Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Nguyễn Thanh Tùng - thanhtungrcc

61 Trang <123456>»
  • Xem thêm     

    20/07/2020, 01:12:16 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Bộ luật lao động 2012 chỉ có quy định về việc trước ngày Hợp đồng lao động (HĐLĐ) xác định thời hạn hết hạn thì Người sử dụng lao động có trách nhiệm báo trước 15 ngày về việc chấm dứt hợp đồng lao động cho người lao động được biết. Mà không có quy định về việc khi hết hạn HĐLĐ người lao động có trách nhiệm thông báo trước về việc chấm dứt này. Do vậy, khi hết hạn hợp đồng người lao động có quyền nghỉ việc mà không bắt buộc phải thông báo cho người sử dụng.

    Liên quan đến vấn đề của bạn hợp đồng của bạn hết hạn vào thời điểm 1.8.2020, tuy nhiên nếu không vì các lý do trên mà công ty chấm dứt hợp đồng với bạn thì việc chấm dứt này là trái với quy định của pháp luật. Khi chấm dứt hợp đồng trái luật phía doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại điều 42 BLLĐ.

    Tuy nhiên , ngày 17.7.2020 sau khi đã hết giờ làm việc bạn mới được nhận được Thông báo về việc không ký tiếp hợp đồng lao động là đúng với quy định với thời hạn báo trước của công ty như ở trên.

    Căn cứ Luật Việc làmNghị định 28/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ hưởng BHTN trong đó có: Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đồng làm việc (HĐLV) đã hết hạn; quyết định thôi việc hoặc quyết định sa thải hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV;

    Với cách ghi thông báo như trên, thì bạn không thể dùng nó để làm hồ sơ xin trợ cấp thất nghiệp được vì thông báo này chì ghi về việc không ký tiếp hợp đồng lao động chứ không phải chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, sau khi hết hạn hợp đồng thì bạn có thể yêu cầu Công ty làm tiếp một thông báo nữa hoặc quyết định về việc chấm dứt HĐLĐ để đảm bảo quyền lợi của mình.

  • Xem thêm     

    20/07/2020, 12:41:48 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo quy định thì người nào có lỗi mà gây hậu quả nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường, người nào vi phạm quy định về an toàn lao động gây chết người thì sẽ bị truy cứu trách nhiêm hình sự.

    Với vụ việc của bạn, bạn có thể làm đơn tố cáo hoặc trình báo gửi đến cơ quan công an để tố cáo hành vi mà bạn cho rằng hành vi đó là hành vi phạm tội. Sau khi bạn gửi đơn trình báo hoặc tố giác đến cơ quan công an có thẩm quyền thì cơ quan công an sẽ giải quyết điều tra sự việc của bạn về các hành vi tội phạm như đã nêu.

  • Xem thêm     

    18/07/2020, 10:53:45 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Hành vi của người gửi ảnh nhạy cảm như ảnh dâm ô, đồi trụy cho bạn trên mạng xã hội là vi phạm vi phạm pháp luật.

    Căn cứ Nghị định 72/2013/NĐCP về quy định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng theo điểm b Khoản 1 Điều 5 về các hành vi bị cấm:

    “Điều 5. Các hành vi bị cấm

    1. Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:

    b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;”

    Nhà nước ta nghiêm cấm việc lợi dụng internet và dịch vụ thông tin nhằm vào mục đích tuyên truyền, kích động dâm ô, đồi trụy, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hành vi trên có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP có quy định

    Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

    3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

    Hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm trụy theo Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    “1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

    b) Ảnh có số lượng từ 100 ảnh đến dưới 200 ảnh;

    c) Sách in, báo in hoặc vật phẩm khác có số lượng từ 50 đơn vị đến dưới 100 đơn vị;

    d) Phổ biến cho từ 10 người đến 20 người;

    đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”

    Như vậy, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì phía bên người kia phải xác định về hành vi vi phạm có số lượng lớn hoặc phổ biến cho nhiều người hay đã bị xử phạt hành chính về cùng hành vi này mà chưa được xóa án tích thì ngươì kia mới bị khép vào tội "Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy".

    Căn cứ vào quy định của pháp luật thì bạn có thể nộp đơn tố cáo hành vi tội phạm của người này tại cơ quan công an. Để thuận tiện cho việc điều tra, bạn nên nộp đơn  kèm theo những chứng cứ về hành vi hoặc trình báo tại cơ quan có thẩm quyền như trên.

  • Xem thêm     

    18/07/2020, 11:23:19 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Việc bạn tham gia bảo hiểm xã hội gần giống như trường hợp khi đang làm việc cùng lúc tại hai công ty.

    Điểm a Khoản 1 Điều 4 Nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định  như sau:

    “Người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động mà người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

    Người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động còn lại có trách nhiệm chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật.”

    Bên cạnh đó,  khoản 1 Điều 42 Quyết định 595/QĐ- BHXH cũng quy định:

    “1. Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất, đóng BHTNLĐ, BNN theo từng HĐLĐ.”

    Như vậy, bạn đồng thời có 02 HĐLĐ với 02 đơn vị khác nhau nên sẽ đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên; đóng BHYT theo HĐLĐ thứ nhất (nếu có mức tiền lương cao nhất).

    Nếu bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà tuân thủ những điều kiện về nghĩa vụ báo trước (báo trước 30 ngày) thì không phải bồi thường cho người sử dụng lao động. Ngược lại, nếu bạn vi phạm các điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tức là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trái pháp luật thì sẽ phải bồi thường cho công ty mới vào làm việc.

  • Xem thêm     

    18/07/2020, 11:42:00 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 244/2005/QĐ-TTG Về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập và hướng dẫn tại Mục I Thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BGD&DT-BNV-BTC, chế độ phụ cấp ưu đãi được áp dụng với những đối tượng sau:

    – Thứ nhất, đối tượng là nhà giáo (bao gồm cả những người trong thời gian thử việc, hợp đồng) thuộc biên chế trả lương trong cơ sở giáo dục công lập với vai trò đang trực tiếp giảng dạy hay làm nhiệm vụ tổng phụ trách đội, hướng dẫn thực hành tại các xưởng trường, trạm, trại, phòng thí nghiệm.

    – Thứ hai, đối tượng là những cán bộ quản lý thuộc biên chế trả lương của các cơ sở giáo dục công lập trực tiếp giảng dạy đủ số giờ theo quy định.

    Riêng đối tượng là nhà giáo thuộc biên chế trả lương trong cơ sở giáo dục công lập để được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nhà giáo cần phải được chuyển, xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP vào các ngạch viên chức ngành giáo dục và đào tạo (các ngạch có 2 chữ số đầu của mã số ngạch là 15).

    Tuy nhiên, không phải trong mọi thời điểm, những người đủ điều kiện hưởng phụ cấp ưu đãi dành cho nhà giáo đều được hưởng phụ cấp này. Căn cứ điểm b khoản 2 mục I Thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC thì Chế độ phụ cấp ưu đãi sẽ không được tính trong các khoảng thời gian sau:

    - Thời gian đi công tác, làm việc, học tập ở nước ngoài hưởng 40% tiền lương theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

    - Thời gian đi công tác, học tập ở trong nước không tham gia giảng dạy liên tục trên 3 tháng;

    - Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên;

    - Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản vượt quá thời hạn theo quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội hiện hành;

    - Thời gian bị đình chỉ giảng dạy.

    Trường hợp của bạn từ tháng 1 đến tháng 6/2020 không tham gia giảng dạy liên tục trên 3 tháng thì thì chế độ phụ cấp ưu đãi sẽ không được tính.

  • Xem thêm     

    19/07/2020, 06:02:36 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Tội đánh bạc được hiểu là việc tham gia trò chơi có được thua bằng tiền hoặc tài sản dưới bất kỳ hình thức nào. Do vậy đá gà ăn tiền cũng được xem là một hình thức trò chơi theo đó bên thắng sẽ được tiền và bên thua bị mất tiền, từ phân tích nêu trên có thể khảng định đây cũng được xem là hành vi của tội đánh bạc.

    Không phụ thuộc vào số tiền dùng để cá cược mà chỉ cần có hành vi cá cược sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của từng vụ việc và số tiền được sử dụng để cá cược mà người có hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình; thì đá gà ăn tiền có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể:

    “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây: Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;”

    Như vậy, theo quy định trên, hành vi đánh bạc nói chung và hành vi chơi đá gà ăn tiền nói riêng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

    Với những cuộc cá cược lớn trong đá gà có quy mô lớn và mức độ nghiêm trọng hơn có thể bị xử phạt hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

    Điều 321. Tội đánh bạc

    1. Người nào đánh bạctrái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Có tính chất chuyên nghiệp;

    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

    c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

    d) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

    Đối với tội phạm này nhà làm luật không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc nhưng lại quy định giá trị tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu hành vi đánh bạc, mà giá trị tiền hay hiện vật dùng vào việc đánh bạc có giá trị dưới 5. 000.000 VNĐ thì chưa cấu thành tội danh này.

    Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định xử phạt thuộc thẩm quyền của Tòa án, cơ quan Công an xác minh điều tra đưa ra quyết định xử lýt.

  • Xem thêm     

    14/07/2020, 02:00:14 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

    1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

    4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

    Khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm năm 2013 quy định về hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

    1. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

    Theo quy định nêu trên, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có trách nhiệm phải hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bạn.

    Căn cứ quy định trên, khi bạn nghỉ việc ở công ty trong thời hạn 07 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày thì công ty phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn. Và trong thời gian này, công ty có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bạn.

    Trường hợp, sau thời gian 07 đến 30 ngày mà công ty không trả sổ cho bạn thì bạn có thể làm đơn kiến nghị gửi trực tiếp lên công ty để công ty tiến hành chốt sổ và trả sổ. Nếu công ty không giải quyết bạn cần yêu cầu công ty trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trường hợp, bạn đã có đơn kiến nghị gửi đến công ty nhưng công ty không phản hồi lại thì bạn có thể làm đơn khiếu nại lên Phòng Lao động thương binh và xã hội quận (huyện) nơi công ty có trụ sở để yêu cầu giải quyết.

    Khi có đơn khiếu nại, bên thanh tra lao động sẽ tiến hành kiểm tra. Trường hợp, xác định công ty có hành vi vi phạm sẽ tiến hành xử phạt hành chính.

  • Xem thêm     

    14/07/2020, 05:37:44 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Khi thực hiện hành vi mua bán hàng hóa thì giữa bên mua và bên bán đã xác lập một hợp đồng mua bán. Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Như vậy, hình thức trả tiền trước và nhận hàng sau là do các bên thỏa thuận trong quá trình xác lập giao dịch. Việc bên bán không giao hàng cho bên mua là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận.

    Căn cứ khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, người bán hàng phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người mua. Trường hợp người mua đã thanh toán tiền, người bán có nghĩa vụ hoàn trả tiền và phải bồi thường thiệt hại khi người mua chứng minh được việc không giao hàng gây thiệt hại cho người mua. Khi bên bán không giao hàng theo thỏa thuận, người mua hoàn toàn có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết.

    Căn cứ các quy định của luật và thỏa thuận mua bán giữa các bên, trường hợp bên bán đã nhận tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo đúng hạn được xác định là vi phạm nghĩa vụ. Theo đó, bên bán phải chịu trách nhiệm dân sự đôi với bên có quyền: tiếp tục thực hiện nghĩa giao hàng hóa hoặc trả tiền và bồi thường thiệt hại (nếu có).

    Trong trường hợp trên, bản chất của hành vi mua bán hàng là giao dịch dân sự nên khi bên bán không thực hiện đúng thỏa thuận thì bạn cũng có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu giải quyết.

    Vậy, theo Điều 186 BLTTDS 2015 thì bạn có quyền gửi đơn tới TAND quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi đóng trụ sở (bị đơn là tổ chức) để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ của mình nếu các bên không tự thỏa thuận hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.

    Người bán hoàn toàn có thể bị xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có thủ đoạn gian dối như không có sản phẩm nhưng vẫn quảng cáo để bạn đặt mua hàng và bạn đã chuyển tiền nhưng không nhận được hàng từ người bán. Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, bị phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Hơn nữa, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1-5 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Tuy nhiên, việc kết tội người này còn tùy thuộc vào mục đích phạm tội xác minh trong quá trình điều tra. Bạn có thể gửi đơn tố giác hoặc tố giác trực tiếp sự việc đến Cơ quan công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Để giải quyết một cách nhanh nhất bạn nên tố giác đến Cơ quan điều tra cấp quận, huyện để được giải quyết nhanh chóng, kịp thời. Sau khi tiếp nhận sự việc cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra xác minh và bảo vệ quyền lợi cho bạn.

  • Xem thêm     

    14/07/2020, 06:01:27 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Căn cứ Khoản 5 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định,  thời hạn điều tra được tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận hồ sơ vụ án cho đến hết thời hạn điều tra vụ án theo quy định của pháp luật.

    Nếu vụ án có tính chất phức tạp, cần thiết phải gia hạn để điều tra thì cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra trong thời gian chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra. Theo đó, khoản 2 Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về thời gian được phép gia hạn căn cứ vào tính chất của các vụ án.

    Trường hợp khởi tố vụ án hình sự rất nghiêm trọng vào ngày 01/2, như vậy thời hạn điều tra hết vào ngày 01/6. Vậy khi gia hạn lần 1 sẽ bắt đầu vào ngày 01/6 như quy định ở trên.

  • Xem thêm     

    15/07/2020, 10:31:33 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Thông thường, trước khi tiến hành ký kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động thường giao kết hợp đồng thử việc. Trước khi giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Đây là giai đoạn quyết định khả năng được tuyển dụng chính thức của người lao động và quyết định sự hợp tác, gắn bó lâu dài giữa người lao động với người sử dụng lao động. Về giao kết hợp đồng thử việc (Điều 26 Bộ luật Lao động 2012) quy định: Nếu người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

    Tại điều 29 luật lao động quy định:

    Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

    1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

    Sau khi thử việc đạt yêu cầu thì luật buộc người sử dụng lao động phải giao kết Hợp đồng lao động chứng tỏ Hợp đồng thử việc và Hợp đồng lao động là khác nhau.

    Như vậy, lao động vào công ty thử việc từ 01/03/2020 đến 30/04/2020 là hết hạn thử việc, sau khi người lao động hết 2 tháng thử việc và được công ty thông qua, trở thành nhân viên chính thức thì thời gian bắt đầu ghi trong hợp đồng lao động sẽ là 01/05/2020 - 30/04/2021 (không bao gồm thời gian thử việc)

  • Xem thêm     

    15/07/2020, 10:43:19 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Nếu người chở người khác đi không biết việc chở người kia để đi gây án hoặc mức độ thiệt hại hay gây thương tích chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: trong trường hợp này, người chở sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như không bị khởi tố.

    Nếu người chở biết việc chở người kia là để họ thực hiện hành vi gây án mà vẫn tham gia và mức độ thương tích hoặc thiệt hại của người bị hại đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự: trong trường hợp này, người chở có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với vai trò là người giúp sức trong vụ đồng phạm.

  • Xem thêm     

    15/07/2020, 11:23:44 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo Nghị định số 34/2011Nghị định số 27/2012, cán bộ, công chức, viên chức sử dụng bằng giả bị xử lý kỷ luật như sau: Cán bộ bị tòa án phạt tù (vì hành vi sử dụng bằng giả) mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc.

    Nếu công chức, viên chức sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thì bị xử lý kỷ luật với hình thức buộc thôi việc.

    Bạn thi tuyển vào bệnh viện tỉnh với bằng trung cấp y giả vào năm 2018 và đến năm 2019 bệnh viện phát hiện nhưng trong thời gian này  bạn đang nghỉ thai sản nên bệnh viện gửi thông báo hủy kết quả thi tuyển.

    Hành vi sử dụng bằng giả để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thì bị xử lý kỷ luật với hình thức buộc thôi việc là đúng quy định ở trên cho dù đến tháng 6 vừa rồi bạn đã nộp bằng trung cấp y thật cho bệnh viện.

  • Xem thêm     

    15/07/2020, 11:35:18 SA | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về điều kiện hưởng chế độ thai sản:

    “1.Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây

    b) Lao động nữ sinh con

    2.Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.”

    Dựa vào quy định trên thì điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con là bạn phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh.

    Theo như những thông tin mà bạn cung cấp thì đã đóng BHXH từ 9/2017 đến hết tháng 5/2020. Bạn dự sinh vào ngày 24/01/2021 nên bạn tính Tháng 8/2020 làm thủ tục để nhận bảo hiểm thất nghiệp và tháng 12/2020 xin vào công ty khác để đóng tiếp BHXH, như vậy bạn có 3 tháng bạn ngừng không đóng là tháng 8 , 9, 10,11.

    Căn cứ khoản 1 Điều 9 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2015 thì thời gian 12 tháng trước khi sinh của bạn được tính như sau :

    – Nếu tháng 8 bạn có đóng BHXH thì 12 tháng trước khi sinh của bạn được tính từ tháng 9/2015 đến tháng 8/2016. Và trong thời gian này bạn đóng BHXH các tháng 8, 9, 10, 11/2020 và tháng 4, 5, 6, 7, 8/2020, tức là tổng 9 tháng (đủ điều kiện từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh). Do đó, bạn đủ điều kiện được hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

    –Nếu tháng 8 bạn không đóng BHXH thì 12 tháng trước khi sinh của bạn được tính từ tháng 8/2019 đến tháng 7/220. Và trong thời gian này bạn đóng BHXH các tháng 8, 9, 10, 11, 12/2019 và tháng 4, 5, 6, 7/2020 tức là bạn đã đóng được 9 tháng BHXH trong thời gian 12 tháng trước khi sinh và do đó bạn được hưởng chế độ thai sản khi sinh con. Như vậy, trường hợp của bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

  • Xem thêm     

    18/07/2020, 10:43:07 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Nhiều bạn vẫn thường cho rằng việc liên hệ báo tin hoặc tố giác với cơ quan chức năng sau khi đã bị trộm là vô ích, vì gần như không thể tìm lại các tài sản bị trộm. Tuy nhiên, việc liên hệ với cơ quan cơ quan công an sẽ mang lại một số lợi ích thực tế.

    Theo những dấu vết hoặc những báo cáo mất mát do bên cơ quan công an lập ra, phía công an, cảnh sát khu vực có thể từ đó khoanh vùng đối tượng đối tượng đột nhập, và tăng khả năng bắt giữ kẻ trộm. Hơn nữa, khi nhận được báo cáo mất trộm tại địa phương, khu vực bạn sống sẽ được tăng cường tuần tra, và khả năng bạn bị mất trộm lần tiếp theo sẽ hạn chế rất nhiều.

    Để vụ việc được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, bạn hoặc người bị mất trộm nên trình bày rõ với cơ quan công an những điều khẳng định nghi ngờ của bạn và những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người bị nghi ngờ. Những chứng cứ này sẽ rút ngắn thời gian điều tra vụ án​. Căn cứ vào thời hạn giải quyết tin tố giác tôi phạm nêu trên bạn có thể xác định cơ quan Công An có tiến hành xử lý kịp thời sự việc mà bạn báo không. Nếu nhận thấy không được các cán bộ công an giải quyết, bạn nên nộp đơn tố cáo đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

    Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải có trách nhiệm đối với việc tố cáo của bạn.

  • Xem thêm     

    10/07/2020, 05:12:53 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Về nguyên tắc trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn được hiểu như sau

    + Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp cho người lao động:  người trả lương cho người lao động là người sử dụng lao động hoặc người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm chính trong việc trả lương cho người lao động;

    + Người sử dụng lao động phải trả lương đầy đủ cho người lao động: người nhận lương là người lao động theo hợp đồng lao động đã giao kết. Riêng đối với người sử dụng lao động có sử dụng lao động qua người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự, Nhà nước cho phép người sử dụng lao động có thể trả lương thông qua người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự này, tuy nhiên người sử dụng lao động là chủ chính vẫn phải chịu trách nhiệm về tiền lương và các quyền lợi khác cho người lao động, nhất là trong trường hợp người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự không trả hoặc không trả đầy đủ cho người lao động.

    Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

    “Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.”

    Như vậy, trường hợp bạn nghỉ việc ở công ty (chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật), thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có trách nhiệm phải trả đầy đủ lương (tiền lương tháng trước còn thiếu và tiền lương cho số ngày làm việc mà bạn đã làm cho công ty tính đến thời điểm nghỉ việc mà chưa được trả) cho bạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Trong trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

  • Xem thêm     

    11/07/2020, 10:51:19 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo Điều 295 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người như sau:

    “1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

    Ngoài mức phạt tù như trên, thì người bị chết còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm dân sự đối với người có lỗi gây ra tai nạn lao động

    Do đó, có thể xác định lỗi của những người quản lý, công nhân nếu họ thiếu trách nhiệm, làm ẩu, sai quy tắc an toàn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng sẽ được cơ quan công an có thẩm quyền. Việc khởi tố không phụ thuộc phía người bị hại có đơn tố cáo hay không. Như vậy, sau khi dì bạn gửi đơn trình báo hoặc tố giác đến cơ quan công an có thẩm quyền thì cơ quan công an sẽ giải quyết điều tra sự việc của dì bạn về các hành vi tội phạm như đã nêu.

  • Xem thêm     

    11/07/2020, 11:28:56 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Gia đình dì bạn phải gửi đơn trình báo hoặc tố giác đến cơ quan công an có thẩm quyền thì cơ quan công an sẽ giải quyết điều tra sự việc của dì bạn, từ đó họ mới có thể xác định lỗi của những người làm sai quy tắc an toàn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

  • Xem thêm     

    11/07/2020, 03:22:37 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại đối với một số tội phạm. Cụ thể:

    “Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

    1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

    2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

    3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

    Như vậy, đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì không thuộc một trong các tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bên bị hại. Do đó, nếu  xác định được  bạn có thủ đoạn gian dối để nhận được số tiền 70 triệu của bên bị hại với mục đích chiếm đoạt số tiền này thì cơ quan có thẩm quyền vẫn khởi tố bố bạn với tội danh ở trên mà  không phụ thuộc vào việc bạn đã bồi thường và người bị hại đã rút đơn khởi kiện.

    Việc bạn tự nguyện trả tiền, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra thì tình tiết này được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 hiện hành.

  • Xem thêm     

    13/07/2020, 08:43:06 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Việc điều chuyển bạn phải tuân theo quy định tại Điều 31 Bộ luật Lao động 2012 như sau:

     “Điều 31. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

    1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

    2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

    3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.”

    Như vậy, công ty sẽ chỉ được tạm điều chuyển nhân viên sang vị trí khác do nhu cầu sản xuất, kinh doanh không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm trừ trường hợp có sự đồng ý của người lao động, tức là nếu muốn điều chuyển bạn sang vị trí khác so với hợp đồng lao động mà thời gian dài hơn 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm thì công ty cần phải có sự đồng ý của bạn bằng văn bản theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 8 Nghị định 05/2015/NĐ-CP:

     “Điều 8. Tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác

    Người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động tại Khoản 1 Điều 31 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

    3. Người sử dụng lao động đã tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động đủ 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, nếu tiếp tục phải tạm thời chuyển người lao động đó làm công việc khác so với hợp đồng lao động thì phải được sự đồng ý của người lao động bằng văn bản.

    4. Người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại Khoản 3 Điều này mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Khoản 1 Điều 98 của Bộ luật Lao động.”

    Người lao động bị điều chuyển sang công việc mới sẽ được trả lương theo công việc mới, nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Trường hợp công ty điều chuyển nhân viên mà mức lương thấp hơn 85% mức lương công việc cũ thì công ty không đủ điều kiện để điều chuyển nhân viên sang công việc mới theo quy định của BLLĐ. Nếu công ty cố tình điều chuyển nhân viên quá thời hạn 60 ngày mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bạn và mức lương của công việc mới thấp hơn 85% mức lương của công việc cũ thì bạn có quyền khiếu nại hoặc ngừng việc để khởi kiện Công ty ra Tòa án có thẩm quyền, công ty có trách nhiệm phải trả lương ngừng việc cho bạn trong trường hợp này.

  • Xem thêm     

    13/07/2020, 09:26:21 CH | Trong chuyên mục Lao động

    thanhtungrcc
    thanhtungrcc
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:28/08/2008
    Tổng số bài viết (1254)
    Số điểm: 7242
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 721 lần
    Lawyer

    Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật lao động quy định thì công ty sẽ có trách nhiệm hoàn thành thủ tục trả lại sổ BHXH và các giấy tờ khác cho bạn sau khi hai bên chấm dứt hợp đồng lao động như sau :

    “Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

    1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

    4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán”.

    Nhưng theo như bạn cho biết thì công ty đã không hoàn trả các giấy tờ cho bạn sau hơn 30 ngày chấm dứt hợp đồng. Hiện tại thì chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về thời hạn công ty phải hoàn trả các giấy tờ cho bạn vì vậy nếu như bạn muốn lấy lại các giấy tờ của mình thì bạn có thể gửi đơn đến Phòng lao động thương binh và xã hội để yêu cầu Hòa giải viên lao động hòa giải. Nếu vẫn không nhận được giấy tờ của mình thì bạn có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đó đặt trụ sở yêu cầu giải quyết.

61 Trang <123456>»