Một số vấn đề về nghiệp vụ Thẩm phán

Chủ đề   RSS   
  • #324352 21/05/2014

    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Một số vấn đề về nghiệp vụ Thẩm phán

    Tài liệu này mình lấy từ trên website của Trường cán bộ tòa án - http://tcbta.toaan.gov.vn/, hy vọng rằng có thể giúp ích cho các bạn.

     

     
    17181 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

2 Trang 12>
Thảo luận
  • #324354   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Mua bán hóa đơn giá trị gia tăng có nội dung giả mạo bị xử về tội gì?

             Vụ án Nguyễn Vũ Lê bị kết án về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", Đặng Thị Mai Trinh và Nguyễn Văn Tâm bị kết án về tội "Lưu hành giấy tờ có giá giả"được xét xử sơ thẩm tại TAND thành phố Hồ Chí Minh và bản án phúc thẩm bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị là bản án số 365/2010/HSPT ngày 24-6-2010 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
     
    Hành vi phạm tội được xác định là Lê đã mua hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) có nội dung ghi khống, làm thủ tục hoàn thuế, chiếm đoạt hơn 2 tỷ đồng tiền thuế GTGT; Trinh (giám đốc Công ty TNHH Hồng Trinh) bán 7 hóa đơn GTGT cho Lê có nội dung ghi khống số hàng hóa trên 1 tỷ đồng, tương ứng số thuế GTGT là 94 triệu đồng; Tâm (giám đốc Công ty TNHH Hiệp Hòa) bán 2 hóa đơn GTGT ghi khống số hàng hóa 287 triệu đồng, tương ứng số thuế GTGT là 26 triệu đồng.
     
              Tại bản án phúc thẩm, Lê bị xử phạt 7 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trinh bị xử phạt 2 năm tù và Tâm bị xử phạt 1 năm tù đều về tội Lưu hành giấy tờ có giá giả.
     
    Tại Quyết định kháng nghị số 03/2013/HS-TK ngày 07-2-2013, Chánh án TAND tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm, đề nghị xét xử giám đốc thẩm phần trách nhiệm hình sự của Trinh và Tâm.
     
     
             Tại phiên họp ngày 10-6-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hủy bản án hình sự phúc thẩm về phần trách nhiệm hình sự đối với Đặng Thị Mai Trinh và Nguyễn Văn Tâm; giao cho Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại. Bản án phúc thẩm bị hủy do đã có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật, đó là:
     
    Trinh và Tâm thực hiện hành vi phạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào thời điểm Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 chưa được sửa đổi, bổ sung nên vào thời điểm đó xác định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội "Lưu hành giấy tờ có giá giả" là có căn cứ. Tuy nhiên, vào thời điểm xét xử vụ án, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung.
     
    Theo quy định mới của pháp luật hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo cấu thành tội "Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước" được quy định tại Điều 164a BLHS và là tội nhẹ hơn so với tội "Lưu hành giấy tờ có giá giả". Do có sự thay đổi pháp luật hình sự theo hướng có lợi cho các bị cáo nên phải xác định tội danh và trách nhiệm hình sự của các bị cáo theo pháp luật mới; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn kết án các bị cáo về tội "Lưu hành giầy tờ có giá giả" là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là: Kể từ thời điểm BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung có hiệu lực, hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng có nội dung giả mạo sẽ bị xử về tội "Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước" theo Điều 164a BLHS.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 03:46:21 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324356   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Người còn sống có quyền thay đổi di chúc chung hay không?

     Vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là ông Lê Liêm Ghé với bị đơn là cụ Bùi Thị Lắm (mẹ ông Ghé) được xét xử sơ thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Long và xét xử phúc thẩm  tại bản án dân sự phúc thẩm số 72/2009/DS-PT ngày 17-2- 2009 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
     
           Tại phiên họp ngày 13-6-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bán án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm; giao cho TAND tỉnh Vĩnh Long giải quyết sơ thẩm lại theo hướng nếu không có căn cứ gì mới thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
     
          Một trong những vấn đề pháp lý của việc giải quyết vụ án này là xác định hiệu lực của di chúc chung.
     
           Ngày 18-12-2002, cụ Lê Văn Em và vợ là cụ Bùi Thị Lắm lập di chúc tại phòng công chứng với nội dung: “khi chúng tôi qua đời, căn nhà và diện tích  1843 m2 đất…để lại cho con trai Lê Liêm Ghé… hưởng trọn quyền thừa  kế…Lê Liêm Ghé phải thực hiện bổn phận nuôi dưỡng cha mẹ cho đến ngày cả hai chúng tôi đều mãn phần…Di chúc này chỉ có hiệu lực sau khi cả hai vợ chồng chúng tôi đều đã qua đời”.
     
    Ngày 16-12-2004, cụ Em chết. Ngày 06-3-2006, cụ Lắm lập di chúc tại phòng công chứng với nội dung: “Nay Lê Liêm Ghé không thực hiện bổn phận…tôi quyết định hủy di chúc chúng tôi lập ngày 18-12-2002…và giao lại quyền thừa kế cho con trai Lê Văn Minh”.
     
     
    Năm 2007, ông Ghé khởi kiện yêu cầu được hưởng phần di sản của cụ Em. Cụ Lắm không chấp nhận yêu cầu của ông Ghé.
     
            Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Ghé vì cho rằng di chúc chung là hợp pháp; cụ Lắm chỉ có quyền thay đổi ý chí đối với phần tài sản của cụ chứ không có quyền thay đổi với phần di sản của cụ Em.
     
         Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Ghé xin chia thừa kế theo di chúc nhưng lại giành quyền khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của cụ Em bằng vụ án khác vì cho rằng di chúc chung có nội dung không rõ ràng.
     
    Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là trên cơ sở nhận định:
     
    Di chúc chung của cụ Lắm và cụ Em là hợp pháp nhưng chưa có hiệu lực. Di chúc chung , nếu không có thỏa thuận khác thì theo pháp luật (Điều 668 BLDS) chỉ có hiệu lực ở thời điểm cụ Lắm và cụ Em đều đã chết. Trong di chúc chung ngày 18-12-2002 còn có thỏa thuận rõ là di chúc chung chỉ có hiệu lực khi “cả hai vợ chồng chúng tôi đều đã qua đời”. Do di chúc chung chưa có hiệu lực nên cụ Lắm có quyền thay đổi di chúc đối với phần tài sản của cụ Lắm.
     
    Còn đối với phần di sản của cụ Em, tuy cụ Lắm không có quyền thay đổi nhưng phần di chúc đối với di sản của cụ Em cũng chỉ có hiệu lực ở thời điểm cụ Lắm chết. Vì vậy, nay cụ Lắm còn sống, yêu cầu của ông Ghé chưa đủ điều kiện khởi kiện; cần phải trả lại đơn khởi kiện cho ông Ghé và đình chỉ giải quyết vụ án (theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 168 và Điểm I Khoản 1 Điều 192 BLTTDS).
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là: Người còn sống có quyền thay đổi di chúc chung đối với phần quyền tài sản của họ. Phần di chúc của người đã chết trong di chuc chung chỉ có hiệu lực khi những người lập di chúc chung đều đã chết, kể cả trong trường hợp người còn sống đã thay đổi di chúc chung.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 03:51:47 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324377   21/05/2014

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


     

    danusa viết:

     

     
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là: Người còn sống có quyền thay đổi di chúc chung đối với phần quyền tài sản của họ. Phần di chúc của người đã chết trong di chuc chung chỉ có hiệu lực khi những người lập di chúc chung đều đã chết, kể cả trong trường hợp người còn sống đã thay đổi di chúc chung.

     

     

    Chào bạn danusa.

    Tôi thấy ý kiến cúa HĐTP TANDTC :" Di chúc chung của cụ Lắm và cụ Em là hợp pháp nhưng chưa có hiệu lực. Di chúc chung , nếu không có thỏa thuận khác thì theo pháp luật (Điều 668 BLDS) chỉ có hiệu lực ở thời điểm cụ Lắm và cụ Em đều đã chết." là không đúng trong trường hợp này và không công bằng với nguyên đơn khi trả đơn khởi kiện.

    Luật dân sư :

    Điều 663. Di chúc chung của vợ, chồng

    Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.

    Khi cụ Lắm thay đổi nội dung trong di chúc đối với toàn bộ tài sản của Cụ Lắm trong tài sản chung thì di chúc đó ,chỉ còn lại toàn bộ là tài sản của cụ Em, không có gì là tài sản chung trong di chúc, đó không còn là di chúc chung.

    Lẽ ra phải chấp nhận di chúc "chung" đó có hiệu lực vì không có gì liên quan đến cụ Lắm, di chúc đó thực chất chỉ còn là di chúc riêng của cụ Em và cụ Em đã chết nên di chúc đã có hiệu lực pháp luật. 

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 21/05/2014 04:40:15 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324359   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Có áp dụng quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa?

    Vụ án xin ly hôn và chia tài sản chung vợ chồng giữa bà Phạm Thị Thu Ba và ông Ngô Quốc Đạt ở Hà Nội được TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm. Bản án phúc thẩm là bản án số 145/2001/HNGĐ-PT ngày 04-8-2011 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội. Bản án phúc thẩm đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị; đề nghị xét xử giám đốc thẩm về phần phân chia tài sản chung.
     
              Tại phiên họp ngày 14-6-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao, hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung, giao cho TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại. Tuy kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao là có căn cứ nhưng trong số căn cứ kháng nghị, có căn cứ không được Hội đồng Thẩm phán chấp nhận; và đó cũng là một vấn đề pháp lý quan trọng của việc giải quyết vụ án.
     
     
             Kháng nghị (số 54/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 18-6-2012) nêu:
     
              Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định chia hiện vật cho ông Đạt được sử dụng 2/3 tầng 1 nhà 60 Ngô Quyền kích thước 2,06m x 5,7m=22,8m2 và chia cho bà Ba được sử dụng 1/3 tầng 1 nhà 60 Ngô Quyền kích thước 2,06m x 5,7m=11,7m2 là không đảm bảo về kích thước, diện tích tối thiểu được phép tách thửa  và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo Mục 1 Điều 3 Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND ngày 28-5-2008 của UBND thành phố Hà Nội quy định về kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội: "Thửa đất được hình thành từ việc tách thửa và thửa đất còn lại sau khi tách thửa nếu đảm bảo các điều kiện sau thì được cấp giấy chứng nhận: có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng từ 3m trở lên; có diện tích không nhỏ hơn 30m2/thửa…".
     
           Hội dồng Thẩm phán đã không chấp nhận phần kháng nghị nêu trên vì: Quy định của UBND thành phố Hà Nội tại Điều 3 Quyết định 26/2008 nêu trên là quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa và cấp GCNQSDĐ chứ không phải diện tích tối thiểu được chia.Vì vậy, nếu được chia để nhập vào cùng sử dụng với thửa khác thì không thuộc trường hợp quy định ở Điều 3 nói trên. Mặt khác, quy định ở Điều 3 nói trên là quy định về đất chứ không phải quy định về diện tích nhà. Do đó, việc chia những diện tích nhà đã có khi phân chia tài sản chung,chia thừa kế…cũng không bị hạn chế theo quy định này.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là: Quy định của UBND cũng là văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng khi giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, quy định về diện tích tối thiểu để tách thửa không áp dụng đối với những trường hợp chia đất không có nhu cầu tách thửa và không áp dụng đối với trường hợp chia nhà.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 03:58:35 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324360   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Nhà mua do bán đấu giá từ năm 2003 có được áp dụng quy định không phải trả lại của BLDS 2005 hay không?

    Vụ án đòi  nhà giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Cho và bị đơn Lê Văn Minh ở tỉnh Bình Định còn có các đương sự với tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: ông Lê Văn Thơ, Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Định.
     
         Bà Cho khởi kiện (ngày 26-4-1996) đòi ông Minh trả lại căn nhà trên khuôn viên đất 300 m2 mà bà khai là đã xây dựng trên đất cha mẹ bà (cụ Sáng và cụ Hồ) cho và bà đã cho gia đình cụ An (cha của ông Minh) ở nhờ từ năm 1960.
     
    Ông Minh không đồng ý trả nhà và khai rằng cha ông (cụ An) đã mua căn nhà này của cụ Hồ và bà Cho từ năm 1960.
     
            Bản án sơ thẩm lần thứ nhất bác yêu cầu của bà Cho. Bản án phúc thẩm lần thứ nhất hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.
     
            Bản án sơ thẩm lần thứ 2 bác yêu cầu của bà Cho. Bản án phúc thẩm lần thứ 2 (số 36/DSPT ngày 18-4-2002 của TAND tỉnh Bình Định) sửa án sơ thẩm, xử: Công nhận nhà thuộc sở hữu của bà Cho. Buộc ông Minh trả nhà cho bà Cho bằng tiền là 261 triệu đồng (trong đó có 92 triệu đồng tiền Nhà nước đền bù do thu hồi một phần đất, ông Minh trực tiếp phải trả 169 triệu).
     
    Khoản 92 triệu đồng đã được thi hành, người đại diện cho bà Cho đã nhận. Khoản 169 triệu đồng ông Minh không nộp nên bị cưỡng chế thi hành án bằng việc bán đấu giá chính ngôi nhà tranh chấp. Tại phiên đấu giá ngày 11-10-2003, ông Thơ là người mua được nhà. Ngày 14-10-2003, ông Thơ đã nộp tiền mua đấu giá nhà (352 triệu đồng). Việc giao nhà cho ông Thơ chưa được thực hiện do có kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND tối cao (Kháng nghị số 84/KN-DS ngày 17-12-2003).
     
             Quyết định giám đốc thảm số 46/GĐT-DS ngày 30-3-2004 đã hủy bản án phúc thẩm số 36 và bản án sơ thẩm lần thứ 2; giao cho TAND tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại.
     
             Bản án sơ thẩm lần thứ 3 bác yêu cầu của bà Cho. Bản án phúc thẩm lần thứ 3 hủy án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại có ông Thơ (người mua đấu giá nhà) tham gia tố tụng.
     
             Bản án sơ thẩm lần thứ 4 bác yêu cầu của bà Cho. Bản án phúc thẩm lần thứ 4 hủy án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại có sự tham gia tố tụng của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bình định và Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh Bình Định.
     
             Bản án sơ thẩm lần thứ 5 (số 09/2007/DS-ST ngày 23-8-2007 của TAND tỉnh Bình Định) đã bác yêu cầu của bà Cho; buộc bà Cho phải trả ông Minh 92 triệu đồng (tiền Nhà nước đền bù) và 31 triệu đồng tiền lãi; bà Cho phải trả ông Thơ tiền lãi của khoản tiền mua đấu giá nhà, chi phí đấu giá, tổng là 13 triệu đồng; Cơ quan Thi hành án dân sự phải trả ông Thơ tiền mua nhà 352 triệu đồng và 90 triệu đồng tiền lãi; bác yêu cầu đòi tiền công (7 triệu đồng) của Trung tâm bán đấu giá.
     
           Bản án phúc thẩm lần thứ 5 (số 92/2008/DS-PT ngày 19-8-2008 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng) đã quyết định y toàn bộ án sơ thẩm.
     
    Bản án phúc thẩm bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị. Tại phiên họp ngày 10-6-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm (số 09/2007) và bản án dân sự phúc thẩm (số 92/2008); giao cho TAND tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại. Trong nhận định của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề quan trọng như sau:
     
    1. Về xác định quan hệ tranh chấp:
     
    Vụ án đã qua nhiều lần xét xử nhưng việc xác định quan hệ pháp luật chưa đúng nên đã áp dụng pháp luật chưa đúng. Nếu là tranh chấp về nhà ở thì phải áp dụng pháp luật về nhà ở (kể cả khuôn viên cũng là bộ phận của ngôi nhà, được giải quyết theo pháp luật về nhà).
     
    Bà Cho đòi nhà cho ở nhờ. Ông Minh thừa nhận nhà vốn của bà Cho nhưng khai là cha ông đã mua. Theo quy định về những vấn đề không phải chứng minh (quy định tại Điều 80 BLTTDS) thì do ông Minh đã thừa nhận nên bà Cho không cần phải có chứng minh gì khác về quyền sở hữu nhà. Ông Minh nêu ra sự kiện cha ông đã mua nhà của bà Cho thì ông Minh phải có nghĩa vụ chứng minh về sự kiện mua bán nhà này; không chứng minh được thì nhà vẫn thuộc sở hữu của bà Cho.
     
    Đây là quan hệ tranh chấp nhà nên phải áp dụng pháp luật là Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xác định rõ quan hệ tranh chấp ( quyết định ghi là "đòi lại nhà và đất ở") nhưng thực tế chỉ áp dụng pháp luật về đất đai, công nhận quyền sở hữu nhà cho ông Minh do đã sử dụng đất ổn định là áp dụng không đúng pháp luật.
     
    2. Về trách nhiệm của Cơ quan Thi hành án và Trung tâm Bán đấu giá tài sản.
     
    Cơ quan Thi hành án và Trung tâm Bán đấu giá tài sản không phải là bên mua hay bên bán trong quan hệ mua bán đấu giá nên các tổ chức này không chịu trách nhiệm dân sự với tư cách bên mua hay bên bán. Cơ quan Thi hành án được giao quyền cưỡng chế thi hành án. Trung tâm bán đấu giá thực hiện dịch vụ tổ chức việc bán đấu giá để các bên mua bán thực hiện đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Cơ quan Thi hành án và Trung tâm Bán đấu giá chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có vi phạm và xác định vi phạm đó gây ra thiệt hại.
     
    3. Áp dụng quy định của BLDS năm 1995 hay BLDS năm 2005 (BLDS)?
     
    Việc bán đấu giá nhà được thực hiện vào ngày 11-10-2003. Đây là thời điểm thi hành BLDS năm 1995. Theo quy định của BLDS năm 1995 thì quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu không bị hạn chế; còn theo quy định của BLDS (Điều 256, Điều 258) thì trong trường hợp tài sản đã bị bán đấu giá do thi hành bán án đã có hiệu lực pháp luật, chủ sở hữu bị hạn chế quyền đòi lại tài sản. Vấn đề đặt ra là áp dụng BLDS năm 1995 hay BLDS đối với vụ án này. Đây là trường hợp kiện đòi lại tài sản đã xảy ra từ thời điểm thi hành BLDS năm 1995 và việc bán đấu giá cũng xảy ra từ thời điểm thi hành BLDS năm 1995 nên phải áp dụng các quy định của BLDS năm 1995 (không áp dụng quy định của BLDS về hạn chế quyền đòi lại tài sản).
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:08:05 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324362   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Có thể công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất hợp pháp khi đồng chủ sử dụng không ký vào hợp đồng?

    Vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Cường và vợ là bà Nguyễn Thị Nha với bị đơn là ông Nguyễn Văn Thường và vợ là bà Nghiêm Thị Thục do TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm. Bản án phúc thẩm bị kháng nghị là bản án số 55/2009/DS-PT ngày 31-3-2009 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội.
     
           Ông Cường và bà Nha trình bày: Ông bà nhận chuyển nhượng 83 m2 đất ở của ông Thường và bà Thục vào ngày 14-4-1994 với giá 3,5 triệu đồng, có lập giấy tay đề "giấy nhượng bán đất", chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền vì đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Ông bà đã giao đủ tiền, nhận đất. Ngày 22-4-1994, UBND huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thường (bao gồm cả 83m2 đất đã chuyển nhượng). Năm 2002, ông bà mua thêm 5,5m2 đất của bà Nguyệt, đổi cho ông Khang để được vuông đất. Sau khi xây tường bao, đất có diện tích 92m2. Năm 2003, ông bà nhượng đất cho anh Dương, ông Thường còn ký với tư cách làm chứng. Năm 2005, anh Dương xây dựng nhà thì xảy ra tranh chấp. Ông bà yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất với ông Thường, bà Thục là hợp pháp.
     
    Ông Thường và bà Thục khai rằng họ chỉ cho ông Cường, bà Nha mượn đất trồng cây; văn bản nhượng đất là giả mạo.
     
    Kết luận giám định xác định: chữ ký trong "giấy nhượng bán đất" là của ông Thường; nhưng chữ ký trong giấy này không phải của bà Thục.
     
           Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều đánh giá thực tế đã có việc chuyển nhượng đất như nguyên đơn khai nhưng đều xác định hợp đồng vô hiệu mặc dù không nêu rõ vô hiệu vì vi phạm những điều kiện gì, và đều xác định hai bên cùng có lỗi.
     
            Với cách đánh giá như trên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện đều đã có sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật. Nếu xác định các đồng chủ sử dụng đất đều đã tư nguyện chuyển nhượng thì dù có người không ký vào hợp đồng, thậm chí chỉ là hợp đồng miệng thì cũng không vi phạm quy định về định đoạt tài sản chung. Nếu chỉ vi phạm về hình thức của hợp đồng thì theo quy định của pháp luật (Điều 134 BLDS), Tòa án phải ấn định một thời hạn cho các bên hoàn thiện hợp đồng về hình thức; bên nào không thực hiện là có lỗi hoàn toàn (100%) chứ không thể xác định lỗi không có căn cứ rõ ràng như án sơ thẩm và phúc thẩm (xác định nguyên đơn phải chịu 20% lỗi).
     
     
             Tuy đây là trường hợp có vi phạm về hình thức hợp đồng và đất chuyển nhượng khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng theo quy định tại điểm b.2 và b.3 Tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQQ-HĐTP ngày 10-8-2008 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì hợp đồng vẫn được công nhân hợp pháp. Đó là quy định: " đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3, mục 2 này nhưng sau đó đã dược ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01-7-2004 mới có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này".
     
            Tại phiên họp ngày 12- 6-2013, Hội đồng Thẩm phán đã quyết định hủy bản án sơ thẩm và bán án phúc thẩm; giao cho TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại trên cơ sở nhận định: Tại nhiều biên bản hòa giải và lời khai đối chất, ông Thường, bà Thục thừa nhận đã chuyển nhượng đất cho ông Cường, bà Nha. Việc chuyển nhượng, đổi đất, xây tường rào diễn ra công khai, không bị phản đối. Khi ông Cường, bà Nha chuyển nhượng tiếp thì ông Thường còn ký với tư cách làm chứng.
     
    Với các chứng cứ như trên, mặc dù sau này ông Thương, bà Thục thay đổi lời khai cũng có đủ sơ sở xác định có việc ông Thường, bà Thục đã chuyển nhượng 83m2 đất cho ông Cường, bà Nha. Tuy hợp đồng chuyển nhượng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực và tại thời điểm chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đây là trường hợp được áp dụng quy định ở Tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao nên không bị coi là vô hiệu.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Tuy người đồng chủ sử dụng không ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng có các chứng cứ khác đủ để xác định họ biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì vẫn xác định việc giao kết hợp đồng không vi phạm quy định về định đoạt tài sản chung.
     
    Quy định về sự kiện "đã được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" tại Điểm b Tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không đòi hỏi là cấp cho bên chuyển nhượng hay bên được chuyển nhượng.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:15:32 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324368   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Quy định giao quyền sở hữu cho người trực tiếp quản lý di sản thừa kế

    Vụ kiện chia thừa kế nhà 43 Lý Bôn, thành phố Cà Mau giữa nguyên đơn Trần Văn Thành và đồng nguyên đơn Trần Thị Thu Dung với bị đơn Trần Thu Cúc được TAND tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm. Bản án phúc thẩm bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm là bản án phúc thẩm số 14/2010/DSPT ngày 29-01-2010 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
     
             Các nguyên đơn xin chia thừa kế nhà 43 Lý Bôn theo pháp luật và không thừa nhận các di chúc do bị đơn (bà Cúc) xuất trình với lý do họ không biết về các di chúc này. Bà Cúc trình bày bà đã có di chúc của cha mẹ giao cho bà được sở hữu toàn bộ ngôi nhà 43 Lý Bôn; cụ thể là di chúc bằng văn bản ngày 26-10-2000 của cụ Suối (cha của các đương sự) và di chúc miệng của cụ Nga (mẹ của các đương sự).
     
             Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều nhận định không có cơ sở xác điịnh cụ Nga có di chúc nhưng di chúc của cụ Suối là có thật và hợp pháp một phần (đối với phần quyền tài sản trong tài sản chung của cụ Suối và cụ Nga).
     
    Xác định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật. Cụ Nga chết ngày 02-5-1997, cụ Suối chết ngày 13-3-2007 nhưng lập di chúc cuối cùng vào ngày 16-10-2000 nên di chúc của cụ Suối và cụ Nga đều phải được xem xét theo quy định của BLDS năm 1995 (có hiệu lực từ 01-7-1996 đến 31-12-2005). Theo quy định tại Điều 655 BLDS năm 1995 về di chúc hợp pháp thì ngoài việc xác định di chúc có nội dung đúng ý chí người lập di chúc, không vi phạm điều cấm… thì còn phải tuân theo đúng quy định về hình thức di chúc.
     
    Di chúc đề ngày 16-10-2000 của cụ Suối là di chúc bằng văn bản đánh máy, có xác nhận của UBND phường 2 là do cụ Suối ký. Như vậy, di chúc này đúng quy định về hình thực loại di chúc có xác nhận của UBND xã, phường được quy định tại Điều 660 BLDS năm 1995.
     
     
            Bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đã xác định bà Cúc được hưởng thừa kế theo di chúc phần di sản của cụ Suối (1/2 nhà 43 Lý Bôn), còn phần di sản của cụ Nga được chia thừa kế theo pháp luật cho ông Thành, bà Cúc, bà Dung. Tuy vậy, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đều chỉ tuyên "Buộc bà Cúc giao cho ông Thành và bà Dung mỗi người 375 triệu đồng" mà không tuyên giao nhà 43 Lý Bôn cho bà Cúc sở hữu.
     
    Do Cơ quan Thi hành án có kiến nghị và bà Cúc có khiếu nại, bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
             Tại Phiên họp ngày 08-7-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, giao cho TAND tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm lại. Việc phải xét xử sơ thẩm lại còn có lý do để xem xét công sức chăm sóc cha mẹ và công sức quản lý nhà đất (của bà Cúc) nhưng căn cứ chủ yếu của việc hủy án là bỏ sót không tuyên giao sở hữu nhà 43 Lý Bôn cho bà Cúc.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Trong việc chia thừa kế cũng như chia tài sản chung cần quyết định chia cụ thể cho từng người tài sản gì, kể cả trường hợp bị đơn là người vẫn quản lý tài sản và nay họ được chia toàn bộ hiện vật. Việc bỏ sót không quyết định (với người nào đó hoặc tài sản nào đó) không thể khắc phục được bằng biện pháp sửa chữa, bổ sung bản án.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:20:06 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324369   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Trong việc giải quyết tranh chấp đòi tài sản, người không tham gia gây thiệt hại nhưng được hưởng lợi có phải tham gia bồi thường?

    Vụ kiện đòi lại tài sản là nhà số 2 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Nhân với bị đơn La Văn Vĩnh đã được xét xử nhiều lần; bản án phúc thẩm bị kháng nghị giám đốc thẩm là bản án số 71/2009/DS-PT ngày 25-9-2009 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng (Tòa án xét xử sơ thẩm là TAND tỉnh Bình Định).
     
           Bà Nguyễn Thị Nhân khai rằng: Nhà số 2 đường Nguyễn Thái Học do cha mẹ bà ( cụ Nguyễn Xuân Ba và cụ Đặng Thị Tình) mua của cụ Nguyễn Cậy vào ngày 15-3-1973 với diện tích 35 m2 dùng để xe ô tô. Từ năm 1976, Khu vực 6, phường Lê Hồng Phong mượn nhà này làm trường mẫu giáo và nơi hội họp của khu vực. Năm 1978, cha mẹ đều chết nên các anh chị em của bà (9 người) ly tán nhiều nơi. Năm 1991, gia đình bà xin trả lại nhà, đến năm 2003 mới được UBND tỉnh trả lời là nhà không bị nhà nước quản lý. Sau khi được UBND tỉnh trả lời, các anh chị em ủy quyền cho bà đòi lại nhà đang do ông La Văn Vĩnh sử dụng.
     
    Ông La Văn Vĩnh khai rằng: Năm 1995, ông mua nhà này của vợ chồng ông Lê Văn Cung, vợ là bà Lê Thị Thu, đã làm thủ tục đúng quy định của pháp luật và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ngày 18-11-2002. Nguồn gốc nhà này do Khu vực 6 bán cho vợ chồng ông Cung bà Thu và đã được cấp giấy sở hữu nhà trước khi bán cho ông.
     
    Ông Trần Đạo (nguyên Khu vực trưởng Khu vực 6) khai rằng vào năm 1985, ông là khu vực trưởng khu vực 6 có nghe nói bà Nhân đã bán nhà cho Khu vực nên ông cùng các tổ trưởng (7 tổ) và Chủ tịch UBND phường nhất trí bán nhà cho vợ chồng ông Cung bà Thu (nay không rõ ông Cung, bà Thu ở đâu).
     
     
           Tại bản án sơ thẩm lần cuối (số 08/2008/DSST ngày 29-7-2008), TAND tỉnh Bình Định không chấp nhận yêu cầu đòi lại hiện vật của nguyên đơn nhưng đã buộc UBND phường Lê Hồng Phong bồi thường giá trị quyền sử dụng đất (19,5 m2) cho nguyên đơn là 128 triệu đồng. Tòa án cấp phúc thẩm đã bác yêu cầu đòi đất của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn không có giấy chứng nhận hợp pháp về nhà ở, không thực hiện các nghĩa vụ về quản lý, đăng ký theo quy định và đã qua nhiều chủ mua bán ngay thẳng.
     
            Tại phiên họp ngày 25-7-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nêu trên, giao cho TAND tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại. Trong các căn cứ hủy án, có một số vấn đề pháp lý quan trọng như sau:
     
    Việc mua bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học giữa cụ Nguyễn Xuân Ba và cụ Nguyễn Cậy có lập giấy tờ ngày 15-3-1973, giấy này không có xác nhận của chính quyền nhưng đến nay cụ Cậy vẫn thừa nhận. Quan hệ mua bán nhà này cũng không bị ai khác tranh chấp nên phải được công nhận cụ Ba đã có quyền sở hữu nhà từ việc mua bán nêu trên. Nhà không bị Nhà nước quản lý. Khu vực 6 mượn nhà nhưng sau đó tự ý bán nhà là không hợp pháp; dù những người mua sau này là ngay tình thì quyền sở hữu nhà hợp pháp của chủ cũ vẫn được xác định tồn tại và bảo vệ.
     
    Ông Vĩnh là người mua ngay tình, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp theo quy định. Như vậy, nếu ông Vĩnh phải trả lại tài sản thì ông Vĩnh sẽ được bồi thường, nếu ông Vĩnh không phải trả lại tài sản thì chủ cũ (các thừa kế của cụ Ba cụ Tình) được bồi thường. Vấn đề pháp lý đặt ra là những ai phải tham gia bồi thường?
     
            Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán xác định: Có một số lời khai là tiền bán nhà được dùng vào việc xây dựng nhà mẫu giáo mới. Vì vậy, cần làm rõ tiền bán nhà được sử dụng vào việc xây dựng nhà mẫu giáo mới như thế nào? Nhà mẫu giáo này ai là người sở hữu để xác định trách nhiệm bồi thường.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Trong việc giải quyết tranh chấp về đòi lại tài sản, không chỉ những người (cá nhân hoặc tổ chức) tham gia các giao dịch vô hiệu, người gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường mà cả những người được hưởng lợi ngay tình cũng phải trả lại lợi ích mà họ đã hưởng nên họ (người được hưởng lợi ngay tình) cũng phải tham gia tố tụng với tư cách đương sự.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:25:53 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324376   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Người mua nhà phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất

    Vụ kiện giữa nguyên đơn Vũ Văn Trường với bị đơn Trương Thị Kim Nhỏ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán nhà số 128/1 Nguyễn Văn Quá, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh do TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm là bản án phúc thẩm số 03/2010/DS-ST ngày 07-01-2010 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
     
           Ông Trường khai rằng: Cụ Nhứt (mẹ ông) và cụ Huyện (em cụ Nhứt) có 5 căn nhà cho thuê. Năm 1973, cụ Huyện tự ý bán một căn (nay là nhà 128/1 Nguyễn Văn Quá) cho cụ Chan (cha bà Nhỏ) với giá 80.000 đồng nhưng đất thì không bán; hợp đồng ghi rõ "về đất thì mỗi năm phải trả 500 đồng bạc". Năm 2006, cụ Nhất đã chết, ông đại diện cho các thừa kế của cụ Nhứt khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà hoặc buộc bà Nhỏ hoàn trả giá trị đất.
     
    Bà Nhó không chấp nhận yêu càu của ông Trường (cha mẹ bà Nhỏ đã chết).
     
             Bản án phúc thẩm đã y án sơ thẩm, buộc bà Nhỏ thanh toán cho ông Trường (đại diện cho các thừa kế của cụ Nhứt) tiền giá trị đất là 715 triệu đồng.
     
             Tại phiên họp ngày 08-7-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm nêu trên, giao cho TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sớ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán là trên cơ sở nhận định:
     
    Theo trình bày của các bên đương sự và thể hiện ngay trong "Tờ bán nhà" ngày 24-12-1973 thì cụ Huyện chỉ bán phần nhà, còn phần đất thì tiếp tục cho thuê. Đất cho thuê là đất đô thị nên theo quy định tại Mục 6 Phần I Quyết định số 111/CP ngày 14-4-1977 của Hội đồng Chính phủ  “về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam”  thì đất thuộc Nhà nước quản lý, gia đình bà Nhỏ là người đang sử dụng thì có quyền sử dụng chính thức.
     
    Đây là trường hợp mà một số thẩm phán đã phạm sai lầm do nhận thức quy định của pháp luật về đất cho thuê ở đô thị cũng như nhà cho thuê nên cho rằng nếu không có quyết định quản lý hay chưa bố trí sử dụng thì quyền sử dụng đất vẫn của chủ cũ. Quy định tại quyết định 111/CP (đã viện dẫn trên) là :
     
    "6. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt.
     
    7. Người đang thuê đất được phép sử dụng mà không được mua bán, chuyển dịch và phải tuân theo những quy định về quản lý nhà đất ở đô thị.”.
     
    Vì vậy, kể từ ngày có Quyết định 111/CP (ngày 14-4-1977), người đang ở thuê đất tại đô thị đương nhiên trở thành người sử dụng đất hợp pháp.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Đất đô thị cho thuê từ trước ngày ban hành Quyết định số 111/CP ngày  14-4-1977 của Hội đồng Chính phủ “về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam” thì từ ngày có Quyết định này, chủ cũ (người cho thuê đất) không còn quyền sử dụng đất; đất đó đã thuộc Nhà nước quản lý và giao cho người thuê được quyền sử dụng, không đòi hỏi phải có quyết định cá biệt về quản lý đất
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:37:35 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324380   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Không trực tiếp chiếm đoạt tài sản có thể bị kết án lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

    Phan Chí Lộc, khi bị khởi tố là Phó Giám đốc Công ty TNHH Lộc Hòa- Việt Úc (sau đây gọi tắt là Công ty Lộc Hòa) có vợ là Nguyễn Thị Hòa, khi bị khởi tố là Giám đốc Công ty Lộc Hòa.
     
             Tháng 6-2006, Lộc đi thăm con tại Úc, gặp Dương Thị Minh Phụng, quốc tịch Úc, gốc Việt Nam. Phụng giới thiệu tên là Hương, đang làm việc tại Bộ Di trú Úc. Lộc nhở Phụng giúp gia đình Lộc định cư tại Úc. Phụng yêu cầu nộp 35000 AUS (đô-la-Úc) và đưa địa chỉ, số điện thoại để liên lạc với cháu Phụng là Nguyễn Thị Yến Nhi đang trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 7-2006, Lộc điện thoại cho vợ (Hòa) và Hòa đã chuyển cho Nhi 22000 AUS và 2800 USD.
     
    Tháng 9-2006, Lộc về Việt Nam, được Nhi đón tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phụng về sau Lộc 2 ngày, cùng Lộc từ thành phố Hồ Chí Minh về nhà Lộc tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; sau đó cùng về thăm quê Lộc tại tỉnh Quảng Bình.
     
    Theo Lộc và Hòa khai thì theo gợi ý của Phụng, Lộc và Hòa xin phép thành lập Công ty Lộc Hòa để làm dịch vụ đưa người sang Úc, vợ chồng Lộc Hòa sẽ được hưởng thù lao (có lời khai là 50 triệu một hồ sơ , có lời khai mức tiền ít hơn). Ngày 10-10-2006, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty Lộc Hòa. Mặc dù giấy phép kinh doanh chỉ là tư vấn du học, du lịch, thăm thân… nhưng thực tế Công ty Lộc Hòa thông báo làm dịch vụ tuyển sinh du học, tuyển dụng lao động xuất khẩu. Lộc đã quảng cáo là được ủy nhiệm của nhiều Trường tại Mỹ, Úc,         Ca-na-da…có cháu ở Úc lấy chồng là nhân viên sứ quán Úc tại Việt Nam.
     
     
    Từ tháng 9-2006 đến tháng 5-2007, Lộc và Hòa đã thu của 30 người số tiền 6.250.200.000 đồng và hướng dẫn 4 người chuyển tiền vào tài khoản của Nhi là 371.000.000 đồng, tổng cộng 34 người là 6.621.200.000 đòng. Quá hạn (các biên nhận ghi thời hạn 3 tháng) các bị hại đã có đơn tố cáo. Lộc và Hòa khai đã chuyển cho Phụng và Nhi tổng cộng 7,5 tỷ đồng, trong đó chuyển qua tài khoản của Nhi là 4.963.000.000 đồng. Nhi đã rút tiền và bỏ trốn.
     
           Ngày 16-01-2009, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố Lộc và Hòa đều về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Khoản 4 Điều 139 BLHS. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2009/HS-ST, TAND tỉnh Quảng trị đã xử phạt Lộc 9 năm tù, Hòa 7 năm tù nhưng tại bản án hình sự phúc thẩm số 04/2009/HS-PT, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
     
    Ngày 19-8-2010, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị vẫn truy tố Lộc và Hòa về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Khoản 4 Điều 139 BLHS. Bản án  hình sự sơ thẩm số 20/2010/HS-ST ngày 29-9-2010 và  bản án hình sự phúc thẩm số 139/2011/HS-PT ngày 05-4-2011 đều tuyên bố Lộc và Hòa không phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với nhận định: Lộc và Hòa có nhận tiền của các bị hại nhưng đã chuyển cho Phụng và Nhi, được Nhi xác nhận và kết quả giám định chữ ký trong giấy xác nhận ngày 01-6-2007 đúng là chữ ký của Nhi nên Lộc và Hòa không có hành vi chiếm đoạt. Đồng thời, cũng chưa có căn cứ xác định Lộc và Hòa biết Phụng và Nhi có hành vi lừa đảo khi chuyển giao tiền cho Nhi.
     
             Bản án hình sự phúc thẩm số 139/2011/HS-PT đã bị Viện trưởng  Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
             Tại phiên họp ngày 22-7-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại với nhận định: Đã có đủ dấu hiệu xác định Lộc và Hòa đồng phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; vấn đề cần điều tra làm rõ thêm là chỉ đồng phạm với vai trò giúp sức hay với vai trò cùng thực hành và làm rõ mức độ trực tiếp chiếm đoạt.
     
               Quyết định nêu trên của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng là:
     
    1. Dấu hiệu chiếm đoạt có phải là dấu hiệu bắt buộc với tất cả những người đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
     
    Trong đồng phạm, chỉ có người thực hành mới thực hiện đầy đủ các hành vi là dấu hiệu đặc trưng của tội đồng phạm; những người đồng phạm khác như người xúi dục, người giúp sức, và ngay cả người tổ chức thì họ thường chỉ thực hiện một số hành vi đặc trưng hoặc chỉ là hành vi giúp cho việc thực hiện hành vi đặc trưng. Ví dụ thông báo sự có mặt của bị hại để kẻ thực hành đến giết người đó thì mặc dù chỉ có hành vi thông báo cũng là đồng phạm giết người. Do vậy, lấy lý do không trực tiếp chiếm đoạt tài sản để xác định không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là sai lầm về áp dụng pháp luật. Không trực tiếp chiếm đoạt vẫn có thể là đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với vai trò người giúp sức.
     
    2. Về xác định ý chí của người đồng phạm (cố ý cùng thực hiện tội phạm).
     
    Kẻ phạm tội thường che dấu ý thức chủ quan của mình. Do vậy, cần đánh giá ý thức chủ quan qua các hành vi khách quan. Trong vụ án này, ban đầu các bị cáo Lộc và Hòa cũng tin vào lời hứa của Phụng và đã chuyển tiền cho Phụng để nhờ việc của chính gia đình các bị cáo nhưng thực tế thì Phụng không thực hiên được. Việc Lộc và Hòa phải bịa ra các tình tiết không có thực (như có quan hệ đặc biệt với cơ quan ngoại giao, những trường học, tổ chức ở nước ngoài…) thể hiện các bị cáo nhận thức được nếu không có các tình tiết này thì không đáng tin sẽ thực hiện được việc đưa người ra nước ngoài hợp pháp. Do vậy, với các hành vi khách quan có cơ sở xác định Lộc và Hòa biết việc lừa đảo có thể xảy ra nhưng có mục đích trục lợi nên cứ làm. Và trong trường hợp này cần phải xác định Lộc và Hòa đã chung ý chí với kẻ tổ chức và kẻ thực hành lừa đảo (Phụng và Nhi).
     
    3. Về đánh giá chứng cứ.
     
    Chỉ căn cứ vào kết luận giám định về chữ ký trong giấy xác nhận ngày   01-6-2007 là của Nguyễn Thị Yến Nhi để xác định Lộc và Hòa không chiếm đoạt tài sản là việc đành giá chứng cứ chưa chính xác. Chữ ký có thể đúng của Nhi nhưng nội dung xác nhận có đúng thực tế hay không là chưa thể xác định được trong khi số tiền xác minh qua chuyển khoản cho Nhi là ít hơn nhiều so với giấy xác nhận.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Không trực tiếp chiếm đoạt tài sản vẫn có thể bị kết tội đồng phạm chiếm đoạt tài sản. Việc xác định ý chí của người đồng phạm phải trên cơ sở đánh giá toàn diện các biểu hiện khách quan chứ không phụ thuộc vào sự thừa nhận của những người đồng phạm. Với các biểu hiện khách quan như trong vụ án này là đủ sơ sở xác định có chung ý chí phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 04:45:31 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324384   21/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Không biết địa chỉ của người thừa kế, có thể khởi kiện xin chia thừa kế được không?

    Cụ Vũ Đình Quảng (chết năm 1979) và vợ là cụ Nguyễn Thị Thênh (chết năm 1987) là chủ sở hữu nhà 66 phố Đồng Xuân, thành phố Hà Nội, có 6 người con là: ông Vũ Đình Hưng (nguyên đơn), bà Vũ Thị  Hiền (bị đơn), bà Vũ Thị Hậu (bị đơn); và 3 người ở nước ngoài là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo.
     
           Ngày 28-10-1982, có sự chứng kiến của cụ Thênh (cụ Thênh không ký vào văn bản), ông Hưng cùng bà Hiền, bà Hậu đã lập tờ "Họp gia đình" phân chia nhà 66- Đồng Xuân làm 3 phần và sử dụng theo phân chia này. Năm 1989, bà Hiền đã bán phần nhà đang sử dụng cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Năm 1993, bà Hậu bán phần nhà đang sử dụng cho bà Hà Thúy Linh.
     
    Năm 1993, ông Hưng khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nhà 66-Đồng Xuân vì cho rằng việc phân chia năm 1982 chỉ là tạm chia để sử dụng và những người thừa kế ở nước ngoài đã ủy quyền cho ông quản lý phần của họ. Bà Hiền và bà Hậu cho rằng việc phân chia năm 1982 là chính thức và họ chỉ bán đúng phần mà họ được chia.
     
            Vụ án đã được xét xử sơ thẩm lần đầu tại bản án số 20/DSST ngày 23-5-1995 của TAND thành phố Hà Nội. Khi đang ở giai đoạn xét xử phúc thẩm lần thứ hai, Tòa án cấp phúc thẩm ra Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án (ngày 15-7-1997). Sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH ngày 27-7-2006,Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục giải quyết vụ án và đã quyết định hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại. TAND thành phố Hà Nội đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Quyết định này bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy.
     
    TAND thành phố Hà Nội tiếp tục có Quyết định số 54/DS-ST ngày 30-9-2009 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của một số đương sự (có thông tin là ông Đường, bà Thảo đã chết nên các thừa kế của họ trở thành những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Tại Quyết định phúc thẩm số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã quyết định giữ nguyên quyết định sơ thẩm số 54/DS-ST của TAND thành phố Hà Nội. Chánh án TAND tối cao đã có kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định phúc thẩm số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội.
     
             Tại phiên họp ngày 12-8-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án TAND tối cao; hủy Quyết định phúc thẩm số 44/2010/QĐ-PT và hủy Quyết định sơ thẩm số 54/DS-ST; giao cho TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vấn đề pháp lý quan trọng là:
     
    Có một số người thừa kế không rõ địa chỉ và vấn đề đặt ra là có thể giải quyết chia thừa kế vắng mặt họ hay không? Đây là vấn đề đã được đặt ra từ lâu, và đã có một thời gian, các Tòa án vẫn giải quyết chia thừa kế, giao phần thừa kế của người vắng mặt cho thừa kế khác quản lý. Đến thời điểm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự (01-01-2005), từ quy định nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của bị đơn, những người khác có đưa ra yêu cầu (yêu cầu độc lập hoặc yêu cầu phản tố) phải cung cấp địa chỉ của những người liên quan đến yêu cầu, dẫn đến nhận thức là chưa đủ điều kiện khởi kiện nếu không cung cấp được địa chỉ của tất cả các đương sự. Mặc dù tại Điểm a Khoản 1 Điều 36 BLTTDS có quy định " Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng…giải quyết" có nghĩa là nguyên đơn chỉ cần nêu ra địa chỉ sau cùng nhưng trong những trường hợp như vụ án này, có những đương sự chưa hề có thông tin về địa chỉ của họ (những người con của ông Đường, bà Thảo) và họ không phải là người cố tình trốn tránh thì cần phải xử lý như thế nào?
     
             Hội đồng Thẩm phán xét thấy cần tiếp tục giải quyết vụ án chia thừa kế và giao cho người thừa kế có địa chỉ tạm quản lý kỷ phần thừa kế của người vắng mặt là đảm bảo quyền lợi của cả những người có mặt và những người vắng mặt. Tất nhiên, để đảm bảo quyền tố tụng của đương sự, cần thực hiện việc thông báo, tống đạt, áp dụng các biện pháp ủy thác tư pháp theo đúng quy định của pháp luật tố tụng và thu thập đầy đủ chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Trong trường hợp không biết địa chỉ của một hay một số người thừa kế vẫn có thể khởi kiện chia thừa kế. Những người thừa kế chưa rõ địa chỉ vẫn là đương sự của vụ án và họ vẫn được thông báo, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và những quy định về ủy thác tư pháp. Khi đã thu thập đủ chứng cứ xác định những vấn đề của vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của từng đương sự, Tòa án có thể chia thừa kế và tạm giao cho thừa kế có mặt tạm quản lý kỷ phần thừa kế của người thừa kế không rõ địa chỉ.
    Cập nhật bởi danusa ngày 21/05/2014 05:06:48 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324478   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Trường hợp nào phải có “giấy phép thầu” để việc giao kết và thực hiện hợp đồng hợp pháp?

    Nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Orange Engineesing (sau đây gọi tắt là Công ty Orange) có địa chỉ tại Hàn Quốc. Bị đơn là Công ty cổ phần Phát triển  Phú Mỹ (sau đây gọi tắt là Công ty Phú Mỹ) có địa chỉ tại thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn có đơn khởi kiện đề ngày 19-11-2010 yêu cầu buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng dịch vụ ký kết ngày 15-6-2007.
     
            Nội dung hợp đồng ngày 15-6-2007 giữa Công ty Orange và Công ty Phú Mỹ có một số điều khoản cơ bản là: Công ty Orange làm nhà thầu cung cấp dịch vụ thiết kế cho Dự án xây dựng công trình “Câu lạc bộ quốc gia và sân golf Đôi Chim Câu” tại xã Phú Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một; thời hạn dịch vụ là 3 tháng sau ngày ký kết hợp đồng; giá dịch vụ là 400.000.000 KRW (tiền won Hàn Quốc) chia làm 3 đợt (đợt 1 là 120.000.000 KRW, đợt 2 là 120.000.000 KRW, đợt 3 là 160.000.000 KRW).
     
    Công ty Orange cho rằng đã hoàn tất nghĩa vụ, ngày 20-9-2007 đã bàn giao cho Công ty Phú Mỹ CD và bản vẽ chi tiết; sau 10 ngày không có phản hồi từ Công ty Phú Mỹ có nghĩa là Công ty Phú Mỹ đã chấp nhận sản phẩm (theo quy định tại Điều 12 của Hợp đồng) nên yêu cầu Công ty Phú Mỹ phải thanh toán nốt 160.000.000 KRW (đã nhận đợt 1 và đợt 2 theo Hợp đồng) và lãi chậm trả của khoản tiền này.
     
    Công ty Phú Mỹ cho rằng chưa nhận được thiết kế hoàn chỉnh, đã yêu cầu Công ty Orange sửa lại nhiều hạng mục nhưng Công ty Orange chậm chễ nên đã phải thuê đối tác khác. Do vậy, Công ty Phú Mỹ không chấp nhận đề nghị thanh toán của Công ty Orange.
     
            Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm của TAND thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 127/2011/KDTM-PT của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đều quyết định chấp nhận yêu cầu của Công ty Orange , buộc Công ty Phú Mỹ thanh toán cho Công ty Orange phí dịch vụ còn thiếu và lãi chậm trả.
     
    Công ty Phú Mỹ có khiếu nại. Viện trưởng VKSND tối cao đã có kháng nghị giám đốc thẩm  đối với bản án phúc thẩm với nhận xét: Hai bên không có biên bản bàn giao nên chưa có cơ sở xác định ngày Công ty Phú Mỹ nhận CD và các bản vẽ thiết kế của Công ty Orange. Thực tế, sau ngày Công ty Orange khai là đã bàn giao sản phẩm (20-9-2007) thì hai bên vẫn có công văn trao đổi với nhau về việc sửa đổi để hoàn thiện thiết kế nên việc khẳng định Công ty Orange đã hoàn thành nghĩa vụ để buộc Công ty Phú Mỹ thanh toán là chưa đủ cơ sở.
     
            Tại phiên họp ngày 13-8-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy  Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm và Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm, giao cho TAND thành phố Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trong là:
     
    Dịch vụ thiết kế xây dựng công trình là một hoạt động xây dựng (theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2003 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do vậy, việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ thiết kế xây dựng phải tuân theo các quy định của pháp luật về xây dựng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng pháp luật chuyên nghành mà chỉ căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng dịch vụ thiết kế xây dựng nêu trên là chưa đầy đủ và chưa chính xác.
     
    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Xây dựng thì tổ chức thực hiện thiết kế xây dựng công trình phải đáp ứng các điều kiện sau:"a. Có đăng ký hoạt động thiết kế xây dựng công trình; có đủ điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng công trình…". Trong quá trình tố tụng, Công ty Orange chỉ xuất trình "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh" đề ngày 9-12-2008 của Văn phòng thuế. Với chứng nhận này thì chưa đủ cơ sở xác định Công ty Orange có đăng ký hoạt động thiết kế xây dựng công trình ở thời điểm ký kết hợp đồng với Công ty Phú Mỹ hay không.
     
    Một điều kiện quan trọng khác để xác định hợp đồng nêu trên hợp pháp  là Công ty Orange phải có "Giấy phép thầu". Theo quy định tại Quy chế quản lý lao động của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 87/2004/QĐ-TTg ngày 19-5-2004 của Thủ tướng Chính phủ) thì Giấy phép thầu là " giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho nhà thầu nước ngoài theo từng hợp đồng sau khi trúng thầu hoặc được lựa chọn thầu theo quy định của pháp luật Việt Nam" (Khoản 10 Điều 2 của Quy chế). Và theo Điều 3 của Quy chế nêu trên thì: " Nhà thầu nước ngoài chỉ được hoạt động tại Việt Nam sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép thầu".
     
            Đối chiếu với các quy định của pháp luật về xây dựng nêu ở trên thì Hợp đồng dịch vụ giữa Công ty Orange và Công ty Phú Mỹ ký ngày 15-6-2007 là vô hiệu. Bản án  sơ thẩm, Bản án  phúc thẩm, và cả Kháng nghị giám đốc thẩm xác định hợp đồng nêu trên là hợp đồng hợp pháp, giải quyết tranh chấp theo các quy định về hợp đồng hợp pháp là chưa chính xác. Cần phải giải quyết xét xử sơ thẩm lại theo hướng tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Đối với nhà thầu nước ngoài, ngoài các điều kiện như nhà thầu trong nước thì nhà thầu nước ngoài phải có " giấy phép thầu" mới được hoạt động xây dựng tại Việt Nam. Hợp đồng có một bên là nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam không đề cập đến Giấy phép thầu là hợp đồng vô hiệu; việc giải quyết tranh chấp loại hợp đồng này phải theo các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 10:59:38 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #324480   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, có thể khởi kiện đòi lại tài sản được chia theo bản án trước đây không?

    Theo quyết định tại bản án dân sự phúc thẩm số 09/DSPT ngày 24-7-1979 của TAND tỉnh Phú Khánh (cũ) về vụ án dân sự “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Liễu với bị đơn là ông Lê Công Tú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Đình Lạc thì ông Tú, ông Lạc được hưởng 1/3 diện tích đất vườn (có cây cối) trong thửa đất có diện tích 6 sào 14 thước 5 tấc tại thôn Đông, xã Vĩnh Phương, thành phố Nha Trang; phần diện tích đất còn lại (có ngôi nhà ngói 3 gian) bà Liễu được hưởng.
     
             Năm 2007, bà Lê Thị Điệp (vợ của ông Tú) và bà Nguyễn Thị Nhỏ (vợ của ông Lạc) khởi kiện cho rằng ông Tú và ông Lạc có nhờ gia đình bà Liễu trông coi giúp đất vườn được chia nhưng sau khi ông Tú và ông Lạc chết (đều chết năm 2002) thì gia đình bà Liễu chặt cây cối để xây dựng nhà ở nên yêu cầu bà Liễu trả lại phần đất vườn mà ông Tú, ông Lạc được chia. Bà Liễu cho rằng ông Tú và ông Lạc không yêu cầu thi hành án mà chuyển đi nơi khác sinh sống, nay đã hết thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật nên không đồng ý trả lại đất.
     
              Tại bản án dân sự sơ thẩm số 40/2007/DSST ngày 26-9-2007, TAND tỉnh Khánh Hòa đã quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc gia đình bà Liễu trả lại cho các thừa kế của ông Lạc 450 m2 đất vườn, các thừa kế của ông Tú 450 m2 đất vườn. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm  số 60/2008/DSPT ngày 16-4-2008, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ việc giải quyết vụ án. Các nguyên đơn có khiếu nại. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
     
              Tại phiên họp ngày 12-8-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm , giao cho TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vấn đề pháp lý quan trọng là:
     
             Việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 168 BLTTDS và Khoản 2 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án là không chính xác. Đây không phải là trường hợp “Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Sự việc trong vụ án này là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản đang do người khác chiếm giữ chứ không phải là kiện chia thừa kế. Việc kiện chia thừa kế chính  là quan hệ tranh chấp đã được giải quyết tại Bản án số 09/DSPT ngày 24-7-1979. Bản án 09/DSPT đã xác lập quyền tài sản (quyền sử dụng đất ) cho ông Tú và ông Lạc dù chưa có việc thi hành giao nhận đất. Ông Tú đã có quyền sử dụng đất, nay ông Tú và ông Lạc chết thì quyền tài sản này được thừa kế nên các thừa kế của ông Tú, ông Lạc có quyền khởi kiện đòi lại tài sản. Thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết thì những người được thi hánh án không còn quyền yêu cầu cơ quan thi hánh án hỗ trợ chứ không phải hết thời hiệu thi hánh án thì bản án không còn giá trị hiệu lực.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án không có nghĩa là bản án bị hủy bỏ. Chỉ coi là sự việc đã được giải quyết nếu không khác sự việc cũ về nguyên đợn, bị đơn,và quan hệ pháp luật tranh chấp; nói cách khác là Tòa án không được quyết định lại quyết định đang có hiệu lực. Do vậy, có những việc đã chia thừa kế, đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, đương sự vẫn có thể khởi kiện đòi lại tài sản.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 11:11:33 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #324486   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Tài sản của các liên doanh khi nào được coi là tài sản Nhà nước

             Nguyễn Vĩnh Hà sinh năm 1973, khi bị khởi tố là Tổ phó Tổ Thu ngân của Câu lạc bộ giải trí Royale thuộc Công ty liên doanh Khách sạn Sài Gòn Riverside. Vụ án còn có bị cáo Trần Quang Đạt sinh năm 1985, khi bị khởi tố là bảo vệ của Câu lạc bộ giải trí Royale.
     
    Câu lạc bộ giải trí Royale (CLB) trình báo với cơ quan điều tra bị mất trộm 500 triệu đồng vào đêm 6-3-2007. Số tiền này được cất trong két sắt đặt trong phòng AM của CLB. Theo quy định của CLB thì nhân viên thu ngân giữ thẻ từ mở phòng AM và mã két sắt, bảo vệ giữ chìa khóa cơ phòng AM và chìa mở ngăn để chìa khóa két sắt; khi ra khỏi phòng thì bảo vệ ra trước.
     
              Kết quả điều tra đã xác định được Đạt là người đã trộm 500 triệu đồng nêu trên. Đạt khai việc trộm tiền có sự thông đồng với Hà. Hà không thừa nhận việc thông đồng trộm cắp mà chỉ thừa nhận quên khóa mã két sắt và ra khỏi phòng AM trước Đạt.
     
    Nguyễn Vĩnh Hà và Trần Quang Đạt đều bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 4 Điều 138 BLHS. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 128/2012/HS-ST ngày 27-4-2012 của TAND thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự phúc thẩm số 696/2012/HS-PT ngày 25-7-2012 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đều xử phạt Hà 6 năm tù về tội  “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” theo Khoản 3 Điều 144 BLHS (Đạt bị án sơ thẩm xử phạt 8 năm tù về tội trộm cắp tài sản và không kháng cáo).
     
     
              Bản án phúc thẩm đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm với lý do: Công ty liên doanh Khách sạn Sài Gòn Riverside không phải là doanh nghiệp Nhà nước nên kết án Hà về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” là không đúng pháp luật mà Hà chỉ có dấu hiệu phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 285 BLHS.
     
              Tại phiên họp ngày 16-8-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo hướng xác định Nguyễn Vĩnh Hà phạm tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo Điều 145 BLHS. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán trên sơ sở nhận định:
     
    Theo quy định tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thì  doanh nghiệp nhà nước là  "tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối…". Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Doanh nghiệp nhà nước  năm 2003 thì "Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó". Công ty liên doanh Khách sạn Sài Gòn Riverside có phần vốn góp của Nhà nước chỉ là 28% vốn điều lệ. Do vậy, kết án Nguyễn Vĩnh Hà về tội "Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước" theo quy định tại Điều 144 BLHS như Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng.
     
              Việc kết tội Nguyễn Vĩnh Hà về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại Điều 285 BLHS như đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao tại Kháng nghị giám đốc thẩm  cũng chưa phù hợp vì tội này là loại tội phạm chức vụ trong khi nhiệm vụ của Hà (Tổ phó Tổ Thu ngân của Công ty liên doanh) không phải là công vụ.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Đối với các Công ty liên doanh thì Công ty có cổ phần vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ thì tài sản của công ty mới coi là tài sản Nhà nước; việc xâm hại đến tài sản của doanh nghiệp này mới bị coi là xâm hại đến tài sản Nhà nước.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 11:31:10 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #324488   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Sau 20 ngày nạn nhân mới chết có phạm tội giết người hay không

              Đỗ Văn Tuyến, sinh năm 1980, trú tại Hà Nội, đã có 2 tiền án (tái phạm), tiếp tục tham gia vào một vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bị phát hiện đã bỏ trốn vào các tỉnh miền Nam từ năm 2011.
     
    Ngày 21/12/2011, Tuyến uống rượu tại nhà một người quen ở thị xã Sa Đéc. Khi Tuyến về, chủ nhà đã trả tiền xe và nhờ lái xe taxi (anh Thông) mua vé xe cho Tuyến về Tp. Hồ Chí Minh. Đến bến xe Sa Đéc, thấy Tuyến say rượu nên nhân viên trạm xe không bán vé(với lý do đã hết vé). Tuyến nhờ anh Thông tìm xe khác, nhưng anh Thông từ chối nên đã xảy ra cự cãi, xô sát. Thấy anh Thông nhặt một cục đá, Tuyến bỏ chạy, nhảy lên xe taxi (do anh Lưu lái) yêu cầu chạy. Anh Thông phát hiện tay có máu, biết bị đâm nên chặn xe taxi của anh Lưu hô “đừng chở, nó vừa đâm tài xế đấy”. Anh Lưu nhảy khỏi xe. Tuyến cũng bỏ chạy. Anh Thông và nhiều người cùng đuổi theo Tuyến. Có người hô” Cướp, cướp”. Nhiều người ném gạch đá vào Tuyến.
     
    Trong khi mọi người áp sát, Tuyến dùng giao nhọn (mang theo người) khua đi, khua lại. Giao nhọn đã gây vết thương trên ngực anh Phong và đâm vào ngực anh Giàu. Anh Giàu chết sau 20 ngày điều trị, do vết đâm “thủng tâm thất phải”. Anh Thông bị thương ở bắp tay với tỷ lệ thương tật 01%. Anh Phong bị thương ở ngực và lưng với tỷ lệ 4,96%. Tuyến cũng bị thương tích ở đầu với tỷ lệ thương tật 02%.
     
              TAND tỉnh Đồng Tháp đã xét xử sơ thẩm, xử phạt tử hình Đỗ Văn Tuyến về tội giết người. Tuyến kháng cáo. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh đã giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
     
              Tại phiên họp ngày 16/8/2013 Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng là:
     
    1.Tuyến đã phạm tội giết người thuộc trường hợp quy định tại Điểm p, Khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự là “tái phạm nguy hiểm”
     
    2.Không đủ căn cứ xác định Tuyến đã phạm vào Điểm a, Khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự là “giết nhiều người”. Hành vi của Tuyến là khua dao để chống lại sự tấn công, bắt giữ Tuyến chứ không phải là chủ động tấn công những người khác. Hành vi của Tuyến không thể hiện Tuyến có ý định tước đoạt tính mạng của anh Thông, anh Phong và thực tế anh Thông và anh Phong chỉ bị thương tích nhẹ.
     
    3.Không đủ căn cứ xác định Tuyến phạm vào Điểm n, Khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự là phạm tôi”có tính chất côn đồ”. Tuy nạn nhân Phan Văn Giàu không có lỗi nhưng hành vi giết người mà Tuyến đã thực hiện không phải trong trường hợp vô cớ hay chỉ vì lý do nhỏ nhặt, thể hiện sự coi thường pháp luật. Tuy khởi đầu sự xô xát là do Tuyến nhưng hành vi giết người lại bắt đầu từ việc chống trả sự tấn công của người khác có phần do hiểu lầm.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    1.Nạn nhân bị tấn công sau nhiều ngày mới chết (20 ngày) vẫn xác định phạm tội giết người nếu vết thương là nguy hiểm đến tính mạng và không có sai sót về cứu chữa, điều trị.Cùng tấn công nhiều người, đã có người chết, cũng chưa thể xác đinh là “giết nhiều người” nếu không xác định được ý thức chủ quan của kẻ tấn công nhằm tước đoạt tính mạng của nhiều người.
     
    2.Tuy nạn nhân không có lỗi, khởi nguồn xô sát từ phía kẻ phạm tội nhưng xét hành vi phạm tội cụ thể chưa đến mức thể hiện tính côn đồ (vô cớ hoặc thể hiện sự coi thường pháp luật) thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội”có tính chất côn đồ”
     
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 11:40:34 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #324538   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Hiệu lực của di chúc được lập từ năm 1973

            Cố Lê kim Đích có 7 người con, trong đó có cụ Lê Kim Tôn (chết năm 1951, có 2 con, trong đó có bà Lê Thị Kim Thông),cụ Lê Kim Năm (có 3 vợ, trong đó có cụ Phạm thị Nga; có 13 người con,trong đó có ông Lê Kim Giao).
     
    Ngày 06-12-1973, cụ Đích lập di chúc, trong di chúc có nội dung giao nhà đất tại ấp Phú Ân Nam cho cụ Năm để thờ cúng sau khi cụ Đính chết. Thực tế, nhà và đất (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay là 2115 m2) đã được giao ngay cho cụ Năm còn cố Đích đi ở nơi khác. Ngày 28-10-1989, cụ Năm lập di chúc giao nhà đất nêu trên cho vợ là cụ Nga và con là ông Giao quản lý. Năm 1990, cụ Năm chết. Năm 1992, cố Đích chết.
     
    Ngày 16-10-1995, bà Thông và các đồng nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế. Vụ án phải tạm đình chỉ việc giải quyết một thời gian vì quan hệ tranh chấp thừa kế về nhà ở có thời điểm mở thừa kế trước 01-7-1991.
     
               Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2009/DSST ngày 11-8-2009 của TAND tỉnh Khánh Hòa và Bản án dân sự phúc thẩm số 29/2010/DSPT của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đều không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn (chỉ chấp nhận yêu cầu xin hủy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ Nga với người khác do xác định cụ Nga chỉ có quyền quản lý để thờ cúng). Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
               Tại phiên họp ngày 23-9-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm; giao cho TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng như sau:
     
              Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều cho rằng cụ Nga và ông Giao đã được giao quản lý nhà đất một cách hợp pháp. Nhận xét này của cấp sơ thẩm và phúc thẩm trên cơ sở cho rằng cố Đích đã biết việc cụ Năm chuyển giao quyền quản lý cho vợ cụ Năm (cụ Nga) và con trai cụ Năm (ông Giao) nhưng cụ Đích không phản đối.
     
               Quyết định giám đốc thẩm xác định: Việc chuyển giao nhà đất của cụ Năm cho cụ Nga và ông Giao là không hợp pháp. Di chúc của cố Đích chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế của cố Đích (năm 1992) nên năm 1989, cụ Năm không có quyền lập di chúc về tài sản chưa thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của cụ Năm. Cũng do người chỉ định để hưởng di sản đã chết trước thời điểm di chúc có hiệu lực (cụ Năm chết trước cụ Đích) nên phần di chúc của cụ Đích cho cụ Năm cũng không có hiệu lực. Và do vậy, phần nhà đất do cụ Đích tạo lập nêu ở trên là di sản của cụ Đích được chia thừa kế theo pháp luật.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Di chúc được lập trước khi có Pháp lệnh Thừa kế (có hiệu lực thi hành từ 10-9-1990 đến 31-6-1996) nhưng thời điểm mở thừa kế là thời điểm thi hành Pháp lệnh Thừa kế thì vẫn xác định hiệu lực di chúc theo quy định của Pháp lệnh Thừa kế là: Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế; nếu người hưởng thừa kế theo di chúc chết trước thời điểm di chúc có hiệu lực thì phần di chúc với người chết trước vô hiệu.
    Trong thời gian di chúc chưa có hiệu lực, việc thay đổi người quản lý tài sản khi người lập di chúc biết mà không có ý kiến cũng không thể coi là họ đã thay đổi di chúc.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 04:08:04 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324540   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Nhà từ đường có áp dụng pháp luật về nhà ở ?

                Cố Lê An và vợ là cố Nguyễn Thị Giếng có 7 người con, trong đó có cụ Lê Mười (nguyên đơn). Cụ Mười khởi kiện cho rằng căn nhà từ đường và quyền sử dụng 4000 m2 đất (đo thực tế là 4067 m2) tại thôn Vĩnh Điềm Trung là di sản của cố An và cố Giếng; yêu cầu được chia thừa kế. Bị đơn là ông Lê Văn Lợi (cháu gọi cụ Mười là chú ruột) không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng căn nhà hiện nay do cha của ông là cụ Hượt xây dựng lại và ông Lợi đã được cấp giáy chứng nhận quyền sử dụng đất.
     
    Trong quá trình giải quyết vụ án, một trong những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Ánh Nguyệt (em cùng cha khác mẹ với ông Lợi) yêu cầu chia thừa kế của cụ Lê Hượt về nhà đất nêu trên.
     
                Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2010/DSST ngày 22-01-2010 của TAND tỉnh Khánh Hòa và Bản án dân sự phúc thẩm số 35/2010/DSPT ngày 11-6-2010 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đều đình chỉ giải quyết yêu cầu của cụ Mười   ( với lý do di sản của cố An, cố Giếng không còn nên cụ Mười không có quyền khởi kiện) và chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyệt (xác định căn nhà tranh chấp trên 4067 m2 đất là di sản của cụ Hượt và 2 người vợ).
     
    Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
                 Tại phiên họp ngày 23- 9- 2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm; giao cho TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:
     
    Việc áp dụng pháp luật nào để giải quyết tranh chấp thừa kế căn cứ vào thời điểm giao dịch, tức là thời điểm mở thừa kế. Do vậy, tính chất của di sản (là nhà ở, nhà từ đường, hay chỉ là đất…) cũng phải được xác định ở thời điểm mở thừa kế. Trong vụ án này thì thời điểm mở thừa kế của cố An là năm 1952, của cố Giếng là năm 1981; di sản của ai thì xem xét theo thời điểm mở thừa kế của người ấy.
     
     
    Di sản ở thời điểm mở thừa kế nếu là nhà ở thì phải áp dụng quy định của pháp luật về nhà ở là Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  hoặc Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước 01-7-1991. Đáng lưu ý là theo quy định hiện hành (Công văn số 91/TANDTC-VKHXX ngày 28-6-2011) thì những người tham gia vào giao dịch dân sự về nhà ở phải định cư ở nước ngoài trước 01-7-1991 thì mới thuộc trường hợp áp dụng Nghị quyết 1037/2006. Trong vụ án này chưa xác định rõ ở thời điểm mở thừa kế có nhà ở hay vừa là nhà thờ vừa là nhà ở hay không; nếu chỉ là nhà từ đường (không dung để ở) thì không thuộc diện được áp dụng Nghị quyết 58/1998 cũng như Nghị quyết 1037/2006.
     
    Nếu tại thời điểm mở thừa kế mà có nhà ở thì đất thổ cư và khuôn viên nhà ở cũng là một bộ phận của nhà ở nên nếu hiện nay nhà không còn thì vẫn phải xác định đất đó được giải quyết theo pháp luật về nhà ở, bao gồm cả việc tính thời hiệu khởi kiện.
     
    Trong trường hợp ở thời điểm mở thừa kế không có nhà ở thì quyền sử dụng đất vẫn có thể là di sản thừa kế (theo quy định tại tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao) vì đất tranh chấp đã có “chứng thư kiến điền” ngày 01-7-1963 ghi “Thừa kế: Lê An (c), vợ Nguyễn Thị Giếng (1882)” tức là đã có một trong các loại giấy tờ quy định ở Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Tuy nhiên, nếu di sản chỉ là quyền sử dụng đất (không gắn với nhà ở) thì đến 11-6-2007 mới khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện nếu không có căn cứ gì khác.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    1.Nhà từ đường không dùng để ở thì không thuộc đối tượng của pháp luật về nhà ở.
     
    2.Thời điểm xác định tính chất của di sản là thời điểm mở thừa kế.
     
    3.Nhà hiện nay không còn nhưng đất vẫn có thể là di sản nếu đất đó là một bộ phận của nhà ở vào thời điểm mở thừa kế hoặc tuy không gắn với nhà ở nhưng thỏa mãn các điều kiện quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP là người để lại di sản có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 04:12:11 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324545   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Ủy quyền “mang tên quyền sở hữu nhà” có quyền đòi lại nhà?

             Năm 1990, trước khi xuất cảnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Kỷ bà Ngô Thị Mai đã ký kết “Đơn xin ủy quyền nhà” ngày 26-2-1990 với vợ chồng ông Ngô Văn Biểu (em ruột bà Mai) bà Trần Thị Dung có nội dung “ủy quyền ngôi nhà ghi trên mang tên quyền sở hữu nhà cho đằng nhận…” về ngôi nhà số 330/14/43 Khu phố 5, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa. Ngày 24-4-1990, ông Biểu, bà Dung được chuyển đứng tên quyền sở hữu nhà.
     
    Ông Kỷ còn có “Đơn xin cấp giấy chứng nhận không nhà đất” ngày 01-3-1990. Tuy vậy, tại “Giấy xác nhận lời cam kết về tài sản” của ông Biểu được lập tại Công chứng nhà nước ngày 08-01-1996, ông Biểu xác nhận quyền sở hữu nhà vẫn thuộc ông Kỷ bà Mai còn vợ chông ông chỉ là người quản lý. Năm 2003, ông Biểu chết.Năm 2006, anh Dũng (con ông Biểu) phá bỏ nhà cũ, làm nhà mới. Ngày 20-6-2008, ông Kỷ, bà Mai khởi kiện đòi bà Dung và anh Dũng trả lại quyền sử dung toàn bộ đất thổ sư (649 m2).
     
              Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2009/DSST ngày 14-7-2009, TAND tỉnh Đồng Nai chỉ chấp nhận cho nguyên đơn được đòi lại ½ diện tích đất bằng tiền với lý do chỉ có ông Biểu đồng ý trả lại nên chỉ trả lại tương ứng phần của ông Biểu.
     
              Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 70/2010/DSPT ngày 08-4-2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã sửa án sơ thẩm, buộc bà Dung, anh Dũng thanh toán cho ông Kỷ, bà Mai toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất (649m2) là 3.180.100.000đ. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
     
               Tại phiên họp ngày 24-9-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm; giao cho TAND tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:
     
    Pháp luật cho phép người xuất cảnh hợp pháp để định cư ở nước ngoài vẫn có quyền sở hữu nhà ở đối với nhà mà họ đã có quyền sở hữu trước khi xuất cảnh. Vì vậy, vì những lý do như để làm thủ tục xuất cảnh thuận lợi hoặc theo quy định của một số địa phương họ phải thực hiện một số giao dịch giả tạo (như ủy quyền đứng tên sở hữu, tặng cho, mua bán …) thì những giao dịch này vô hiệu.
     
    Trong vụ án này, các chứng cứ thu thập được, đặc biệt là “Giấy xác nhận lời cam kết về tài sản” do ông Biểu lập tại Công chứng nhà nước, đủ cơ sở khẳng định ý chí thực của các bên chỉ là ủy quyền quản lý nhà. Do đó, quyền sở hữu nhà vẫn tồn tại với ông Kỷ, bà Mai và họ có quyền đòi lại nhà. Cần lưu ý là họ có quyền đòi lại hiện vật chứ không phải chỉ có quyền đòi lại giá trị bằng tiền vì không phải là trường hợp mới tạo lập (thừa kế hay mua bán…) sau khi đã định cư ở nước ngoài.
     
    Bản án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nhưng Bản án này vẫn bị hủy vì đã không giải quyết việc đền bù công sức quản lý nhà. Tuy phía bị đơn không có yêu cầu phản tố riêng về việc đòi công sức quản lý nhưng phải coi yêu cầu được sở hữu nhà của họ là yêu cầu cao hơn, đã bao gồm yêu cầu công sức quản lý nhà. Chỉ trong trường hợp đã giải thích rõ nhưng bị đơn vẫn chỉ yêu cầu đòi sở hữu, không yêu cầu giải quyết về công sức quản lý thì Tòa án mới không giải quyết về công sức quản lý.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Người xuất cảnh hợp pháp để định cư ở nước ngoài tuy đã ký kết những giấy tờ có nội dung chuyển quyền sở hữu nhà cho người khác nhưng nếu những giao dịch này là giả tạo thì vẫn là giao dịch vô hiệu; người đã xuất cảnh vẫn có quyền đòi lại nhà.
     
    Người quản lý nhà không có yêu cầu riêng về công sức quản lý nhưng nếu họ có yêu cầu sở hữu nhà thì phải coi là trong yêu cầu đó có yêu cầu thanh toán công sức quản lý’.
     
     
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 04:20:02 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324547   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Không tham gia ở cấp sơ thẩm, có thể tham gia ở cấp phúc thẩm không?

              Cố Dương Thị Hiến (chết năm 1935) và cố Ngô Văn Khuê (chết năm 1947) có 6 người con, trong đó có cụ Ngô Văn Thời và cụ Ngô Văn Cử. Sinh thời, cố Khuê và cố Hiến có một ngôi nhà 3 gian làm trên đất của người khác. Cụ Cử quản lý nhà này đến năm 1972 thì dỡ nhà, trả đất, làm nhà mới trên đất do cố Khuê đứng bộ (diện tích 0m70s40m2, Bằng khoán lập ngày 12-9-1937).
     
    Tại đơn đề ngày 06-5-1988, cụ Thời yêu cầu chia thừa kế phần đất cụ Cử đang quản lý (có diện tích đo thực tế là 11.355m2). Cụ Cử không đồng ý chia thừa kế vì cho rằng đã quản lý đất này từ lâu và đất hiện nay chỉ còn khoảng 3000 m2 do đã chuyển nhượng và do Nhà nước thu hồi đất xây dựng trạm bơm Rạch Ngỗng (gia đình cụ Cử có nhận tiền bồi thường và 2 nền nhà tái định cư).
     
               Vụ án đã được xét xử nhiều lần. Bản án sơ thẩm lần cuối là Bản án số 04/2011/DSST của TAND thành phố Cần Thơ đã xác định di sản thừa kế là 7040 m2 đất và chia cho các thừa kế của cụ Khuê và cụ Hiến (diện tích 4315 m2 đất còn lại tuyên bố tách ra chưa giải quyết vì chưa đủ căn cứ là di sản thừa kế). Cụ Cử và một số đương sự có kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 145/2012/DSPT ngày 18-4-2012, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm đã bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
     
             Tại phiên họp ngày 27-9-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án dân sự sơ thẩm và Bản án dân sự phúc thẩm; giao cho TAND thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:
     
    1.Về việc bỏ sót người tham gia tố tụng:
     
               Cụ Trần Thị Cẩm Vân (vợ cụ Cử) là người cùng quản lý, sử dụng đất tranh chấp  với cụ Cử. Do vậy, trong vụ án tranh chấp thừa kế này, phải xác định cụ Vân là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cụ Vân vào tham gia tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm đã đưa cụ Vân vào tham gia tố tụng phúc thẩm.
     
    Kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng việc đưa cụ Vân vào tham gia tố tụng ngay ở cấp phúc thẩm là vi phạm “chế độ hai cấp xét xử”. Quyết định giám đốc thẩm xác định việc đưa cụ Vân vào tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm nếu được cụ Vân đồng ý thì không phải là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, không phải là căn cứ hủy bản án phúc thẩm.
     
    Chế độ hai cấp xét xử không có nghĩa là mọi vụ án phải được xét xử ở hai cấp. Việc xét xử sơ thẩm và phúc thẩm là xét xử thông thường và khi có đủ điều kiện thì phải được thực hiện (khác với xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là trình tự xét xử đặc biệt). Cụ Vân chưa tham gia tố tụng sơ thẩm chứ không phải quan hệ tranh chấp liên quan đến cụ Vân chưa được xét xử sơ thẩm. Phạm vi xét xử phúc thẩm  là sự việc đã được xét xử sơ thẩm và có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ.
     
    Việc chia thừa kế đối với diện tích đất mà cụ Vân tham gia quản lý đã được xét xử sơ thẩm và bị kháng cáo nên thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Cụ Vân có quyền tham gia tố tụng từ cấp sơ thẩm dể bảo vệ quyền lợi của mình nhưng nếu cụ Vân thấy không cần giải quyết sơ thẩm lại mà yêu cầu được tham gia tố tụng ngay ở cấp phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm đưa cụ Vân vào tham gia tố tụng là không vi phạm quy định nào về tố tụng cũng như không vi phạm quyền tố tụng của cụ Vân (cũng như khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm thì đương sự nào cũng có quyền đề nghị Tòa án xử vắng mặt họ).
     
    2.Về xác định di sản khi di sản là đất đã bị thu hồi một phần:
     
               Tính chất của di sản được xác định ngay ở thời điểm mở thừa kế là để xác định tính chất của giao dịch, trên cơ sở đó xác định đúng pháp luật cần áp dụng, đặc biệt là vấn đề thời hiệu khởi kiện (thừa kế nhà ở thì áp dụng pháp luật về nhà ở, thừa kế về đất thì áp dụng pháp luật về đất đai).
     
    Tuy nhiên, từ khi mở thừa kế đến khi chia thừa kế thì di sản có thể thay đổi và việc chia thừa kế là chia di sản thực tế còn tồn tại khi chia, có xem xét đến diễn biến của di sản trước đó. Vì vậy, phần đất đã bị thu hồi thì không còn là đất di sản mà tiền đền bù thu hồi đất mới là di sản.
     
    3.Đất tái định cư có phải là di sản hay không?
     
                Khi thu hồi đất, Nhà nước trả cho chủ sử dụng đất tiền đền bù thu hồi đất, và trong một số trường hợp, còn cấp đất tái định cư cho người đang sử dụng đất. Mục đích cấp đất tái định cư là tạo điều kiện tạo lập chỗ ở mới cho người đang sử dụng đất. Người đang sử dụng đất có thể là chủ sử dụng đất và cũng có thể không phải là chủ sử dụng đất nên nói chung, đất tái định cư không phải là khoản đền bù cho chủ sử dụng đất. Và do vậy, đất tái định cư không đương nhiên là di sản (chuyển hóa từ đất di sản đã bị thu hồi). Đất tái định sư chỉ là di sản khi được cấp không chỉ với mục đích tạo điều kiện có chỗ ở mới mà còn là việc đền bù bằng hiện vật (tiền đền bù bao gồm cả đất).
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    1.Quan hệ tranh chấp đã được xét xử sơ thẩm mà có đương sự không được tham gia tố tụng sơ thẩm nhưng nếu họ tư nguyện không yêu cầu xét xử sơ thẩm lại thì họ có thể tham gia ngay tố tụng phúc thẩm.
     
    2.Di sản là đất bị thu hồi (một phần hoặc toàn bộ) thì di sản để chia thừa kế là tiền đền bù thu hồi đất.
     
    3.Đất tái định cư được cấp do thu hồi đất không đương nhiên là tiền đền bù thu hồi đất nếu không có căn cứ xác định việc đền bù là đền bù bằng hiện vật (đất) hay có một phần bằng hiện vật.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 04:26:37 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #324549   22/05/2014

    danusa
    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2766)
    Số điểm: 31951
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1115 lần


    Buôn bán thuốc lá ngoại trong nội địa có phạm tội buôn bán hàng cấm?

             Nguyễn Ngọc Hòa, trú tại 412 Lê Đức Thọ, thành phố Hô Chí Minh. Ngày 07/6/2011, Công an thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Lê Thanh Bình (trú tại thành phố Hồ Chí Minh) vận chuyển 130 cây thuốc là ngoại (nhãn hiệu Jet), Nguyễn Hữu Bình (trú tại thành phố Hồ Chí Minh) vận chuyển 146 cây thuốc lá ngoại (nhãn hiệu Hero) giao cho Hòa tại 412 Lê Đức Thọ.
     
    Khám xét 6 nơi Hòa cất dấu thuốc lá đã thu giữ 25.614 gói thuốc lá ngoại đều không có hóa đơn, chứng từ. Qua điều tra đã xác định Hòa  buôn bán thuốc lá ngoại từ năm 2010, trong đó có Lê Vũ Nguyên Thủy vừa cho Hòa thuê nhà để cất giấu thuốc lá vừa vận chuyển thuê cho Hòa.
     
    Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Hòa, Nguyễn Hữu Bình, Thủy đều về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự (Lê Thanh Bình được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự).
     
              Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2012/HSST ngày 20/3/2012, TAND thành phố Hồ CHí Minh đã áp dụng Khoản 3 Điều 155 BLHS xử phạt Hòa 4 năm tù, Bình 3 năm tù, Thủy 3 năm tù đều về tội Buôn bán hàng cấm.
     
         Các bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 565/2012/HSPT ngày 20/6/2012, Tòa Phúc  thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng Khoản 2 Điều 159 BLHS xử phạt Hòa 1 năm 6 tháng tù, Bình 1 năm 13 ngày tù, Thủy 1 năm 13 ngày tù đều về tội Kinh doanh trái phép.
     
     
               Bản án phúc thẩm đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm; đề nghị hủy Bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại vì cho rằng hành vi của Hòa và đồng bọn cấu thành tội Buôn bán hàng cấm, chỉ xử Hòa và đồng bọn về tội Kinh doanh trái phép là không đúng, từ đó giảm hình phạt cho các bị cáo là không nghiêm.
     
              Tại phiên họp ngày 15/10/2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao cho Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vấn đề pháp lý quan trọng sau:
     
    Tòa án cấp phúc thẩm xác định Hoà và đồng bọn chỉ phạm tội Kinh doanh trái phép mà không phạm tội Buôn bán hàng cấm là căn cứ vào quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, trong đó xác định “thuốc lá điếu, xì gà, các dạng thuốc lá thành phẩm khác” chỉ là mặt hàng hạn chế kinh doanh (Tiểu mục 6, Mục A, Phụ lục II).
     
    Việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp phúc thẩm là không chính xác vì hành vi của Hòa và đồng bọn bị phát hiện ngày 7/6/2011, ở thời điểm này đã có Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 (có hiệu lực từ 08/7/2009) sửa đổi, bổ sung Nghị định 59/2006/NĐ-CP, trong đó quy định “thuốc lá điếu, xì gà,  và các loại thuốc lá thành phẩm nhập lậu” là hành hóa cấm kinh doanh (bổ sung Tiểu mục 19, Mục A, Phụ lục I của Nghị định 59/2006/NĐ-CP). Vì vây, Hội đồng Thẩm phán thống nhất xác định như nhận xét của Kháng nghị giám đốc thẩm là hành vi của Hòa và đồng bọn đã cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điều 155 BLHS.
     
    Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
     
    Kể từ thời điểm Nghị định số 43/2009/NĐ-CP có hiệu lực (08/7/2009) thì hành vi buôn bán thuốc lá ngoại nhập lậu tại nội địa cũng cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điều 155 BLHS.
     
    Việc xác định là hàng cấm, hàng hóa hạn chế kinh doanh hay hàng hóa kinh doanh có điều kiện phải căn cứ vào các quy định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền tương ứng với thời điểm thực hiện hành vi buôn bán.
    Cập nhật bởi danusa ngày 22/05/2014 04:30:24 CH
     
    Báo quản trị |