Mình có bài tập môn thương mại các bạn giúp mình với không tuần sau là phải nộp mất rồi

Chủ đề   RSS   
  • #344426 14/09/2014

    nhuanh1209

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:14/09/2014
    Tổng số bài viết (11)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 1 lần


    Mình có bài tập môn thương mại các bạn giúp mình với không tuần sau là phải nộp mất rồi

    Ngày 12-3-2013, Công ty cổ phần xi măng Hoàng Thạch ký hợp đồng số 03/HĐXM-2013 để bán 1000 tấn xi măng đóng bao loại P400 chịu mặn cho Công ty TNHH xây dựng Sông Đà. Bên bán chịu trách nhiệm vận chuyển và hàng được giao thành 2 đợt, mỗi đợt 500 tấn vào giữa tháng các tháng 5 và 6-2013 tại công trình đập N của bên mua. Thực tế, Công ty vận tải đường thuỷ Mạo Khê thực hiện vận tải toàn bộ số hàng này nhưng đợt 1 được giao vào ngày 23-5-2013 nên bên mua cho rằng bên bán đã vi phạm hợp đồng vì giao hàng chậm và yêu cầu bên bán nộp 25.000.000 đ tiền phạt vi phạm. Bên bán cho rằng mình không phải chịu trách nhiệm vì tuy có lệch ít ngày về cuối tháng nhưng chưa phải là giao hàng chậm b theo cách tính thời hạn của pháp luật hiện hành, vả lại nguyên nhân chính là do người vận tải chậm trễ do đoàn xà lan đi sai luồng đường bị mắc cạn và coi đây là sự kiện bất khả kháng.

    Bên mua phát hiện số xi măng đã nhận trong đợt 1 không đủ hàm lượng phụ gia như mẫu hàng thoả thuận, nên không bảo đảm độ chịu mặn theo thiết kế, do đó không thể dùng để đổ bê tông đập N như mục đích của hợp đồng mua xi măng này. Ngày 31-5-2013, sau khi có kết quả thử nghiệm, bên mua đã thông báo ngay cho bên bán việc đình chỉ thực hiện hợp đồng và yêu cầu bên bán chịu phạt 50.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại thực tế 78.000.000 đồng do hợp đồng bị đình chỉ. Ngược lại, bên bán cũng đòi phạt 50.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại 60.000.000 đồng do hàng đợt 2 đã trên đường đi được 2 ngày, nay phải quay trở lại.

     Những yêu cầu:

    1. Xác định tính chất của hợp đồng số 03/HĐXM-2013. Giải thích rõ vì sao?

    2. Khi ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán xi măng, các bên phải căn cứ vào những đạo luật chủ yếu nào và nguyên tắc chung trong việc áp dụng các đạo luật có liên quan đối với mỗi quan hệ hợp đồng.

    3. Bên nào có trách nhiệm ký kết hợp đồng với Công ty vận tải đường thuỷ Mạo Khê và đây là quan hệ thương mại gì? Vì sao?

    4. Đợt 1 có thể coi là giao hàng chậm hay không? Vì sao? Nếu phải giải thích một điều khoản hợp đồng, phải căn cứ vào văn bản pháp luật nào ? 

    5. Như thế nào là sự kiện bất khả kháng? Bên bán có thể được miễn trách nhiệm đối với việc giao hàng chậm của đợt 1 hay không? Vì sao? 

                                                        

     
    6816 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #344730   15/09/2014

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4082)
    Số điểm: 31499
    Cảm ơn: 936
    Được cảm ơn 1932 lần


    Chào bạn nhuanh1209.

    Ngày 12-3-2013, Công ty cổ phần xi măng Hoàng Thạch ký hợp đồng số 03/HĐXM-2013 để bán 1000 tấn xi măng đóng bao loại P400 chịu mặn cho Công ty TNHH xây dựng Sông Đà. Bên bán chịu trách nhiệm vận chuyển và hàng được giao thành 2 đợt, mỗi đợt 500 tấn vào giữa tháng các tháng 5 và 6-2013 tại công trình đập N của bên mua. Thực tế, Công ty vận tải đường thuỷ Mạo Khê thực hiện vận tải toàn bộ số hàng này nhưng đợt 1 được giao vào ngày 23-5-2013 nên bên mua cho rằng bên bán đã vi phạm hợp đồng vì giao hàng chậm và yêu cầu bên bán nộp 25.000.000 đ tiền phạt vi phạm. Bên bán cho rằng mình không phải chịu trách nhiệm vì tuy có lệch ít ngày về cuối tháng nhưng chưa phải là giao hàng chậm b theo cách tính thời hạn của pháp luật hiện hành, vả lại nguyên nhân chính là do người vận tải chậm trễ do đoàn xà lan đi sai luồng đường bị mắc cạn và coi đây là sự kiện bất khả kháng.

    Bên mua phát hiện số xi măng đã nhận trong đợt 1 không đủ hàm lượng phụ gia như mẫu hàng thoả thuận, nên không bảo đảm độ chịu mặn theo thiết kế, do đó không thể dùng để đổ bê tông đập N như mục đích của hợp đồng mua xi măng này. Ngày 31-5-2013, sau khi có kết quả thử nghiệm, bên mua đã thông báo ngay cho bên bán việc đình chỉ thực hiện hợp đồng và yêu cầu bên bán chịu phạt 50.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại thực tế 78.000.000 đồng do hợp đồng bị đình chỉ. Ngược lại, bên bán cũng đòi phạt 50.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại 60.000.000 đồng do hàng đợt 2 đã trên đường đi được 2 ngày, nay phải quay trở lại.

     Những yêu cầu:

    1. Xác định tính chất của hợp đồng số 03/HĐXM-2013. Giải thích rõ vì sao?

    Câu 2 đã trả lời cho câu 1

    2. Khi ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán xi măng, các bên phải căn cứ vào những đạo luật chủ yếu nào và nguyên tắc chung trong việc áp dụng các đạo luật có liên quan đối với mỗi quan hệ hợp đồng.

    Câu 3 đã trả lời cho câu 2.

    3. Bên nào có trách nhiệm ký kết hợp đồng với Công ty vận tải đường thuỷ Mạo Khê và đây là quan hệ thương mại gì? Vì sao?

    Bên bán chịu trách nhiệm vận chuyển

    4. Đợt 1 có thể coi là giao hàng chậm hay không? Vì sao?

    "giao thành 2 đợt, mỗi đợt 500 tấn vào giữa tháng" "nhưng đợt 1 được giao vào ngày 23-5-2013 "

    Nếu phải giải thích một điều khoản hợp đồng, phải căn cứ vào văn bản pháp luật nào ? 

    Giải thích HĐ theo luật dân sự (bạn xem luật thương mại có hay không bổ sung thêm).

    5. Như thế nào là sự kiện bất khả kháng?

    Trong luật dân sự và luật thương mại đều có quy định.

    Bên bán có thể được miễn trách nhiệm đối với việc giao hàng chậm của đợt 1 hay không? Vì sao? 

    Điều này thì tuỳ nhận định của bạn và của giáo viên vì "mắc cạn" là khách quan, nhưng "xà lan đi sai luồng đường" là lỗi chủ quan nên tôi không chắc. 

    Hy vọng có thành viên khác giỏi về luật thương mại giúp bạn và tôi học ké.

                                                      

     

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 15/09/2014 08:16:37 CH
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    nhuanh1209 (15/09/2014)
  • #345095   18/09/2014

    hipgov
    hipgov
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:22/09/2013
    Tổng số bài viết (246)
    Số điểm: 1515
    Cảm ơn: 83
    Được cảm ơn 59 lần


    câu 1 và câu 2 bạn có thể tham khảo: 

    Hợp đồng thương mại là gì ?

    Khi nhắc đến hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên ( theo Điều 388 BLDS) .

    Như đã trình bày trong phần tổng quan nói trên , hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ. Nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp. Nói cách khác hiệu lực của hợp đồng là tạo lập, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ.

    Trong Luật thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại.

    Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo LTM 2005, cụ thể tại Điều 1 LTM 2005, theo đó bao gồm : hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó áp dụng luật này.

    1.1.           Đặc điểm của hợp đồng thương mại.

    Hợp đồng thương mại mang những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó có nổi bật 2 yếu tố cơ bản :

     -  Nội dung là các hoạt động thương mại.

     -  Được kí kết giữa các bên là thương nhân hoặc một bên là thương nhân ( được thê hiện ở yếu tố chủ thể )

    • ØVề chủ thể của hợp đồng thương mại

    Hợp đồng thương mại được kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân. Đây là một điểm đặc trưng của hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng dân sự.

    Như vậy, ch th trong Hợp đồng thương mại gm tơng nhân (bao gm tổ chc kinh tế đưcthành lập hợp pháp, cá nhân hoạt đng thương mi mt cách độc lp, tng xuyên và có Đăng kí kinh doanh), cá nhân, t chức khác  hoạt đng liên quan đến thương mại (Điều 2 LTM 2005)

    • ØNội dung của Hợp đồng thương mại

    Nội dung của hợp đồng thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của hợp đồng thương mại là nội dung của hợp đồng thương mại là hoạt động thương mại. Mỗi loại hợp đồng có những quy định nhất định về các điều khoản cơ bản. Ví dụ : Đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản cơ bản bao gồm đối tượng và giá cả.

    Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung, được quy định tại BLDS 2005. Loại trừ những điều khoản của pháp luật có nội dung mang tính bắt buộc, các bên có thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quy định trong pháp luật. Điều 402 BLDS 2005 quy định “ Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây :

    1. 1.Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm .
    2. 2.Số lượng, chất lượng
    3. 3.Giá, phương thức thanh toán
    4. 4.Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
    5. 5.Quyền , nghĩa vụ của các bên
    6. 6.Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
    7. 7.Phạt vi phạm hợp đồng
    8. 8.Các nội dung khác”

    Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các điều ghi trên. Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy không cần thiết.

    Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụ lục hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng , nhưng nội dung của phụ lục không được trái với hợp đồng. Trưng hợpph lục  điu khon trái vi ni dung ca điu khon trong hợp đng thì điu khon này không cóhiu lực, tr trưng hp có tha thun khác. Nếu các bên chp nhn ph lc hp đng  điukhon trái vi điu khon trong hợp đồng thì coi như điu khon đó trong hợp đồng đã đưc sửa đi

    1. 2.Nguồn của pháp luật Hợp đồng

    Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế, đơn giản hơn nguồn là nơi  chứa  những quy định  về pháp luật hợp đồng . ở Việt Nam, nguồn của pháp luật hợp đồng nói chung gồm các loại sau :

    -         Các văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng 

    Hai văn bản pháp luật quan trọng nhất hiện nay là BLDS và LTM, đây là luật căn bản đối với kinh doanh. Đối với mỗi loại hợp đồng ở một lĩnh vực cụ thể lại có các văn bản pháp luật chuyên ngành cụ thể. Ví dụ : các quy định về hợp đồng trong tổ chức kinh doanh có trong Luật Đầu tư 2005.

    -         Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao

    Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán là một nguồn của pháp luật Hợp đồng, tương tự như án lệ

    -         Thói quen và tập quán thương mại

    Việc áp dụng thói quen và tập quán thương mại chỉ xảy ra khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Khi đó, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết . Trường hợp không có luật, tiền lệ, thói quen thì áp dụng tập quán thương mại, tức là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.

    Nguồn:http://luathopdong.com/thong-tin/kien-thuc-ve-hop-dong/1611-hop-dong-thuong-mai-la-gi-.html

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hipgov vì bài viết hữu ích
    nhuanh1209 (18/09/2014)