Làm giấy CNQSDĐ

Chủ đề   RSS   
  • #259765 07/05/2013

    hovan0506

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2013
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 50
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Làm giấy CNQSDĐ

    Xin chào luật sư!

    Em có một số thắc mắc về vấn đề đất đai cần hỏi luật sư.

    Trước đây Cô của em có mua một mảnh đất nhỏ của nhà hàng xóm bên cạnh, hai bên đã làm hợp đồng và bàn giao tiền cho nhau. Tuy nhiên hợp đồng mà hai bên ký chỉ có xác nhận của xóm chứ chưa được công chứng ở xã. Bây giờ cô của em có nhu cầu muốn làm bìa đỏ và nhập mảnh đất mà cô đã mua vào bìa đỏ nhưng do hai nhà có xích mích chuyện cá nhân nên đã gây khó dễ cho cô của em. vậy cho em hỏi bây giờ cô của em muốn nhập mảnh đất đã mua vào bìa đỏ của mình thì phải làm như thế nào ạ. Mong luật sư tư vấn giúp em!

     
    5904 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #260051   08/05/2013

    ath3na
    ath3na

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/05/2013
    Tổng số bài viết (9)
    Số điểm: 60
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 1 lần


    Chào bạn! 

    Để trả lời câu hỏi của bạn bạn có thể cho mình hỏi:

    - Cô bạn mua mảnh đất đó có sổ đỏ không? Cô bạn mua mảnh đất đó vào ngày/tháng/năm mấy ?

    - Mảnh đất cô bạn mua hiện tại có tranh chấp gì không? và 2 mảnh đất đó có liền kề nhau không?

    Mình không viện dẫn các điều luật về đất đai vì với bạn nó rất khô khan và khó hiểu, nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn thì có thể xem nghị định88/2009/nđ-cp.

    Với trường hợp của cô bạn sẽ có các hướng giải quyết như sau:

    - Nếu mảnh đất cô bạn mua trước ngày 1/4/2004 ( có thể có hoặc không có sổ đỏ )  thì cô bạn không cần phải có hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ( Vì khi đó luật đất đai 2003 chưa có hiệu lực. Thay vào đó sẽ là Phiếu lấy ý kiến khu dân cư  xem nguồn góc đất, nguồn góc mua bán có đúng hay không, cái này địa chính xã, phường sẽ làm cho bạn khi bạn nộp hs xin cấp GCNQSDĐ)

    - Nếu mảng đất đó mua sau ngày 1/4/2004:

    + Chưa có sổ đỏ: Thì bạn phải xin cấp sổ đỏ cho chủ củ ( ở đây là hàng xóm của cô bạn ) sau khi hàng xóm của cô bạn có sổ đỏ thì sẽ chuyển sổ đỏ đó lại cho cô của ban. 

    + Đã có sổ đỏ : Thì cô bạn và hàng xóm phải làm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Sau khi làm xong thì cô bạn có thể xin chuyển quyền sử dụng đất.

    - Sau khi cô bạn đứng tên trong bìa đỏ thì có thể gộp 2 mảnh đất này thành 1 với điều kiện không có tranh chấp và là 2 mảnh đất liền kề

                                                                                                                           Bạn có thể liện hệ: vophiphuocloc@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #260248   09/05/2013

    letonvl
    letonvl

    Male
    Mầm

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:02/02/2013
    Tổng số bài viết (90)
    Số điểm: 616
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 28 lần


    Gởi bạn!
    Trường hợp của bạn để làm thủ tục cấp GCN/QSD đất cho cô bạn phải thực hiện như sau:

    Bạn phải nhờ chủ sụng đất đứng tên trên GCN là nhà hàng xóm nộp sổ đỏ tại VPĐK QSD đất cấp quận, huyện tách thửa phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho cô bạn ra thành 1 sổ đỏ riêng. Sau khi có sổ đỏ mới phần diện tích tách 2 bên đem sổ đỏ đến văn phòng công chứng, hoặc UBND xã phường, thị trấn nơi có đất làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất.

    Sau khi cô bạn được cấp GCN/QSD đất phần nhận chuyển nhượng nói trên nếu có nhu cầu thì cô bạn sẽ được hợp thửa phần đất mới mua với phần đất của cô bạn với điều kiện 2 thửa đất trên phải cùng một mục đích sử dụng đất. Nếu thửa đất nhận chuyển nhượng không cùng mục đích sử dụng với thửa đất cô bạn thì phải chuyển mục đích 1 trong 2 thửa về cùng một mục đích sử dụng mới hợp thửa được.

    Về trình tự thủ tục là như thế nhưng bạn trình bày là nhận chuyển nhượng làm hợp đồng tay nhưng giờ hai nhà có xích mích, nếu bên chuyển nhượng là hàng xóm không làm thủ tục cho bạn thì chỉ còn cách duy nhất là bạn phải làm đơn giải quyết tranh chấp phần đất nhận chuyển nhượng nói trên.

    Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp là trước hết bạn gởi đơn tại xã phường thị trấn nơi có đất, sau khi hòa giải không thành sẽ chuyển hồ sơ bạn khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi có đất.

    Về kết quả giải quyết tranh chấp thì bạn không nêu rõ thời gian mua giấy tay là thời điểm năm nào nên tôi không thể tư vấn giúp bạn. Theo quy định nếu cô bạn nhận chuyển nhượng giấy tay trước thời điểm 1/7/2004 (trước thời điểm luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành) thì sẽ được công nhận phần diện tích nhận chuyển nhượng nói trên. Nếu sau 1/7/2004 sẽ vô hiệu hợp đồng tay. 

    Phần trình bày giải quyết tranh chấp tại tòa của tôi chỉ mang tính chất tham khảo tùy vào diễn biến cụ thể sự việc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất có thể có thay đổi, ví dụ như phần đất nhận chuyển nhượng cô bạn đã xây dựng nhà kiên cố, sử dụng.v.v.v.v. lúc đó thẩm phán tòa án mới có quyết định cuối cùng. Bạn có thể nhờ luật sư có kinh nghiệm nơi bạn cư trú tư vấn thêm. 

    Thân!

    Lê Anh Tôn.Email: letonvl@yahoo.com.vn

    Chung tay giúp sức cộng đồng.

     
    Báo quản trị |  
  • #260471   10/05/2013

    letonvl
    letonvl

    Male
    Mầm

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:02/02/2013
    Tổng số bài viết (90)
    Số điểm: 616
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 28 lần


    Gởi bạn ath3na!

    Có một vài thông tin cần xem lại.

    1/ Mốc thời gian để xác định hiệu lực hợp đồng tay là 1/7/2004. Ngày Luật đất đai có hiệu lực thi hành.

    2/ Trường hợp mua bán giấy tay trước 1/7/2004 có đầy đủ chữ ký của các bên thì giấy tay có giá trị pháp lý không cần làm lại hợp đồng chuyển nhượng QSD đất theo mẫu quy định và có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    3/ Trường hợp giấy tay trước 1/7/2004 có giấy chứng nhận sẽ giải quyết khác, không có GCN/QSD đất sẽ giải quyết khác, không thể giải quyết theo như bạn nói.

    - Trường hợp thửa đất trên chưa được cấp GCN/QSD đất sẽ áp dụng theo thủ tục đăng ký cấp GCN?QSD đất lần đầu. Áp dụng hồ sơ đăng ký lần đầu. 

    Văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp trên được quy định cụ thể tại nghị định 84/2007/NĐ-CP chứ không phải nghị định 88 như bạn nói. Cụ thể tại điều 14, 15 quy dịnh như sau:

     

    Điều 14. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp đất do hộ gia đình, cá nhân sử dụng từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai

    1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xử lý theo quy định sau:

    a) Tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với đất thuộc vùng đã có quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt mà việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đó và chưa có quyết định thu hồi đất trong trường hợp đất phải thu hồi thì được cấp Giấy chứng nhận.

    Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng nhưng diện tích không phải nộp tiền sử dụng đất không vượt quá hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận; đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP.

    Trường hợp đất có công trình xây dựng (không phải nhà ở) thì phải xác định diện tích đất phi nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất phi nông nghiệp.

    Đối với phần diện tích đất được xác định là đất nông nghiệp thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này;

    b) Trường hợp tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận mà chưa có quy hoạch được xét duyệt thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại điểm a khoản này;

    c) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản về chủ trương thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 của Nghị định này thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại điểm a khoản này;

    d) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận việc sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt và đã có chủ trương thu hồi đất bằng văn bản theo quy định tại Điều 49 Nghị định này thì người sử dụng đất không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất;

    đ) Trường hợp quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh mà toàn bộ hoặc một phần thửa đất phù hợp với quy hoạch điều chỉnh đó hoặc trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hủy quy hoạch thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại điểm a khoản này.

    2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc nhóm đất nông nghiệp mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau:

    a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

    b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng.

    Đối với đất nông nghiệp trên cùng thửa đất có nhà ở mà không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận như trường hợp quy định tại điểm a khoản này.

    3. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa cũng được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định               số 181/2004/NĐ-CP.

    4. Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây (trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này):

    a) Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;

    b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;

    c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;

    d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;

    đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.

    5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 15 Nghị định này.

    Điều 15. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp đất do hộ gia đình, cá nhân sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau

    1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định này, nay Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt hoặc chưa có quy hoạch được xét duyệt tại thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau đây:

    a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở thì phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP đối với diện tích đất ở đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận; đối với diện tích đất ở thực tế ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP;

    b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có công trình xây dựng (không phải là nhà ở) thì phải xác định diện tích đất phi nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng. Người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất phi nông nghiệp theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP; giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp cùng loại;

    c) Đối với phần diện tích đất được xác định là đất nông nghiệp thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định này.

    2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong khoảng thời gian từ      ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà toàn bộ hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp nhưng không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch hoặc tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có các hành vi vi phạm được quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định này thì toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất đó không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    3. Nhà nước không công nhận quyền sử dụng đất, không cấp Giấy chứng nhận và thu hồi toàn bộ diện tích đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau.

    Trường hợp có GCN sẽ giải quyết theo đăng ký biến động về QSD đất: Lý do là 1 thửa đất không thể cấp 2 GCN/QSD đất bạn lưu ý nhé.

    Cụ thể : Điều 11. Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định

     

    1. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi là người nhận chuyển quyền) trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà chưa được cấp Giấy chứng nhận nhưng có giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của bên chuyển quyền (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc chuyển quyền) thì không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 135 hoặc khoản 1 Điều 136 Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP.

    2. Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở gắn liền với đất ở mà các bên đã lập xong hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền nhưng người chuyển quyền sử dụng đất không nộp Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai (gọi là giấy tờ về quyền sử dụng đất) để làm thủ tục chuyển quyền thì thực hiện như sau:

    a) Người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ gồm đơn xin cấp Giấy chứng nhận và hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất để được cấp Giấy chứng nhận; nơi nộp hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 122 Nghị định  số 181/2004/NĐ-CP;

    b) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ vào hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất, thông báo bằng văn bản cho người chuyển quyền, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền và việc hủy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng chưa được giao cho người nhận chuyển quyền đối với trường hợp chuyển quyền toàn bộ diện tích đất; về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền và việc chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển quyền một phần diện tích đất; trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên báo địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng báo do người xin cấp Giấy chứng nhận trả);

    c) Sau thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên báo địa phương về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì thủ tục cấp Giấy chứng nhận thực hiện theo quy định tại Điều 135 hoặc Điều 136 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hoặc theo quy định của pháp luật về nhà ở; Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyết định huỷ Giấy chứng nhận đã cấp cho bên chuyển quyền nếu bên chuyển quyền không nộp Giấy chứng nhận; nếu bên chuyển quyền nộp Giấy chứng nhận thì chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

    Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Luật Đất đai.

    Tôi trình bày thêm để mong các chuyên gia tư vấn tư vấn chính xác thông tin để cộng đồng có thông tin chính xác, tránh trường hợp tư vấn nhầm lẫn. Có gì mong các bạn thông cảm!

    Thân!

     

    Lê Anh Tôn.Email: letonvl@yahoo.com.vn

    Chung tay giúp sức cộng đồng.

     
    Báo quản trị |