DanLuat 2015

Ly hôn khi chung sống gần 15 năm mà chưa đăng ký kết hôn

Chủ đề   RSS   
  • #124251 17/08/2011

    banghuynh87

    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:17/08/2011
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 190
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Ly hôn khi chung sống gần 15 năm mà chưa đăng ký kết hôn

    Chào quý luật sư.
    Tôi có câu hỏi mong luật sư giải đáp
    Dì tôi đã lập gia đình nhưng chưa có giấy đăng ký kết hôn. Dì va dượng tôi đã chung sống với nhau đến nay đã gần 15 năm. Dì và dượng đã có với nhau được 2 con. Đứa nữ 15 tuổi va đứa nam 10 tuổi. Gia đình dì và dượng co một khối lượng tài sản cũng kha khá.
    Tôi muốn hỏi khi ly hôn thì dì tôi cod bị thiệt thói nhiều không và tài sản , con cái co được chia đôi không .
    Tôi xin chan thành cảm ơn
     
    10512 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #124274   17/08/2011

    HoNguyenTruong70
    HoNguyenTruong70
    Top 10
    Male
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/01/2010
    Tổng số bài viết (4451)
    Số điểm: 25988
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 1326 lần


    Chào bạn,

    Trước đây Luật HNGĐ 2000 công nhận hôn nhân thực tế, khi ly hôn Tòa vẫn xem xét quyền lợi vơ chồng. Tuy nhiên, Nghị quyết 02 HĐ thẩm phán 2003 và Luật HNGĐ sửa đổi năm 2003 trường hợp chung sống nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn sau một thời gian vẫn không đăng ký kết hôn thì Tòa án không công nhận vợ chồng do đó khi xét xử tài sản của ai thì thuộc người ấy không chia đôi như vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, việc nuôi con và cấp dưỡng vẫn được Tòa xem xét giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích của con cái cho đến tuổi trưởng thành.

    Nguyễn Trường Hồ

     
    Báo quản trị |  
  • #125343   22/08/2011

    lsbahoc
    lsbahoc

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/08/2011
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 4 lần


    Gửi bạn banhuynh87 và ls Hồ,

    Do Luật sư Hồ không nói rõ Nghị quyết 02 của HĐ thẩm phán năm 2003 là nói về cái gì? Hơn nữa thì không thể có Luật HNGĐ sửa đổi năm 2003 theo như luật sư nói. Về vấn đề của bạn tôi có thể trao đổi như sau:

    Dì bạn đã sống với dượng bạn là cách đây 15 năm (có nghĩa là sống chung năm 1996) mà không đăng ký kết hôn thì theo quy định họ sẽ không được công nhận là vợ chồng. Trích dẫn Điểm b, Khoản 3 của Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội về thi hành Luật HNGĐ: "Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì áp dụng các quy định về ly hôn của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
    Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng"

    Nếu dì bạn và dượng bạn có yêu cầu ly hôn thì tòa án sẽ tuyên không công nhận vợ chồng. Về tài sản sẽ sẽ được giải quyết: Tài sản riêng của ai sẽ thuộc về người đó, tài sản chung được chia theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết dựa trên công sức đóng góp của mỗi người. (Khoản 3, Điều 7 luật HN&GĐ). Xét về nguyên tắc thì nếu các bên không thỏa thuận được thì tài sản sẽ được chia đôi và khi quyết định nếu thấy công sức đóng góp của bên nào cao hơn sẽ do Hội đồng xét xử sẽ quyết định cho phù hợp.

    Về con chung sẽ giải quyết như khi ly hôn hợp pháp. Có nghĩa nếu con từ đủ 9 tuổi thì phải hỏi nguyện vong của con muốn sinh sống cùng ai.

    Trân trọng
    Trần Bá Học
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn lsbahoc vì bài viết hữu ích
    Maiphuong5 (13/09/2011)
  • #125543   23/08/2011

    HoNguyenTruong70
    HoNguyenTruong70
    Top 10
    Male
    Trung cấp

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/01/2010
    Tổng số bài viết (4451)
    Số điểm: 25988
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 1326 lần


    Có nhầm lẫn, xin lỗi nhe!

    Nguyễn Trường Hồ

     
    Báo quản trị |  
  • #127020   30/08/2011

    Cuonglawyer
    Cuonglawyer
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2011
    Tổng số bài viết (7326)
    Số điểm: 45454
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 2720 lần
    Lawyer

    Chào bạn!
    Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10
    style="font-family: arial;">; Điều 7 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP style="font-family: arial;"> hướng dẫn luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Quan hệ vợ, chồng xác lập trong thời kỳ Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực (từ 03-01-1987 đến 01-01-2001) thì thời gian bắt buộc đăng ký kết hôn (đăng ký chậm) từ 01-01-2001 đến 01-01-2003. Đăng ký đúng trong hạn nêu trên sẽ được tính thời kỳ hôn nhân hợp pháp từ thời điểm xác lập quan hệ vợ chồng. Nếu không đăng ký thì không được coi là quan hệ vợ chồng. Do vậy Tòa án sẽ không công nhận là vợ chồng. Tài sản sẽ căn cứ vào quy định về tài sản chung để chia theo luật dân sự, con chia theo luật hôn nhân và gia đình.
    Thân ái!

    Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

    Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

    - Điện thoại/Fax:0437.327.407

    -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

    I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

    Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

    1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

    2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

    3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

    4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

    5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

    II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

    1. Hình thức tư vấn miễn phí:

    Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

    - Điện thoại: 0977.999.896

    - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

    - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

    2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

    III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

    Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

    Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

     
    Báo quản trị |  
  • #130130   13/09/2011

    thienminhluat
    thienminhluat

    Sơ sinh

    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:25/05/2011
    Tổng số bài viết (28)
    Số điểm: 335
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 5 lần


    Tôi xin bổ sung ý kiến thêm:

    Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

    Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;
    TT01:
    2. Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:

    a. Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

    Việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.

    b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

    c. Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn.

    d. Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    - Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

    - Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

    - Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

    - Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

    Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày :
       +họ tổ chức lễ cưới
       +hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận
      +hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến
       +hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng    

        nhau xây dựng gia đình.

    c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
    TT01:
    3. Đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

     

     
    Báo quản trị |  
  • #130409   13/09/2011

    derungbonbon
    derungbonbon

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2011
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào các anh, chi,

    Em với chồng em cũng giống trường hợp mấy anh chi tư vấn. Tụi em giờ bàn đến việc đăng ký kết hôn, dù sao cũng đã có 3 con rồi (đứa lớn sinh năm 1999). Nếu giờ đăng ký kết hôn thì khoảng thời gian chung sóng có được công nhận hôn nhân thực tế ko ạ? cảm ơn nhiều ạ.
     
    Báo quản trị |  
  • #130410   14/09/2011

    TaiNhan288
    TaiNhan288
    Top 500
    Chồi

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2011
    Tổng số bài viết (141)
    Số điểm: 1030
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 47 lần


    Chào chị!

    câu trả lời ngắn gọn cho chị trong trường hợp này là 15 năm kia của anh với chị sẽ không được công nhận.

    Và thời điểm được công nhận chính là thời điểm anh chị đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền!

    không gì là không thể

     
    Báo quản trị |  
  • #130489   14/09/2011

    thienminhluat
    thienminhluat

    Sơ sinh

    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:25/05/2011
    Tổng số bài viết (28)
    Số điểm: 335
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 5 lần


    derungbonbon viết:
    Chào các anh, chi,



    Em với chồng em cũng giống trường hợp mấy anh chi tư vấn. Tụi em giờ bàn đến việc đăng ký kết hôn, dù sao cũng đã có 3 con rồi (đứa lớn sinh năm 1999). Nếu giờ đăng ký kết hôn thì khoảng thời gian chung sóng có được công nhận hôn nhân thực tế ko ạ? cảm ơn nhiều ạ.


    Hôn nhân thực tế chỉ đặt ra hai trường hợp:
    1/ Nam nữ xác lập sống như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987.(ngày luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực pháp luật.
    2/ Nam nữ xác lập sống như vợ chồng từ 03/01/1987 đến ngày 1/1/2001 (ngày luật hôn nhân và gia đinh năm 2000 có hiệu lực pháp luật) và có đủ điều kiện kết hôn (điều 9, 10).
    Và có nghĩa vụ (bắt buộc) đăng ký kết hôn  đến ngày 1/1/2003 ( ngày cuối )( nếu trong trường hợp theo chỉ thị 02 của Bộ Tư pháp thì đến ngày 31/7/2004)
    Tiêu chuẩn Nam, nữ sống như vợ chồng căn cứ theo TT01/2001.
    Như vậy,bạn và chồng bạn bây giờ đăng ký kết hôn thì khoản thời gian sống chung trước ngày đăng ký không được công nhận hôn nhân thực tế. Còn các con của bạn và người đàn ông đó (nếu sau này đăng ký kết hôn) , người ta thường gọi là con ngoài giá thú.
     
    Báo quản trị |  
  • #130516   14/09/2011

    Cuonglawyer
    Cuonglawyer
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2011
    Tổng số bài viết (7326)
    Số điểm: 45454
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 2720 lần
    Lawyer

    Chào bạn!
         Vợ chồng bạn chung sống với nhau 15 năm rồi (khoảng năm 1996), có ba con nhưng chưa đăng ký kết hôn nên quan hệ vợ chồng của bạn là không hợp pháp theo quy định của pháp luật.
          Theo quy định của Nghị quyết 35 hướng dẫn luật hôn nhân năm 2000 thì chỉ có trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian từ 13/01/1960 đến 03/01/1987 mà đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003 thì mới được công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm chung sống. Còn các trường hợp chung sống như vợ chông sau thời điểm 03/1/1987 mà không có đăng ký kết hôn thì pháp luật không thừa nhận quan hệ vợ chồng và quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập tại thời điểm họ đăng ký (nếu có).
          Thân ái!

    Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

    Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

    - Điện thoại/Fax:0437.327.407

    -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

    I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

    Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

    1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

    2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

    3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

    4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

    5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

    II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

    1. Hình thức tư vấn miễn phí:

    Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

    - Điện thoại: 0977.999.896

    - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

    - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

    2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

    III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

    Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

    Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

     
    Báo quản trị |  
  • #130557   14/09/2011

    thienminhluat
    thienminhluat

    Sơ sinh

    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:25/05/2011
    Tổng số bài viết (28)
    Số điểm: 335
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 5 lần


    Cuonglawyer viết:
    Chào bạn!
         Vợ chồng bạn chung sống với nhau 15 năm rồi (khoảng năm 1996), có ba con nhưng chưa đăng ký kết hôn nên quan hệ vợ chồng của bạn là không hợp pháp theo quy định của pháp luật.
          Theo quy định của Nghị quyết 35 hướng dẫn luật hôn nhân năm 2000 thì chỉ có trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian từ 13/01/1960 đến 03/01/1987 mà đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003 thì mới được công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm chung sống. Còn các trường hợp chung sống như vợ chông sau thời điểm 03/1/1987 mà không có đăng ký kết hôn thì pháp luật không thừa nhận quan hệ vợ chồng và quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập tại thời điểm họ đăng ký (nếu có).
          Thân ái!

    Cho thêm ý kiến( xin lỗi không biết đúng hay sai...):

    TT Số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP NGÀY 3 THÁNG 1 NĂM 2001 HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ QUYẾT SỐ 35/2000/QH10 NGÀY 9 THÁNG 6 NĂM 2000 CỦA QUỐC HỘI "VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH"

    ……

    Để thi hành đúng các quy định của Nghị quyết số 35 của Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây:

    1. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.

    2. Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:

    a. Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

    Việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.

    b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

    c. Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn.

    d. Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    - Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

    - Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

    - Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

    - Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

    Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

     
    Báo quản trị |  
  • #130740   14/09/2011

    lsbahoc
    lsbahoc

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/08/2011
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 4 lần


    Gửi bạn Cuonglawyer,

    Ban nên hiểu rõ là đối với trường hợp đã kết hôn mà sống chung như vợ chống với người khác trước ngày 13/01/1960 (chỉ áp dụng đối với miền Bắc) thì người chồng sống chung như vợ chồng với người vợ  khác thì công nhận vợ đó vẫn là hợp pháp . Hơn nữa Nghị quyết 35 không đề cấp đến trường hợp như bạn nói là từ ngày 13/01/1960. Ý kiến bạn nêu là hoàn toàn sai. Bạn nên xem lại kiến thức pháp lý thì hay hơn. Bạn nên xem những Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao sẽ rõ.

    Trân trọng
    Trần Bá Học
     
    Báo quản trị |  
  • #133183   22/09/2011

    Cuonglawyer
    Cuonglawyer
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/06/2011
    Tổng số bài viết (7326)
    Số điểm: 45454
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 2720 lần
    Lawyer

    Theo Nghị quyết 35/2000/NQ-QH và Thông tư 01/2001  hướng dẫn Nghị quyết 35 thì:
    - Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm 03/1/1987 và đủ điều kiện kết hôn thì được công nhận là hôn nhân thực tế.
    - Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ thời điểm 03/1/1987  đến 01/01/2001 và đủ điều kiện kết hôn thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003 thì mới được công nhận là hôn nhân thực tế. Sau ngày đó mà không đăng ký kết hôn thì Tòa án không công nhận là vợ chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án ra bản án tuyên bố không công nhận là vợ chồng. Nếu sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận từ thời điểm đăng ký.
    - Sau thời điểm 01/01/2001 nếu nam nữ chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.
    Thân ái!

    Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

    Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

    - Điện thoại/Fax:0437.327.407

    -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

    I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

    Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

    1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

    2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

    3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

    4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

    5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

    II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

    1. Hình thức tư vấn miễn phí:

    Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

    - Điện thoại: 0977.999.896

    - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

    - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

    - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

    - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

    2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

    III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

    Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

    Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-