DanLuat 2015

Nên trả tiền hay trả đất trong trường hợp này?

Chủ đề   RSS   
  • #499857 16/08/2018

    Vonhattan3108

    Sơ sinh

    Gia Lai, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Nên trả tiền hay trả đất trong trường hợp này?

    Ông bà nội tôi có 2 mảnh đất một mảnh đất ông bác 2 tôi ở một mảnh đất ba mẹ tôi ở ,lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi có mượn của bà A 6 chi vàng năm 1997 và có viết giấy nhượng đất mà không có chữ kí của ba tôi và bác tôi (vì ông bà nội tôi đã chết) không có công chứng của nhà nước mà chỉ có ông xóm trưởng làm chứng.đến năm 2011 ông bác 2 tôi đang đứng tên trên sổ đỏ mới tách một mảnh đất cho mẹ con tôi (vì ba tôi đã chết) và phòng tài nguyên môi trường đã cấp sổ cho mẹ và anh chị em tôi đứng tên chung trên sổ.đến năm2013 thì bà A đòi mẹ tôi trả đất cho bà chúng tôi không chịu vì chúng tôi đang sinh sống trên đất ấy nên chúng tôi thương lượng với bà A sẽ trả tiền nhưng bà A không chịu đòi kiện ra toà. Xin luật sư tư vấn giúp chúng tôi nên trả tiền hay trả đất xin chân thành cảm ơn!

     
    805 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #501163   31/08/2018

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1252)
    Số điểm: 7002
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 342 lần
    Lawyer

    Theo khoản 1, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

    - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    - Đất không có tranh chấp.

    - Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

    - Trong thời hạn sử dụng đất.

    Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

    Trong trường hợp của bạn, mẹ bạn chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất này cho bà A vì mẹ bạn không đáp ứng yêu cầu “có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Cho nên, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa mẹ bạn và bà A là vi phạm pháp luật. Ngoài ra, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải chỉ cần có người làm chứng là có hiệu lực pháp luật mà hợp đồng nàyphải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013, cụ thể:

    “3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

    a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

    b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên...”.

    Tuy nhiên, do giao dịch của mẹ bạn và bà A là vô hiệu nên theo quy định hai bên sẽ tiến hành khôi phục lại vị trí ban đầu tức hai bên đã nhận của nhau những gì thì sẽ trao trả lại nhau những thứ đã nhận. Cụ thể, Điều 137 BLDS 2015 quy định như sau:

    “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

    2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

    Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

    3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

    4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

    5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.

    Do vậy, trong trường hợp của bạn, bạn nên trả cho bà A 6 chỉ vàng hoặc số tiền tương đương với 6 chỉ vàng.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

0 Thành viên đang online
-