Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Nguyễn Thanh Tùng - thanhtungrcc

62 Trang «<575859606162>
  • Xem thêm     

    10/03/2017, 03:38:01 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 1 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có quy định về Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu như sau: “Người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: 
    a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;
    b) Ra nước ngoài để định cư;

    c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
    d) Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e Khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu."

    Và tại Khoản 1 Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22/06/2015 có quy định: "...Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu thì được nhận bảo hiểm xã hội một lần.” 

    Như vậy, trường hợp của bạn đủ điều kiện nhận bảo hiểm xã hội một lần và đối với mức hưởng được quy định tại Khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng quy định về mức hưởng BHXH một lần và cách tính theo số năm đóng BHXH như sau: 

    “a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

    b) 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi.”

    Từ các căn cứ trên có thể nhật thấy, sau 12 tháng ngừng đóng Bảo hiểm xã hội bạn có thể nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội một lần. Mức trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần = 1,5 tháng lương bình quân đóng Bảo hiểm xã hội cho mỗi năm (trường hợp của bạn áp dụng đối với mức quy định trước năm 2014)  nếu những năm đóng từ năm 2014 trở đi thì được 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Trình tự thủ tục bạn có thể nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan BHXH nơi bạn cư trú. Theo đó, bạn cần chuẩn bị:

    - Sổ bảo hiểm xã hội.

    - Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động (Mẫu 14-HSB).

    - Chứng minh thư nhân dân bản chính.

    - Sổ hộ khẩu (nếu nộp hồ sơ tại cơ quan bảo hiểm xã hội nơi có hộ khẩu), sổ tạm trú (nếu nộp hồ sơ tại cơ quan BHXH nơi tạm trú).

    -Thanh lý hợp đồng lao động hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    10/03/2017, 03:36:06 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, tôi tư vấn như sau:

    Khoản 1, điều 5 Nghị định 120/2013/NĐ-CP quy định về mức phạt đối với hành vi trốn khám sơ tuyển như sau:

    “1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

    2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện sơ tuyển nghĩa vụ quân sự theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.”

    Như vậy, việc xử phạt lần đầu của Hội đồng Nghĩa vụ quân sự nếu là đúng quy định của pháp luật và đã xử lý hành chính mà không chấp hành, thì có thể bị khởi tố, chịu trách nhiệm hình sự về Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự theo quy định tại điều 259 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 cụ thể: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

    Tuy nhiên, bạn phải chú ý trường hợp của bạn hỏi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính năm 2016 nhưng đến năm 2017 vẫn tiếp tục không chấp hành đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc khám sức khỏe thì tại Khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định: “Cá nhân, tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.”

    Do đó, bạn phải căn cứ vào thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu sau 1 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính mà không tái phạm thì đương nhiên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và sau thời hạn này thì chưa đủ điều kiện để xử lý trách nhiệm hình sự đối với tội danh nêu trên.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 11:11:40 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Căn cứ Điều 20 Bộ luật lao động năm 2012 quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết , thực hiện hợp đồng lao động:

    “1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
    2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.”

    Căn cứ Điều 61 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động, như sau:“ Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề và không được thu học phí…”

    Theo quy định trên, khi thực hiện giao kết hợp đồng với người lao động, Công ty (người sử dụng lao động) không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng  chỉ  và không được yêu cầu đặt cọc bằng tiền hoặc tài sản đối với người lao động. Do đó, việc phải nộp bằng gốc hoăc phải nộp 15 triệu (phí đào tạo) là trái với quy định ở trên.

    Căn cứ theo quy  định tại Khoản 2 Điều 18 và Khoản 3 Điều  19 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014 quy định Quyền của người lao động và Trách nhiệm của người lao động là “Được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội” “ Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội.”

    Như vậy,  người lao động sẽ được giữ sổ bảo hiểm của mình, trường hợp người sử dụng lao động tự thỏa thuận với người lao động việc lưu giữ, bảo quản sổ BHXH trong thời gian người lao động đang làm việc không có quy định cấm về vấn đề này. Tuy nhiên để đảm bảo quyền và lợi ích cho bạn thì việc thỏa thuận nên giao kết bằng văn bản, có chữ kí của mỗi bên.

    Theo quy định khoản 2,3 Điều 47 Bộ luật lao động quy định “Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động”.

    Trong trường hợp của bạn, nếu người lao động và công ty chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật mà người sử dụng lao động cố tình không không chốt và không trả số bảo hiểm xã hội cho bạn đúng thời hạn đã vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội quy định không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định.

    Vì vậy, nếu bạn có đầy đủ bằng chứng chứng minh phía Công ty có những hành vi vi phạm ở trên thì bạn có thể yêu cầu công ty chấm dứt hành vi vi phạm của mình và thực hiện đúng theo quy định. Nếu công ty không thực hiện đúng bạn có thể yêu cầu công đoàn cơ sở can thiệp hoặc tố cáo với cơ quan quản lý lao động tại địa phương hoặc làm đơn khởi kiện đến tòa án nơi công ty có trụ sở.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 11:12:44 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Việc được hưởng trợ cấp thôi việc còn căn cứ vào nhiều giấy tờ để xác định ông A được hưởng vào thời gian nào nữa chứ không phải căn cứ vào thông tin chung chung như trên.

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 08:53:09 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau

    Trong Luật BHXH không có quy định mức hưởng trợ cấp ốm đau 1/2 ngày mà trợ cấp ốm đau tính theo ngày làm việc. Hiện nay không có cơ sở khám chữa bệnh nào có chỉ định nghỉ ốm có 1/2 ngày, những trường hợp nghỉ ốm 1/2 ngày cơ quan BHXH sẽ không có cơ sở giải quyết. Do đó, khi người lao động đi làm nửa ngày buổi sáng, buổi trưa xin về đi khám bệnh, bác sỹ cho giấy nghỉ ốm hưởng BHXH nguyên ngày thì Doanh nghiệp sẽ chấm công cho người lao động thực tế là 1/2 ngày.

    Tại Điều 22, Luật Bảo hiểm xã hội quy định điều kiện hưởng chế độ ốm đau:

    1. Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng ma tuý, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau.

    2. Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Như vậy, trường hợp người lao động bị ốm nhưng không nghỉ việc và vẫn hưởng lương tại đơn vị thì không được hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Luật BHXH. Trường hợp này không được BHXH thanh toán vì đã được Doanh nghiệp chấm công, trả lương. Nếu doanh nghệp xác nhận người lao động nghỉ ốm những ngày này mà vẫn đi làm hưởng luong và hưởng trợ cấp và khi Cơ quan BHXH đến kiểm tra doanh nghiệp, sẽ bị phát hiện gian dối. Việc này là hành vi vi phạm pháp luật, hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 27 Nghị định 95/2013/NĐ-CP như sau:

    1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp.

    2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hồ sơ bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội giả mạo.

    3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”

    Do đó, trường hợp người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau và hưởng trợ cấp ốm đau thì người lao động vẫn có quyền gọi người lao động đi làm nhưng phải thỏa thuận về vấn đề hưởng trợ cấp và lương như trên để tránh tính trạng bị vi phạm.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

  • Xem thêm     

    10/03/2017, 03:00:49 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Trường hợp bạn nêu, tình trạng vi phạm pháp luật lao động khá là nghiêm trọng, dẫn đến quyền lợi hợp pháp của các bên, đặc biệt là của người lao động chưa được đảm bảo, tính nghiêm minh của pháp luật chưa được tôn trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý chung.

    Về phía người sử dụng lao động(doanh nghiệp), họ đã tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành bằng cách lẩn tránh việc thực hiện các chế độ, nghĩa vụ đối với người lao động, áp đặt các biện pháp quản lý không phù hợp với pháp luật lao động Việt Nam, như: Giao kết hợp đồng lao động không đúng loại như ký kết HĐLĐ; Không tham gia BHXH bắt buộc đầy đủ cho người lao động, đóng BHXH ở mức lương thấp (lương tối thiểu); Không trả lương làm thêm giờ, phép năm; không thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn vệ sinh lao động…Điều này đã vi phạm các quy định của pháp luật lao động xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của người lao động.

    Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động người lao động có thể làm đơn khiếu nại hoặc cùng với công đoàn cấp tỉnh tố cáo với cơ quan quản lý lao động tại địa phương(Phòng lao động –thương binh – xã hội hoặc Thanh Tra lao động cấp sở). Ngoài ra, bạn có thể thực hiện khởi kiện hành vi này của công ty tới Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi mà công ty có trụ sở. 

    Nếu cần có sự trợ giúp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và đảm bảo sự công bằng cho người lao động, bạn hãy liên lạc với tôi theo số điện thoại 0913586658 để được giúp đỡ thể nhất cho bạn.

  • Xem thêm     

    01/03/2017, 11:08:03 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Theo Khoản 2 Điều 32 Bộ luật lao động 2012 quy định các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động có trường hợp: “ Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”

    Hết thời hạn tạm hoãn thì của người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc và việc giải quyết hậu quả của việc tạm hoãn được quy định tại Điều 33 Bộ luật lao động 2012  về việc nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp quy định tại Điều 32 của Bộ luật này, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.”

    Cũng tại Khoản 5 Điều 36 Bộ luật lao động 2012 về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trong đó: “Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.”

    Như vậy, với trường hợp do hai bên thoả thuận, Luật lao động và các văn bản hướng dẫn không có quy định rõ ràng nhưng có thể hiểu rằng các trường hợp tạm hoãn này chỉ cần hai bên thỏa thuận và có sự nhất trí về việc tạm hoãn, lí do tạm hoãn…mà người lao động chấp nhận lí do đó.

    Theo quy định trên của pháp luật thì hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ được đương nhiên tạm hoãn hoặc tiếp tục thực hiện hoặc chấm dứt mà không phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng lao động và người lao động, việc tạm hoãn hoãn hoặc tiếp tục thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định trên sẽ không bị hủy bỏ hay mất hiệu lực hợp đồng cho đến khi hết thời hạn tạm hoãn theo pháp luật quy định hoặc đương nhiên chấm dứt theo luật định.

    Pháp luật không quy định cụ thể thủ tục tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi các bên và tạo cơ sở pháp lý nếu có tranh chấp lao động xảy ra sau này thì người sử dụng lao động có thể ra Thông báo hoặc Quyết định tạm hoãn, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động kèm theo Quyết định của cơ quan Tố tụng hay Bản án của Tòa án.

    Việc tiền lương phải trả cho lao động, các chế độ bảo hiểm, chế độ báo cáo cơ quan chức năng (Bảo hiểm, lao động...) thì phải làm thủ tục Thông báo hoặc ra Quyết định như chúng tôi đã nêu ở trên.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    02/03/2017, 11:39:42 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật lao động 2012 thì các trường hợp phải bồi thường thiệt hại, đó là:

    “1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

    2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.”

    Việc áp dụng thồi thường thiệt hại và trách nhiệm vật chất đối với bạn chỉ được tiến hành khi có các căn cứ xác định lỗi của người vi phạm. Như vậy, xác định lỗi là một bước quan trọng để xác định trách nhiệm vật chất, nếu bạn không có lỗi trên thì cũng không quy định trách nhiệm điều kiện để áp dụng chế độ trách nhiệm vật chất phải bồi thường đối với bạn.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    02/03/2017, 09:37:47 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Để đảm bảo kỷ luật lao động, pháp luật lao động nước ta quy định những đơn vị sử dụng người lao động phải có nội quy lao động bằng văn bản. Nội quy lao động để duy trì kỷ luật lao động trong các đơn vị nên nó phải có đầy đủ các nội dung chủ yếu như thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động và trật tự trong doanh nghiệp, bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ kinh doanh...; quan trọng nhất là người sử dụng lao động phải quy định các hành vi vi phạm và các hình thức xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất tương ứng. Họ không được xử lý kỷ luật lao động hoặc áp dụng trách nhiệm vật chất đối với các hành vi không quy định trong nội quy. Bản nội quy chỉ có hiệu lực khi nó không trái với quy định của pháp luật, thỏa ước tập thể và đã được đăng ký tại cơ quan lao động cấp tỉnh. Sau khi có hiệu lực, người sử dụng lao động phải phổ biến nội quy đến từng người lao động, họ phải niêm yết những điểm chính trong nội quy ở nơi làm việc để mọi người lao động biết, nhớ và thường xuyên thực hiện.

    Lỗi người lao động chỉ bị chịu trách nhiệm kỷ luật khi họ có hành vi vi phạm kỷ luật và có lỗi. Khi không có lỗi, mặc dù có hành vi vi phạm thì cũng không đủ cơ sở để áp dụng trách nhiệm kỷ luật. Người lao động sẽ bị coi là có lỗi, nếu họ vi phạm kỷ luật lao động trong khi họ có đầy đủ điều kiện và khả năng thực tế để thực hiện các nghĩa vụ lao động của mình.

  • Xem thêm     

    02/03/2017, 10:23:15 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP Xếp lương cán bộ xã như sau :

    1. Đối với cán bộ cấp xã:

    a) Cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo bảng lương sau đây:

    STT

    Chức vụ

    Hệ số lương

    Bậc 1

    Bậc 2

    1

    Bí thư đảng ủy

    2,35

    2,85

    2

    - Phó Bí thư đảng ủy

    - Chủ tịch Hội đồng nhân dân

    - Chủ tịch Ủy ban nhân dân

    2,15

    2,65

    3

    - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

    - Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

    - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

    1,95

    2,45

    4

    - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

    - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ

    - Chủ tịch Hội Nông dân

    - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

    1,75

    2,25

    b) Cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số204/2004/NĐ-CP); 

    c) Cán bộ cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hiện hưởng, hàng tháng được hưởng 90% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế."

    Trường hợp của bạn là trình độ đại học, chưa đào tạo trình độ chuyên môn thì vẫn sẽ được hưởng lương hệ số 2,25 sau khi bạn nhận chức vụ Bí thư Đoàn xã. Bạn có thể gặp kê toán xã để ý kiến về lương của mình.

  • Xem thêm     

    02/03/2017, 10:33:22 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Theo quy định của Điều 45  Luật viên chức năm 2010 về chế độ thôi việc. Cụ thể:

    “1. Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

    a) Bị buộc thôi việc;

    b) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 29 của Luật này;

    c) Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật này.”

    Đồng thời tại Điều 39 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức quy định Trợ cấp thôi việc như sau: 

    1. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 31 tháng 12 năm 2008 trở về trước được tính như sau: 

    a) Cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm: Mức lương theo chức danh nghề nghiệp, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);

    b) Mức trợ cấp thấp nhất bằng 01 (một) tháng lương hiện hưởng; 
    c) Trường hợp viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2003, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008. 
    d) Trường hợp viên chức được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 trở về sau, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc theo hợp đồng làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008. 

    2. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đến nay được thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ cấp thất nghiệp. 

    3. Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được lấy từ nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

    4. Viên chức thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và được xác nhận thời gian có đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, trong trường hợp ông A nghỉ việc đúng quy định pháp luật thì ông A sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc và mỗi năm làm việc sẽ được thanh toán 1/2 tháng tiền lương. Tức là ông A sẽ được thanh toán trong khoảng thời gian từ  tháng 12/2009 trở về trước. Đối với quãng thời gian từ năm 2010 trở đi sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc nữa mà thay vào đó là chế độ bảo hiểm thất nghiệp (do thời gian hưởng trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc thực tế cho đơn vị sự nghiệp trừ đi quãng thời gian đã tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp).

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 10:29:58 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Như tôi đã tư vấn ở trên, lỗi là một bước quan trọng để xác định trách nhiệm vật chất, nếu bạn không có lỗi trên thì cũng không quy định trách nhiệm điều kiện để áp dụng chế độ trách nhiệm vật chất phải bồi thường đối với bạn. Khi không có lỗi, mặc dù có hành vi vi phạm thì cũng không đủ cơ sở để áp dụng trách nhiệm kỷ luật. Người lao động sẽ bị coi là có lỗi nếu họ vi phạm kỷ luật lao động mà người sử dụng lao động chứng minh được việc đó.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 10:33:58 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Việc được hưởng trợ cấp thôi việc còn căn cứ vào nhiều giấy tờ để xác định ông A được hưởng vào thời gian nào nữa chứ không phải căn cứ vào thông tin chung chung như trên.

  • Xem thêm     

    06/03/2017, 10:36:32 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Tại mỗi thời điểm, có cách áp dụng hưởng chế độ 135 có khác nhau tùy thuộc vào ngành nghề và công việc cụ thể. Tuy nhiên tôi thấy bên Sở giáo dục áp dụng văn bản nêu trên là phù hợp với quy định hiện tại.

  • Xem thêm     

    24/02/2017, 10:34:10 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Bạn là người đứng đại diện công ty CP hoạt động trong lĩnh vực Y tế ( bao gồm khám,chữa bệnh và phòng tiêm chủng Vacxin). Từ tháng 1/2017 bạn đứng tên đại diện pháp luật chỉ nhận lại bàn giao về công nợ còn mọi thứ giám đốc đứng tên chỉ đạo là cổ đông lớn là sếp bệnh viện. Căn cứ Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”

    Như vậy, bạn là Người đại diện theo pháp luật, là người mà công ty đăng ký với vị trí là “người đại diện theo pháp luật” – thể hiện trong Giấy đăng ký kinh doanh (thường là Giám đốc) được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, để đại diện cho một cá nhân hay tổ chức thực hiện các giao dịch hay hành vi dân sự, hành chính …vì lợi ích của doanh nghiệp.

    Căn cứ Điều 14 Luật doanh nghiệp 2014 quy định Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp:

    “1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

    a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

    b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

    c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác.

    2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.”

    Như vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật gây thiệt hại cho công ty thì thì sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân do vi phạm các nghĩa vụ . Nếu sau này phát hiện ra sai phạm mà người này không còn là người đại diện thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đã gây ra. Do đó,  từ góc độ áp dụng pháp luật, để truy cứu trách nhiệm hình sự tổ chức, chỉ cần chứng minh hành vi phạm tội, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy tổ chức và các điều kiện khác của trách nhiệm hình sự  (như vai trò lãnh đạo, chỉ huy của cá nhân trong tổ chức, nhân danh, thay mặt tổ chức, vì lợi ích của tổ chức…) là đủ. Theo đó, nếu người lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân thì cả pháp nhân và người lãnh đạo, người đại diện đó phải chịu trách nhiệm về tội phạm được thực hiện và nếu người đại diện pháp luật của pháp nhân, do những mục đích cá nhân hoặc cả pháp nhân mà phạm tội thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi của mình.

    Do bạn vẫn đứng tên là người đại diện theo pháp luật của công ty và không có người thay thế. Bạn muốn chấm dứt tư cách này cần làm thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty CP bao gồm các giấy tờ sau:

    a) Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty;

    b) Bản sao giấy tờ chứng thực cá nhân của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

    c) Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty TNHH một thành viên, Quyết định bằng văn bản và bản sao Biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật;

    Quyết định bằng văn bản và bản sao Biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty CP về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật làm thay đổi nội dung Điều lệ công ty hoặc trường hợp Điều lệ công ty CP quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật và Đại hội đồng cổ đông công ty bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị;

    Quyết định bằng văn bản và bản sao Biên bản họp của Hội đồng quản trị đối với công ty CP trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật không làm thay đổi nội dung của Điều lệ công ty ngoài nội dung họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty quy định tại Khoản 15 Điều 22 Luật Doanh nghiệp."

    Theo quy định tại về đăng ký thay đổi người đại theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần quy định nội dung hồ sơ thông báo gửi  đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký gồm:

    + Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp và mã số thuế);

    + Họ, tên, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 24 Nghị định này, chức danh, địa chỉ thường trú của người đang là đại diện theo pháp luật của công ty và của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

    + Họ, tên và chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị  Công ty cổ phần. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty bỏ trốn khỏi nơi cư trú, bị tạm giam, bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được bản thân hoặc từ chối ký tên vào thông báo của công ty thì phải có họ, tên và chữ ký của các thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các thành viên Hội đồng quản trị đã tham dự và biểu quyết nhất trí về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty.

    Kèm theo Thông báo phải có: Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Hội đồng thành viên  của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty làm thay đổi nội dung điều lệ công ty, của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty không làm thay đổi nội dung điều lệ công ty; Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật; bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 24 Nghị định này của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty.

    Quyết định, biên bản họp Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông và quyết định của chủ sở hữu công ty phải ghi rõ những nội dung được sửa đổi trong Điều lệ công ty.

    Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao giấy biên nhận và đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần.

    Trên đây là nội dung trả lời trường hợp bạn hỏi và hy vọng rằng sự tư vấn của tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    25/02/2017, 11:55:03 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.”

    Về chế độ thai sản theo quy định của pháp luật bảo hiểm và trong thời gian mà bạn nghỉ chế độ thai sản vợ bạn sẽ được hưởng  bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc – khoản 2 điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2012 nếu bạn đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Trường hợp vợ bạn được hưởng chế độ thai sản do Bảo hiểm xã hội chi trả chứ không khải do doanh nghiệp trả. 
    Trường hợp vợ bạn đã nghỉ hết thời gian thai sản mà tự ý nghỉ việc thì phải thực hiện đúng theo các quy định về trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu bạn nghỉ thai sản xong nghỉ việc luôn mà không báo trước tức là bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Theo đó, trách nhiệm của vợ bạn sẽ theo điều 43 Bộ luật lao động 2012, cụ thể là:

    “ 1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

    Việc vợ bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng là việc của vợ bạn chứ không liên quan đến công việc bạn đang làm, hai người tuy là vợ chồng nhưng tư cách cá nhân là độc lập và là hai người có quan hệ pháp luật lao động khác nhau. Hơn nữa, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của vợ bạn đúng sai chưa biết nhưng hành vi công ty viết giấy xuống bộ phận nơi bạn làm việc để truy thu tiền bảo hiểm của vợ bạn trừ vào tiền lương của bạn là hoàn toàn trái pháp luật.

    Theo Điều 191 Bộ Luật lao động quy định về Quyền của cán bộ công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động:"Gặp người sử dụng lao động để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những vấn đề lao động và sử dụng lao động". Do đó, người lao động có thể nhờ cán bộ Công đoàn cơ sở gặp người có thẩm quyền ở công ty để thương lượng về vấn đề của bạn nêu trên.

    Trường hợp bạn và những người lao động không đồng ý yêu cầu trừ lương của công ty thì có thể làm đơn yêu cần tới Phòng Lao động - thương binh và xã hội để hòa giải. Nếu vẫn không giải quyết được vấn đề thì bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi mà công ty có trụ sở.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi theo số ĐT:0913586658 để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    26/02/2017, 11:12:50 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn như tôi đã tư vấn ở trên. Việc đầu tiên là bạn, hoạc bạn có thể cùng công đoàn cơ sở thực hiện hòa giải về vấn đề này. Nếu Công ty vẫn tiếp tục thực hiện như trên thì Bạn có thể gửi đơn khiếu nại lên ban điều hành công ty về hành vi của họ. Nếu họ không giải quyết, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết lên Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thuộc UBND huyện nơi công ty đóng trụ sở để họ xem xét và tiến hành thủ tục hòa giải. Nếu hòa giải không thành, bạn có thể khởi kiện hành vi vi phạm của công ty lên Tòa Án nhân dân huyện nơi công ty đóng trụ sở.

    Nếu bạn có thắc mắc hay có điều gì làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    27/02/2017, 09:33:01 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Trường hợp của bạn là người đại diện theo pháp luật duy nhất của doanh nghiệp, là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Việc phương án nào để phó giám đốc cũng chịu trách nhiệm trước pháp luật cùng bạn cũng là cả một vấn đề cần phải bàn luận. Do đó,  bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi theo số ĐT: 0913586658 để được tư vấn cụ thể hơn.

    Trân trọng!

  • Xem thêm     

    28/02/2017, 11:57:11 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Bạn đã làm cho cơ quan nhà nước từ năm 2012 đến nay (1/ 2017), như vậy bạn có thể là công chức hoặc viên chức hoặc người làm việc theo hợp đồng lao động. Trường hợp bạn đang thắc mắc trên tôi tôi sẽ đặt ra tình huống bạn là viên chức làm việc trong một đơn vị sự nghiệp nhà nước. Bạn đã nộp đơn xin nghỉ việc từ đầu tháng 11/2016 với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà quá xa, không thể tiếp tục công tác nữa. Cơ quan đã đồng ý cho nghỉ việc, nhưng chưa ra quyết định cho bạn.

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức quy định, viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau:

    - Viên chức có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

    - Viên chức đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều 29 Luật Viên chức, gồm các trường hợp:

    Viên chức làm việc theo Hợp đồng làm việc (HĐLV) không xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày; trường hợp viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị 6 tháng liên tục thì phải báo trước ít nhất 3 ngày (Khoản 4, Điều 29 Luật Viên chức).

    Viên chức làm việc theo HĐLV xác định thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp: Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng(Điểm d Khoản 5 Điều 29 Luật Viên chức).

    Trường hợp của bạn, việc bạn có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý giải quyết thôi việc theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP là trường hợp hai bên chấm dứt HĐLV theo thoả thuận.

    Do yêu cầu công tác, chưa bố trí được người thay thế nên người đứng đầu đơn vị chưa giải quyết cho bạn thôi việc là phù hợp với quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP. Việc đơn vị chưa giải quyết thôi việc theo nguyện vọng của bạn là trường hợp hai bên chưa thỏa thuận được việc chấm dứt HĐLV.

    Bên cạnh trường hợp hai bên chấm dứt HĐLV theo thỏa thuận, hoặc hai bên chưa thỏa thuận được việc chấm dứt HĐLV (nêu trên), thì điểm b, khoản 1, Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP còn quy định viên chức làm việc theo HĐLV không xác định thời hạn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 4, Điều 29 Luật Viên chức.

    Theo đó, nếu bạn chưa được đơn vị đồng ý cho thôi việc theo nguyện vọng, thì bạn còn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLV sau khi bạn có thông báo bằng văn bản nội dung sẽ đơn phương chấm dứt HĐLV gửi cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp đó biết trước ít nhất 45 ngày.

    Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày bạn thông báo bằng văn bản việc đơn phương chấm dứt HĐLV, đơn vị cần có phương án nhân sự thay thế vị trí việc làm của bạn để đảm bảo yêu cầu công tác sau khi bạn thôi việc.

    Như phân tích nêu trên, nhận thấy quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 38 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về việc viên chức có nguyện vọng thôi việc nhưng do yêu cầu công tác chưa bố trí được người thay thế nên chưa được đơn vị sự nghiệp đồng ý cho thôi việc, không có mâu thuẫn với quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLV của viên chức quy định tại khoản 4, khoản 5, Điều 29 Luật Viên chức vì hai quy phạm pháp luật này điều chỉnh 2 vấn đề khác nhau đó là việc chấm dứt HĐLV theo thỏa thuận và việc viên chức đơn phương chấm dứt HĐLV. 

    Việc đưa ra ý kiến tư vấn trên sẽ cung cấp và chia sẻ trên đã giúp bạn có thông tin để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    28/02/2017, 04:50:57 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1268)
    Số điểm: 7327
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 733 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 07/2013/TT-BGD ĐT-BNV-BTC quy định cách tính tiền lương dạy thêm giờ:

    a) Tiền lương dạy thêm giờ/năm học = số giờ dạy thêm/năm học x Tiền lương 01 giờ dạy thêm;

    b) Tiền lương 01 giờ dạy thêm = Tiền lương 01 giờ dạy x 150%;

    c) Tiền lương 01 giờ dạy:

    - Đối với giáo viên cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp và giáo viên, giảng viên cơ sở dạy nghề:

    Tiền lương 01 giờ dạy

    =

    Tổng tiền lương của 12 tháng trong năm học

    x

    Số tuần dành cho giảng dạy (dạy trẻ)

    Định mức giờ dạy/năm

    52 tuần

     

    Tại Khoản 8 Điều 3 Thông tư trên quy định: Số giờ dạy thêm được tính trả tiền lương dạy thêm giờ theo quy định tại Thông tư liên tịch này không quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật.

    ại Khoản 8 Diều 3 Thông tư trên quy định: Số giờ dạy thêm được tính trả tiền lương dạy thêm giờ theo quy định tại Thông tư liên tịch này không quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, số giờ dạy thêm được tính trả tiền lương dạy thêm giờ  không quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật. Theo Điều 106 Bộ luật Lao động tổng số giờ làm thêm không quá 200 giờ/1 năm.

    Việc nhà trường chỉ tính cho bạn 100 tiết và lấy 64 tiết để trừ qua cho số tiết dạy định mức của bạn trong năm nay 2016-2017 là không phù hợp với quy định trên.

    Việc đầu tiên là bạn, hoặc bạn có thể cùng công đoàn cơ sở thực hiện việc bảo vệ quyền lợi về vấn đề này. Nếu nhà trường vẫn tiếp tục thực hiện như trên thì Bạn có thể gửi đơn khiếu nại tới ban giám hiệu. Nếu họ không giải quyết, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết lên cấp trên là cấp Phòng hoặc Sở để bảo đảm quyền lợi của mình.

    Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

62 Trang «<575859606162>