DanLuat 2015

Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn Bộ luật tố tụng dân sự về đơn khởi kiện

Chủ đề   RSS   

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #453188   09/05/2017

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao học

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3056)
    Số điểm: 59170
    Cảm ơn: 560
    Được cảm ơn 3862 lần


    Hướng dẫn các vấn đề liên quan đơn khởi kiện

    Để giúp các bạn dễ nắm bắt được thông tin hướng dẫn tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sau đây, mình hệ thống lại những nội dung liên quan đến vấn đề đơn khởi kiện được nêu tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP:

    STT

    Nội dung

    Hướng dẫn

    1

    Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186, 187 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

    (Điểm a Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015)

    - Là người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp.

    - Là người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp quy định pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

    Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo Khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010) cho rằng công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C.

    Trường hợp này, tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo Khoản 3 Điều 187 BLTTSDS 2015

    Lưu ý: Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

    Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 BLDS 2015). Trường hợp này, theo quy định pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo quy định pháp luật.

    2

    Chưa có đủ điều kiện khởi kiện

    (Điểm b Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015)

    Là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

    Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo Điều 201 Bộ luật lao động 2012, Khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.

    Lưu ý:

    Đối với tranh chấp đất ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp theo Điều 202 Luật đất đai 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện.

    Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất…thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

    3

    Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

    (Điểm đ Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015)

    Là trường hợp mà theo quy định pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.

    Ví dụ: Theo Khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 có quyền lựa chọn TAND cấp có thẩm quyền theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự hoặc UBND cấp có thẩm quyền theo Khoản 3 Điều 203 Luật đất đai 2013 để giải quyết tranh chấp.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự.

    4

    Địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

    (Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015)

    - Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo Luật cư trú.

    - Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì cư trú của họ được xác định theo Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

    - Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.

    - Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định pháp luật

    5

    Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi liên quan

    (Điểm đ, e Khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015)

    Là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

    Không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết làm căn cứ trả lại đơn khởi kiện

    Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện.

    Trường hợp kể từ 01/01/2012, Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì Tòa án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenanh1292 vì bài viết hữu ích
    tunango195 (24/05/2017)

0 Thành viên đang online
-