộ buộc miệng than trời: “Hương ơi Hương, ngồi xuống đi Hương!”.

    BÀ HIỆU PHÓ CÓ PHÉP “TÀNG HÌNH” ?!

    Nhìn vào tấm bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm của bà Võ Thị Hồng Đào - Hiệu phó Trường THPT bán công Cà Mau, nhiều người đặt nghi vấn. Trên phần căn cứ quyết định công nhận tốt nghiệp số 435/QĐ ngày 14-11-1989 của (bỏ trống), khóa học 198(?) - 1989, quyết định ký ngày 14 thì đến ngày 20 bằng được cấp. Theo tấm bằng tốt nghiệp này, bà Đào được đào tạo chính quy 4 năm chuyên ngành chính trị. Một số giáo viên đương thời với bà Đào thắc mắc, khoảng thời gian này Đại học Sư phạm chưa mở khoa đào tạo chính trị sư phạm, một nghịch lý mà không ít giáo viên biết chuyện thường kháo nhau “bà Đào giấu đầu lòi đuôi”. Theo như bằng tốt nghiệp đại học thì bà Đào được đào tạo 4 năm, từ 1985 đến 1989, thời gian này bà đang dạy môn Giáo dục công dân tại Trường THPT Hồ Thị Kỷ. Trước những chứng cứ rõ như ban ngày, thế mà bà Đào vẫn được đề bạt làm lãnh đạo một trường lớn nhất nhì trên địa bàn tỉnh? Khi dư luận đặt vấn đề nghi vấn bằng đại học chuyên ngành chính trị của bà Đào thì Giám đốc Sở GD-ĐT Cà Mau lại có công văn trả lời bằng cấp của bà Đào là hợp pháp. Hiện hồ sơ gốc đang được lưu giữ tại trường. Theo như công văn này, chẳng lẽ bà Đào vừa giảng dạy ở Cà Mau vừa đi Thủ Đức học đại học? Công văn trên càng thách thức dư luận bởi vừa qua ngành giáo dục Cà Mau đã buộc thôi việc 93 giáo viên sử dụng VBCC không hợp pháp, còn bà phó hiệu trưởng thì sao?

    KHI QUAN TÒA SỬ DỤNG BẰNG CẤP... NGƯỢC!

    Khi Ban chỉ đạo đang tiến hành kiểm tra VBCC thì nhận được đơn tố cáo của một cán bộ hưu trí ở TP. Cà Mau tố cáo “ông Trương Thành Ký mua bằng cấp 3 giá... 800 ngàn đồng để được học Đại học Luật”. Sự việc chưa được xác minh, đến tháng 6 - 2001 ông Ký mang số báo danh 576 dự kỳ thi tốt nghiệp cấp 3 hệ bổ túc văn hóa do Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Cà Mau tổ chức. Vấn đề trên gây xôn xao dư luận ở Cà Mau bởi trước đó ông Ký có 2 bằng đại học! Tấm bằng thứ nhất cách nay 15 năm do Hiệu trưởng Trường Đại học pháp lý Hà Nội Nguyễn Ngọc Hiền cấp ngày 6-11-1990. Xem tấm bằng này, chúng tôi quá đỗi bất ngờ, số hiệu bằng chỉ có 3 số thay vì 8 số theo quy định của Bộ GD - ĐT, số vào sổ để trống. Điều trớ trêu là bằng được cấp ngày 6-11-1990 nhưng trên đó lại ghi “căn cứ vào quyết định số 1994/QĐ - ĐH ngày 23-11-1990 của Bộ trưởng Bộ GD - ĐT”(!). Tiếp đến, ngày 25-1-2000 ông Ký có thêm bằng cử nhân khoa học hệ chuyên tu ngành giáo dục chính trị. Ông chánh án Tòa án nhân dân tỉnh thì có bằng cấp ngược, có cấp dưới quyền sử dụng VBCC bất hợp pháp như: bà Trần Kim Phe (chánh án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước), Nguyễn Bình Dân (phó chánh án), Võ Thanh Tùng (chánh án TAND huyện Trần Văn Thời), Dương Thanh Tuấn (thẩm phán), Ngô Hồng Phúc (chánh án TAND huyện Ngọc Hiển) và Nguyễn Thanh Lo (chánh án TAND huyện U Minh).

    Khi phát hiện 724 người có VBCC nghi vấn, tỉnh đã xử lý 111 cán bộ công chức thuộc tỉnh quản lý. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết những đối tượng bị xử lý vì sử dụng VBCC không hợp pháp chủ yếu là lực lượng giáo viên, lên đến 93 người; còn lại khiển trách, cảnh cáo hoặc không bổ nhiệm. Hàng loạt VBCC bất hợp pháp được sử dụng một thời gian dài cho việc lên lương, bổ nhiệm chức vụ...

    BẰNG CẤP “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT”

    Qua kiểm tra, Ban chỉ đạo không khỏi ngạc nhiên khi phát hiện lực lượng giáo viên sử dụng VBCC nghi vấn nhiều nhất. Những đối tượng trên đang giảng dạy cho hàng ngàn học sinh trên địa bàn tỉnh. Theo kết luận kiểm tra, VBCC họ sử dụng được học sư phạm rồi đi giảng dạy thực chất là mượn của anh em rồi thay tên đổi họ để được đi học sư phạm hoặc thay hình xóa tên..., vì vậy số nhiều là bằng thật nhưng người giả. Điển hình là Nguyễn Văn Hùng - giáo viên Trường tiểu học Phong Lạc 4 (Trần Văn Thời, Cà Mau) tẩy xóa, sửa tên bằng cấp 2 của em ruột để đi học sư phạm hệ 9 + 3 về tham gia giảng dạy. Hùng xóa tên em trai thì đồng nghiệp Trần Phi Thường - giáo viên Trường tiểu học Phong Lạc 4 - cũng dùng cách “mượn bằng cấp của anh để được đi học làm... thầy giáo”. Chỉ tính riêng Trường tiểu học Phong Lạc 4, số giáo viên sử dụng VBCC không hợp pháp có 5 người. Trao đổi với chúng tôi, ông Thái Văn Long - Giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Cà Mau - cho biết: “Hầu hết đối tượng mượn bằng của người thân để đi học sư phạm rồi tham gia công tác giảng dạy đều bị buộc thôi việc. Bằng cấp của họ theo kiểu bằng thật nhưng người giả là không thể chấp nhận được. Chính vì vậy mà trong thời gian qua, sở quyết định buộc thôi việc 93 giáo viên sử dụng VBCC như trên”.

    NHỮNG KIỂU BẰNG CẤP KHÔNG HỢP PHÁP

    Ngoài bằng cấp kiểu “hồn Trương Ba, da hàng thịt” mà lực lượng giáo viên dùng để được đi học sư phạm chúng tôi vừa nêu trên thì còn nhiều người có bằng cử nhân, thạc sĩ nhưng chưa hề học trung học phổ thông hoặc không có bằng trung học. Ông Phạm Tuấn Kiệt - Phó chủ tịch UBND TP. Cà Mau, ông Lê Chí Công - Bí thư phường 2, TP. Cà Mau, ông Lê Đức Lành - Phó trưởng phòng Sở GTVT - tự nhận không được học cấp 3 thì lãnh đạo trực tiếp ông Lành là ông Lê Hoàng Ngon - Phó giám đốc - thừa nhận mua bằng với giá 2,5 triệu đồng. Ông Trần Thành Nên chỉ học lớp 9 nhưng cũng “tậu” được bằng đại học(!). Ông Phan Thanh Thoản - Trưởng phòng tổ chức Bưu điện tỉnh Cà Mau - theo học cao học nhưng học chưa hết cấp 3 và không có bằng cấp 3. Nổi bật nhất vẫn là Chi cục quản lý thị trường tỉnh Cà Mau, từ Tôn Mạnh Tiến - Đội trưởng đội 1 đến Võ Văn Hoa -Đội phó đội 3, Nguyễn Tấn Thành - kế toán đội 4, Nguyễn Huế - Đội phó đội 1 và Thái Hữu Lệnh - kiểm soát đội 5 - đều nhờ người thi dùm hoặc không có tên trong hồ sơ thi gốc. Có trường hợp không có bằng cấp 2, cấp 3 nhưng cũng có bằng đại học để được thăng quan tiến chức như ông Nguyễn Minh Hưởng - Chủ tịch UBND huyện Thới Bình - bằng Đại học Y, ông Nguyễn Việt Trung - Trưởng phòng công chứng - có bằng Đại học Luật.

    CÓ HAY KHÔNG VIỆC “GIƠ CAO ĐÁNH KHẼ”?

    Chuyện kiểm tra bằng đã khó nhưng việc xử lý lại càng khó hơn. Thông thường đến đợt kiểm tra có cơ quan rối lên, sợ có nhân viên thưa kiện. Đặc biệt những cơ quan có lãnh đạo đang sử dụng văn bằng giả thì kiểm tra cũng qua loa, xử lý cho có. Sở GD - ĐT buộc thôi việc 93 trường hợp sử dụng VBCC giả. Công an tỉnh Cà Mau phát hiện 16 sĩ quan sử dụng bằng trung học phổ thông, bổ túc văn hóa bất hợp pháp bị kỷ luật; Sở Tư pháp phát hiện 16 trường hợp sử dụng VBCC không hợp pháp, buộc thôi việc 3 cán bộ thi hành án; Sở Thương mại - Du lịch có 17 trường hợp và 20 đơn vị còn lại hình thức kỷ luật kiểm điểm nội bộ hay “để đó”. Cụ thể là trường hợp ông Lâm Quang Gẫm - nguyên Chi cục trưởng Chi cục thuế tỉnh Cà Mau, sau khi kiểm tra bằng cấp 3, ông Gẫm thừa nhận bản thân đang sử dụng bằng giả; ngay sau đó ông bị cách chức chi cục trưởng, chờ điều động công tác khác, thế nhưng hiện nay ông Gẫm giữ cương vị Phó chánh văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, liệu có hay không việc “giơ cao đánh khẽ”? Hay như trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh Hương không chịu nộp bằng cấp 3 nhưng lại được xem là cán bộ “cơ cấu” của tỉnh?

    Việc kiểm tra VBCC ở Cà Mau phải công nhận là rất nghiêm ngặt, qua 5 năm xác minh đã phát hiện 111 đối tượng sử dụng VBCC không hợp pháp, tuy nhiên cũng còn 101 người còn chờ xác minh làm rõ. Những đối tượng này đang thuộc diện quy hoạch của tỉnh, cán bộ chủ chốt một số cơ quan ban ngành trên địa bàn tỉnh như: ông Nguyễn Bé, bằng cấp 3 của ông nghi vấn hồ sơ thi giả; thế nhưng trong hồ sơ lưu tại Sở GD-ĐT tỉnh Cà Mau, ông thi ngày 3-1-1982. Ông Huỳnh Ngọc T. cũng bị tố giác không học cấp 3 nhưng có bằng cử nhân chính trị. Dư luận mong Ban chỉ đạo tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý thích đáng, có như vậy mới dẹp được nạn loạn bằng cấp ở Cà Mau.

    THIỆN THẢO
    http://www.baocongantphcm.com.vn/detail_news.php?a=art05366&b=2

    Quyền Tổng Biên tập Báo Đồng Khởi sử dụng bằng giả

    21-09-2006 00:14:14 GMT +7

    (NLĐ)- Đảng ủy liên cơ tỉnh Bến Tre vừa công bố quyết định kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Trương Văn Đông, quyền Tổng Biên tập Báo Đồng Khởi (Bến Tre), vì sử dụng bằng giả và một số sai phạm khác.

    Ông Đông sinh năm 1949, không có bằng tốt nghiệp THPT, nhưng đã “chạy” giấy chứng nhận tốt nghiệp THPT giả để tiếp tục học Trường Đại học Luật Hà Nội, Phân viện Báo chí - Tuyên truyền Hà Nội.

    B.Đ – H.A
    ++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

    Giáo dục - Du học-Chủ tịch quận dùng bằng giả: Làm rõ rồi… để đấy
    Cập nhật: 03/02/2007 - 13:59 - Nguồn: DanTri.com.vn
    Chủ tịch quận dùng bằng giả: Làm rõ rồi… để đấy
    Cập nhật: 03/02/2007 - 13:59 - Nguồn: DanTri.com.vn

    (Dân trí) - Những sai phạm của ông Đinh Công Toản - Phó bí thư quận uỷ, Chủ tịch UBND quận Hải An (Hải Phòng) trong việc bồi dưỡng nghiệp vụ và sử dụng văn bằng giả đã được làm rõ từ cuối tháng 11/2006. Song cho đến thời điểm này, qua hơn 2 tháng, ông Toản vẫn chưa bị xử lý.

    Ngay cả việc Uỷ ban kiểm tra thành uỷ Hải Phòng ra thông báo yêu cầu ông Toản phải kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật trước ngày 30/11/2006 thì cho đến giờ, việc này vẫn chưa được thực hiện. 4 sai phạm nghiêm trọng của ông Đinh Công Toản được Ủy ban kiểm tra vạch ra là:  

    Thứ nhất, ông Toản không có bằng cấp II nhưng vẫn được vào học và tốt nghiệp chương trình cấp III BTVH hệ bồi dưỡng cán bộ tại trường BTVH cấp II + III cụm Đằng Lâm là sai quy chế. 

    Thứ hai, mặc dù chỉ có giấy chứng nhận BTVH hệ bồi dưỡng (do Sở GD-ĐT Hải Phòng cấp) nhưng ông Toản vẫn được vào học lớp đại học luật tại chức ở Hải Phòng trực thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội. Ông Toản đã học từ năm 1994-1998 và đã được cấp bằng đại học. Việc này trái với quy chế tuyển sinh. 

    Thứ ba, đến năm 1995, khi chưa có bằng tốt nghiệp đại học Luật, ông Toản đã khai man là có bằng thứ nhất này để xin vào học tích luỹ kiến thức lấy bằng đại học thứ hai ở trường ĐH Nông nghiệp I Hà nội. Sau khi có bằng tốt nghiệp đại học Luật, ông Toản đã được thi và cấp bằng tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Nông nghiệp I Hà nội. 

    Thứ tư, trong hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng viên và hồ sơ học tập, ông Toản đã khai về ngày tháng năm sinh không thống nhất, cụ thể là có tới 3 độ tuổi khác nhau là 16/10/1960; 16/10/1957 và 26/10/1957. 

    Trước những sai phạm trên, ngày 20/11/2006, Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ Hải Phòng đã ra thông báo yêu cầu ông Đinh Công Toản kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật. Thông báo này cũng nói rõ việc kiểm điểm ông Đinh Công Toàn phải được tiến hành nghiêm túc và báo cáo kết quả về Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ trước ngày 30/11/2006. 

    Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, nghĩa là đã hơn 2 tháng qua, ông Toản vẫn chưa có bản kiểm điểm cũng như tự nhận hình thức kỷ luật nào cả.
    ___________________________________

    Các bạn có biết hiện nay bác Toản nhà ta làm giề không? Bác mất chức Chủ tịch quận rồi! Bác "bị đày" lên chức Phó Giám đốc Sở Thuỷ sản TP Hải Phòng và khi sở này sáp nhập với sở Nông nghiệp và phát triển NT thì Bác về làm Phó Giám đốc liên sở này với tên gọi hiện nay là Sở NN và PTNT!!!!
    ______________________________________

    Đình đám, hoành tráng nhất có lẽ là bác Q. Tổng Biên tập 1 tờ báo rất lớn ở Trung ương hiện nay: Báo Đại Đoàn kết!

    http://www.vnexpress.net/GL/Phap-luat/2001/03/3B9AF106/  

    PHÁP LUẬT

    Thứ năm, 29/3/2001, 08:50 GMT+7

     E-mail      Bản In

    Trưởng ban Tư tưởng Trung ương Đoàn "chạy" bằng giả

    Đây là trường hợp ông Đinh Đức Lập chạy bằng trung cấp chính trị để được nâng lương và chuyển lên chuyên viên chính. Sai phạm của ông Lập đã rõ ràng, nhưng cho đến nay vẫn chưa phải chịu hình thức kỷ luật nào.

    Trong đợt xét nâng lương tại Trung ương Đoàn năm ngoái, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đoàn Đinh Đức Lập "bỗng" có 2 tấm bằng mới: bằng trung cấp chính trị và chứng chỉ ngoại ngữ A. Với 2 "lá bùa" này, ông Lập nghiễm nhiên được nâng lương, chuyển từ chuyên viên lên chuyên viên chính.....

    Tuy nhiên, cho đến hôm 27/3/2001, ông Lập mới chỉ bị phê bình, mà  “Phê bình" chưa phải là hình thức kỷ luật Đảng.
    ________________________________________

    Thế rồi, vật đổi sao dời, ông Đinh Đức Lập được chuyển về công tác tại UBTW Mặt trận Tổ quốc, và vừa mới đây, ông được bổ nhiệm làm Q.Tổng Biên tập báo Đại Đoàn kết!!!!    

     
    Báo quản trị |  
  • #11684   30/12/2008

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    #ccc" align="center">

     À quên, về việc sử dụng bằng giả của cán bộ lãnh đạo tỉnh Cà mau mà tôi thông tin trên kia là từ 1 bài báo vào năm 2005. Vụ này mới đây đã bị xử lí "vô cùng nghiêm khắc"!!!!   

     Trưởng ban Văn hóa xã hội HĐND tỉnh không bằng cấp 3 (09/12)

    Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương, Trưởng ban văn hóa - xã hội HĐND tỉnh Cà Mau vừa nhận quyết định kỷ luật cảnh cáo vì gian lận văn bằng chứng chỉ.

    Quyết định trên do ông Lê Hồng My, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh ký. Bà Hương khai đã học xong Trung cấp múa, chưa học hết cấp 3. Nhưng bà vẫn được tốt nghiệp đại học và tiếp tục tốt nghiệp thạc sĩ văn hóa. Trước đó, bà Hương đã bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng nhưng vẫn yên vị chức Trưởng ban văn hóa - xã hội HĐND tỉnh Cà Mau.

    Theo Ban kiểm tra văn bằng chứng chỉ tỉnh Cà Mau, tại HĐND và Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Cà Mau có nhiều cán bộ lãnh đạo sử dụng bằng cấp bất hợp pháp nhưng được bổ nhiệm chức vụ quan trọng trong tỉnh.

    Cụ thể, ông Lâm Quang Gẫm, Chánh văn phòng HĐND tỉnh bị phát hiện “bằng gần không có mà có bằng xa” khi làm Cục trưởng Cục thuế Cà Mau. Vì không bằng cấp 3 nên ông không được tái bổ nhiệm. Ông Gẫm “tạm lánh” làm chuyên viên, rồi sau đó được tiến cử làm Chánh văn phòng HĐND tỉnh.

    Hoặc trường hợp của bà Trần Kim Phe, Trưởng phòng tổ chức, hành chánh, quản trị HĐND tỉnh. Khi bà Phe làm Chánh án TAND huyện Cái Nước, đang theo học lớp đại học Luật (tại chức tại Cà Mau) bị phát hiện sử dụng bằng cấp 3 giả. Bây giờ, bà Phe được bổ nhiệm làm Trưởng phòng, trước sự ngỡ ngàng của những người cùng cảnh ngộ bị phát hiện.

    Hay như ông Trần Thanh Nhàn, Trưởng phòng công tác đại biểu Quốc hội tỉnh. Trước đây, ông Nhàn, làm Trưởng thanh hành án, quy hoạch cán bộ Sở tư pháp Cà Mau. Ông kiểm tra văn bằng chứng chỉ cán bộ ngành tư pháp nhưng chính ông sử dụng bằng cấp 3 giả. Ông Nhàn “rút về” HĐND, Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Cà Mau rồi lên chức Trưởng phòng công tác.
    _____________________________________

    Rõ ràng là án tuyên quá nặng. Bà Hương bị oan ức quá khiến ông Tám Nhựt Trình phải có bài phản đối sau đây: 

     

    Phiếm: Cảnh cáo là oan dữ lắm!

    Ngày 12.12.2008 Giờ 10:15

     

    Cảnh cáo là oan dữ lắm!

    – Chà! Bà trưởng ban Văn hoá xã hội hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau giỏi thiệt nghe! Chưa qua trung học, chưa tốt nghiệp trường trung cấp múa mà học thẳng lên đại học Văn hoá rồi lấy luôn thạc sĩ.

    – Ôi! Chuyện đó bình thường mà! Xưa nay nhiều trường vẫn du di cho cán bộ nợ đầu vô, học đại học trước rồi học trung học trả nợ sau... Cán bộ mình toàn thiên tài, học ngược vậy đều đỗ điểm cao, bằng đỏ cả đấy!

    – Nhưng bà này khai gian dối có bằng tốt nghiệp cấp ba, làm tổ chức phải mất công xác minh đã đời mới kết luận được.

    – Ờ! Thì có khuyết điểm đó, nhưng phải xét về động cơ. Gian dối để được học hành thì cũng đáng thông cảm.

    – Chà cái động cơ “được học” hay để “đạt tiêu chuẩn cán bộ, thăng quan tiến chức” còn phải xem xét lại?

    – Làm cán bộ là để phục vụ nhân dân, sướng ích gì đâu? Gian dối để được phục vụ dân càng đáng được cảm thông chớ?

    – Vậy so với hàng triệu con em nhân dân lao động phải trắng đêm đèn sách, phải vật vã học thêm, thi cử rớt lên rớt xuống, lẽ công bằng nằm ở chỗ nào?

    – Trong lúc học sinh yên ấm học hành bả đã chấp nhận hy sinh cống hiến, phục vụ địa phương. Nếu vì động cơ cá nhân, bả đi thi hoa hậu, làm người mẫu giàu sụ rồi, đâu có cớ tị nạnh mà khiếu nại!

    – Ừ hén! Công lao cỡ đó mà bị cảnh cáo oan thiệt!

    – Chớ sao! Nghề báo là nghề đòi hỏi nói thật, ở cấp Trung ương có ông gian dối tới hai bằng lại được bổ nhiệm làm tổng biên tập báo.

    – Trời! Tưởng chỉ có địa phương! Trung ương cũng vậy thì làm sao xoá nạn xài bằng giả?

    – Ủa! Tới giờ vẫn chưa hiểu sao? Chống bằng giả là nói cho vui, chống thiệt lấy ai làm việc?

    Tám Nhựt Trình

     
    Báo quản trị |  
  • #11685   03/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    Theo các bạn, có phải nạn xài bằng giả hiện nay không thể khắc phục được?
    Tại sao trong ngành toà án Cà Mau có quá nhiều quan toà xài bằng giả như vậy? Đây có phải là nguyên nhân dẫn đến án oan, án sai hay không? Quan toà ở huyện xài bằng giả, ở tỉnh cũng xài bằng giả.  Bản án sơ thẩm tuyên ở Toà án huyện oan sai, lên đến cấp phúc thẩm tại Toà án tỉnh cũng gặp 1 vị quan toà giả (vì xài bằng giả) thì hẳn là vẫn thế?
    Điều khiến dư luận bức xúc là, như trên tôi đã thông tin: Việc xài bằng giả đã được xem xét, xác minh, kết luận từ năm 2005 nhưng mãi ba năm sau, tỉnh Cà Mau mới chỉ ra được cái quyết định Cảnh cáo và cũng chỉ với 1 người là bà Hương? Bà vẫn yên vị ngồi cái ghế Trưởng Ban Văn hoá Xã hội HĐND tỉnh!!!!
    Chẳng lẽ xài bằng giả là nét văn hoá đặc trưng của người Cà Mau?
    Khi ông Đinh Đức Lập được bổ nhiệm là Q.Tổng Biên tập báo Đại Đoàn kết, trả lời ý kiến phản ứng của dư luận, có người lí sự: Việc xài bằng giả của ông Lập đã là chuyện của quá khứ (từ năm 2001), đã được xử lý (phê bình). Suốt 8 năm qua ông Lập đã không ngừng phấn đấu, tiến bộ. Theo quy định của pháp luật thì sau thời hạn 1 năm kể từ khi xử lí hành chính, nếu không tái phạm, hình thức xử lí được xoá (thậm chí Bộ luật Hình sự còn quy định về xoá án hình sự  kia mà?) Lí sự này có thuyết phục được bạn hay không?

     
    Báo quản trị |  
  • #11686   03/01/2009

    PhanAnhCuong
    PhanAnhCuong
    Top 50
    Lớp 4

    Hải Phòng, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2008
    Tổng số bài viết (865)
    Số điểm: 5415
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 22 lần


    #ccc" align="center">

     Đây, thêm 1 vụ "Án sai chồng án oan" tại Cà Mau!
    Dư luận có quyền nghi ngờ về tính đúng đắn của các bản án do các quan toà ở Cà Mau ban ra sau những vụ lùm xùm về bằng giả của các vị. Và quả thật, dưới đây là 1 bản án ở cấp tỉnh:

    Vụ một luật sư đòi bồi thường do bị khởi tố, truy tố oan sai tại tỉnh Cà Mau: Án sai chồng án oan!
    8:34 AM, 25/12/2008

    Năm 1998, Công ty Dịch vụ thương mại Cà Mau (Công ty DVTM) ký hợp đồng bán cho 24 hộ dân mặt bằng tại khu Chợ nông sản thực phẩm. Dù đã thanh toán tiền nhưng do không được nhận nền nhà nên các hộ dân gặp ông Giã Hoàng Nhựt, Luật sư (LS) tập sự (tại thời điểm đó) thuộc Đoàn LS tỉnh Cà Mau nhờ giúp đỡ.

    Vợ chồng ông Giã Hoàng Nhựt “đối mặt” với đại diện Viện KSND tỉnh Cà Mau trong phiên tòa sơ thẩm

    Ông Nhựt và 9 hộ dân đã lập “Giấy thỏa thuận” ký ngày 24-5-2000, trong đó ghi nhận: Ông Nhựt được thay mặt 9 hộ dân lo toàn bộ thủ tục pháp lý liên quan đến việc yêu cầu Cty DVTM giao mặt bằng theo đúng vị trí đã ký kết chuyển nhượng đất với 9 hộ dân. “Ngay sau khi đạt kết quả (nhận lại được tài sản), bên A (9 hộ dân-NV) sẽ trích thưởng cho bên B (LS Nhựt-NV) là 10% giá trị tài sản nhận được (theo giá mua với Cty DVTM)”. Sau một năm thực hiện thỏa thuận, LS Nhựt đã buộc Cty DVTM phải thực hiện đúng hợp đồng ký kết. Công việc đã hoàn tất nhưng chỉ có 4 hộ dân trích thưởng theo đúng thỏa thuận, 5 hộ dân còn lại không thực hiện nghĩa vụ. Cá biệt, một đương sự là ông B.T.L còn gửi đơn tố cáo LS Nhựt lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từ đó, ông Nhựt bị Thủ trưởng Cơ quan CSĐT khởi tố, điều tra về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, và kế đó bị Viện trưởng VKSND tỉnh Cà Mau truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, đến ngày 10-5-2004, Viện KSND tỉnh Cà Mau ra quyết định số 69/KSĐT đình chỉ bị can và đình chỉ vụ án. Việc truy tố oan sai trên đã đẩy ông Nhựt vào cảnh khốn đốn, tổn thương nghiêm trọng đến uy tín, danh dự suốt nhiều năm trời. Vì vậy, theo Nghị quyết 388/NQ- UBTVQH11 về bồi thường oan sai, ông Nhựt thực hiện quyền đề nghị TAND TP.Cà Mau xác định ông là người bị khởi tố, truy tố oan sai, buộc Viện KSND tỉnh Cà Mau phải công khai xin lỗi. Ngày 21-7- 2006, TAND TP. Cà Mau xét xử, ra bản án sơ thẩm số 181/DSST xác định ông Nhựt bị VKSND tỉnh Cà Mau truy tố oan, buộc cơ quan này phải bồi thường cho ông Nhựt theo Nghị quyết 388 bằng các hình thức: Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi ông Nhựt cư trú tại khóm 4, phường 5, TP. Cà Mau.

    Ngày 26-9-2006, phiên tòa phúc thẩm của TAND tỉnh Cà Mau lại nhận định án sơ thẩm vận dụng pháp luật không đúng. Theo đó, Tòa phúc thẩm cho rằng Tòa án chỉ thụ lý giải quyết trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng ý bồi thường nhưng các bên không thỏa thuận được về mức bồi thường. Từ đó Tòa phúc thẩm tuyên sửa án, dân sự sơ thẩm của TAND TP. Cà Mau và đình chỉ vụ án, ông Nhựt có quyền khiếu nại đến Viện KSND tỉnh Cà Mau và Viện KSND Tối cao để yêu cầu xem xét, giải quyết theo Nghị quyết 388. Hai bản án của ngành Tòa án tỉnh Cà Mau phán quyết trái ngược nhau khiến ông Nhựt rơi vào cảnh không còn biết tin ai (?)

     Hơn hai năm qua, ông Nhựt phải rời bỏ quê hương lên TP. Hồ Chí Minh khiếu nại để tìm công lý cho chính bản thân mình. Mới đây, ngày 2-12-2008, Viện trưởng Viện KSNDTC ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Cà Mau. Viện KSNDTC nhận định sau khi VKSND tỉnh Cà Mau có công văn trả lời trường hợp ông Nhựt không thuộc diện bồi thường, tháng 12-2005, ông Nhựt đã khởi kiện yêu cầu Viện KSND tỉnh Cà Mau bồi thường. Theo quy định tại Điều 1 Mục 1 của Nghị quyết 388 và hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 1/2004, “trường hợp Giã Hoàng Nhựt được bồi thường khi có yêu cầu”. Theo đó, nếu “hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhận được đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không tiến hành thương lượng” thì người bị oan có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp của ông Nhựt, TAND TP.Cà Mau thụ lý và quyết định buộc Viện KSND tỉnh Cà Mau phải xin lỗi công khai tại nơi cư trú của ông Nhựt và đăng lời xin lỗi lên báo Cà Mau và một tờ báo trung ương là đúng pháp luật. Trái lại, Tòa án cấp phúc thẩm đã làm sai pháp luật, gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của ông Giã Hoàng Nhựt. Về mặt tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng lại xác định ông Giã Hoàng Nhựt có quyền yêu cầu Viện KSND tỉnh Cà Mau, Viện KSNDTC xem xét, giải quyết theo tinh thần Nghị quyết 388 của UBTVQH là “mâu thuẫn và vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng dân sự”. Vì vậy, Viện KSNDTC kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm, đề nghị xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy các bản án, giao hồ sơ về cho TAND TP.Cà Mau xét sở sơ thẩm lại theo thủ tục chung.

    Trải qua bao gập ghềnh trên hành trình tìm công lý trong nhiều năm với biết bao mất mát về tinh thần, đến nay ông Nhựt mới hy vọng kháng nghị của Viện KSNDTC đã cho ông một cơ hội tìm lại danh dự bị tổn thương suốt hơn 5 năm qua. Đây cũng là lúc các cơ quan tố tụng thể hiện sự nghiêm túc trong việc thực hiện Nghị quyết 388 UBTV Quốc hội, cần nhìn thẳng vào sự thật để khắc phục hậu quả khi làm sai, không để người dân người bị oan sai

    Link: Vụ một luật sư đòi bồi thường do bị khởi tố, truy tố oan sai tại tỉnh Cà Mau: Án sai chồng án oan! (8:34 AM, 25/12/2008)
    Các bạn có thấy điều gì lạ không? Bài này tôi dẫn về từ báo Đại Đoàn kết đấy!!!!
    Thế nhưng, các bạn hãy để ý giùm tôi: Từ nay Báo Đại Đoàn kết liệu có dám đăng bài nào đó về nạn xài bằng giả không nhỉ?
    Tôi tin rằng chả tay phóng viên nào dám gửi cái bài thuộc dạng "nhạy cảm", "phạm huý" như thế!
     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-