Lý do Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị vụ án ly hôn của bà Diệp Thảo và ông Vũ

Chủ đề   RSS   
  • #543032 03/04/2020

    danusa
    Top 25
    Female
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (2763)
    Số điểm: 31501
    Cảm ơn: 728
    Được cảm ơn 1103 lần


    Lý do Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị vụ án ly hôn của bà Diệp Thảo và ông Vũ

    Viện trưởng Viện KSND tối cao vừa có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa ông Nguyên Vũ và bà Diệp Thảo.

    Viện trưởng VKSND tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm về phần hôn nhân và chia tài sản chung, giao hồ sơ cho TAND TP.HCM xét xử lại. 

    Kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng bản án sơ thẩm của TAND TP.HCM và bản án phúc thẩm của TAND cấp cao tại TP.HCM đã có nhiều vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án.

    1. Về quan hệ hôn nhân, bà Thảo và ông Vũ là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 1998. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên bà Thảo xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Thảo lúc xin ly hôn lúc xin đoàn tụ, ông Vũ lúc đầu xin đoàn tụ, sau đó xin ly hôn. Tòa sơ thẩm tuyên công nhận ông Vũ và bà Thảo thuận tình ly hôn là đúng quy định.

    Sau đó, bà Thảo kháng cáo, muốn được đoàn tụ với ông Vũ nhưng ông Vũ không đồng ý. Do đó, bà Thảo và ông Vũ không còn là thuận tình ly hôn. Tòa án cấp phúc thẩm vẫn công nhận thuận tình ly hôn là không đúng.

    2. Về định giá, kháng nghị cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành định giá, mà sử dụng kết quả thẩm định giá và giá các bất động sản do các bên thống nhất để giải quyết vụ án là không bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự.

    Bên cạnh đó, nhiều báo cáo tài chính năm của các công ty không được kiểm toán song cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn căn cứ vào kết quả thẩm định giá các công ty trên của Công ty TNHH thẩm định giá Sài Gòn để giải quyết vụ án là không đúng.

    Ngoài ra, theo quy định thì giá trị tài sản chung của vợ, chồng, tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm vụ việc. Tuy nhiên tại các chứng thư thẩm định giá đều nêu rõ cơ sở thẩm định giá được xác định theo giá trị phi thị trường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn sử dụng kết quả thẩm định giá trên làm cơ sở để chia tài sản chung của bà Thảo và ông Vũ là cũng là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên.

    Hơn nữa, Công ty TNHH thẩm định giá Sài Gòn chưa thẩm định giá trị quyền sở hữu trí tuệ (giá trị thương hiệu) của các công ty trên là thiếu sót, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn sử dụng kết quả thẩm định giá trên để làm cơ sở để chia tài sản chung của bà Thảo và ông Vũ là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Thảo khi bà Thảo không được nhận hiện vật.

    3. Bản án phúc thẩm đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong việc không ra quyết định đình chỉ đối với các yêu cầu phản tố mà ông Vũ đã rút, sử dụng các chứng thư và báo cáo kết quả thẩm định giá hết hiệu lực để chia tài sản cho các bên, đưa thiếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là những người đang quản lý các bất động sản này vào tham gia tố tụng.

    4. Về bất động sản, Tòa án phân chia số 13 bất động sản trên theo sự thỏa thuận giữa ông Vũ và bà Thảo là có căn cứ. Tuy nhiên, việc tuyên giao cho bà Thảo quản lý và sử dụng giá trị quyền sử dụng đất tại 7 bất động sản là không đúng mà phải giao cho bà Thảo quyền sở hữu, quản lý, sử dụng mới đúng theo quy định của pháp luật.

    Bởi dù bà Thảo sang Úc kinh doanh và được chính phủ Úc cấp thị thực định cư thì bà vẫn là người Việt Nam. Do đó, bà Thảo không thuộc diện điều chỉnh theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Luật Nhà ở và Điều 186 Luật đất đai nên bà Thảo vẫn có quyền quản lý, sử dụng, sở hữu đối với 7 bất động sản nêu trên

    5. Về cách chia tài sản chung, theo kháng nghị thì cổ phần trong các công ty là tài sản chia được bằng hiện vật. Bà Thảo luôn có yêu cầu được nhận bằng hiện vật. Tòa án đã không xem xét đánh giá toàn diện về số cổ phần, phần vốn góp và nhu cầu sử dụng của đương sự mà chia toàn bộ cổ phần, phần vốn góp cho ông Vũ, giao cho bà Thảo bằng giá trị là không đúng, chưa đảm bảo quyển lợi của bà Thảo về quyền được kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    Mặt khác, sau khi kết hôn với bà Thảo, việc kinh doanh của ông Vũ bắt đầu có sự phát triển và hình thành tập đoàn Trung Nguyên hiện nay. Bà Thảo đã nhiều năm tham gia điều hành hoạt động của Tập đoàn Trung Nguyên, nhất là thời gian ông Vũ không trực tiếp điều hành hoạt động của Tập đoàn. 

    Việc Tòa án hai cấp xem xét việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng là cổ phần trong tập đoàn Trung Nguyên chia cho ông Vũ phần nhiều hơn, chia cho bà Thảo ít hơn ông Vũ 20% giá trị cổ phần trong Tập đoàn Trung Nguyên là không bảo đảm quyền lợi của bà Thảo.

    6. Về tài sản là tiền, vàng gửi ngân hàng, đại diện của ông Vũ xác định tổng số tiền yêu cầu phản tố là 1.764 tỉ đồng. Tuy nhiên, Tòa án không yêu cầu bị đơn cung cấp căn cứ để tính ra số tiền trên mà đã công nhận số tiền do bị đơn khai tại phiên tòa là chưa có căn cứ vững chắc.

    Theo yêu cầu của ông Vũ, Tòa án đã có công văn yêu cầu Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam cung cấp số dư của trong 23 tài khoản mang tên bà Thảo tại ngân hàng này. Theo đó, trong 23 tài khoản ở ngân hàng trên thì có 6 tài khoản mang tên một người khác nhưng Tòa án lại xác định số tiền trong 6 tài khoản này là tài sản chung của vợ chồng ông Vũ, bà Thảo là chưa có cơ sở.

    Theo Tuổi Trẻ

     
    5153 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn danusa vì bài viết hữu ích
    admin (03/04/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận