Không đơn phương chấm dứt HĐLĐ được chuyển nhân viên sang vị trí khác đúng hay sai?

Chủ đề   RSS   
  • #160098 09/01/2012

    MINHTRUNG1980

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/09/2010
    Tổng số bài viết (25)
    Số điểm: 275
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 4 lần


    Không đơn phương chấm dứt HĐLĐ được chuyển nhân viên sang vị trí khác đúng hay sai?

    Kính gửi các Luật sư và Anh, chị Dân Luật!
            Tôi hiện đang làm chuyên viên pháp chế cho một Công ty, công việc đang diễn ra bình thường, tôi không vi phạm nội quy Công ty. Một hôm, Bộ phận hành chính nhân sự mời Tôi làm việc và thông báo bằng miệng với Tôi: "ngày nghỉ tết âm lịch là ngày công ty chấm dứt HĐLĐ với Tôi, với lý do Công ty thu hẹp kinh doanh, Cty trả cho tôi 1 tháng lương, ngoài ra không có chế độ gì". Tôi rất bất ngờ vì HĐLĐ còn đến 6 tháng (Tôi ký HĐLĐ 12 tháng), Tôi chấp nhận nghỉ với điều kiện Cty phải trả cho tôi ít nhất 3 tháng lương thực lãnh trong khoảng thời gian còn lại của HĐLĐ, vì trường hợp Tôi không thuộc trường hợp đơn phương chấm HĐLĐ theo điều 38 của Bộ Luật Lao động hiện hành.
            Khi Tôi đưa ra yêu cầu nêu trên Cty không đồng ý và chuyển hướng khác: chuyển tôi sang vị trí hành chính trái với chuyên ngành của Tôi và cho tôi hưởng 70% lương so với vị trí pháp chế theo điều 34 Bộ Luật Lao động, với lý do chuyển chỗ khác cho chán tự làm đơn xin nghỉ cty không phải bồi thường.
            Xin hỏi các Luật sư và Anh, chị Dân Luật CTy tôi làm vậy có đúng không? Tôi phải tiến hành các bước như thế nào để khởi kiện Cty. Xin chân thanh cám ơn
     
    6214 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #162539   01/02/2012

    phamthanhtaimd
    phamthanhtaimd
    Top 150
    Male


    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/11/2008
    Tổng số bài viết (437)
    Số điểm: 2279
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 91 lần


    Chào bạn!
    Căn cứ Điều 17 Bộ luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật lao động năm 2002, 2006, 2007): Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương.

    Theo Điều 11 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm thì:

    Những trường hợp sau đây được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ Luật Lao động:

    1. Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn.

    2. Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn.

    3. Thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị Những thay đổi trên dẫn đến người lao động bị mất việc làm thì người sử đung lao động có trách nhiệm đào tạo lại nghề cho người lao động để sử dụng vào công việc mới. Nếu không giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ Luật Lao động và Điều 12, Điều 13 của Nghị định này.

    Như vậy, trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên bị mất việc làm, người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc và người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ Luật Lao động và Điều 12, Điều 13 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm.

    Tuy nhiên thì theo như thông tin mà bạn cung cấp, bạn mới chỉ làm việc trong công ty được khoảng 6 tháng, do vậy, sẽ không thuộc trường hợp nêu trên.

    Đây thuộc trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    - Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Lao động và hướng dẫn tại Điều 9 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ thì việc tạm thời chuyển người lao động (NLĐ) làm việc khác trái nghề được quy định như sau:

    1– Khi gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày.

    2– Khi tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất ba ngày, phải báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và giới tính của người lao động.

    3– Người lao động tạm thời làm công việc khác theo quy định tại khoản 1 Điều này, được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    (Điều 34 Bộ luật Lao động)

    1. Khi người sử dụng lao động gặp khó khăn đột xuất do khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước hoặc nhu cầu của sản xuất - kinh doanh thì người sử dụng lao động có quyền tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm. Trong thời gian này, nếu người lao động không chấp hành quyết định của người sử dụng lao động thì có thể bị xử lý kỷ luật lao động và không được hưởng lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Lao động và tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.

    2. Trong trường hợp người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm thì phải có sự thoả thuận của người lao động; nếu người lao động không chấp thuận mà họ phải ngừng việc thì người đó được hưởng lương theo quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật Lao động.

    (Điều 9 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ thì việc tạm thời chuyển người lao động (NLĐ) làm việc khác trái nghề được quy định như sau)

    Căn cứ theo quy định này thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) gặp khó khăn đột xuất do khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước hoặc nhu cầu của sản xuất - kinh doanh thì NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ làm việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm. Việc điều chuyển quá 60 ngày phải được sự chấp thuận của NLĐ. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    Theo các quy định trên, đối chiếu với trường hợp của bạn, bạn có thể biết được các quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật.

    - Căn cứ theo quy định tại Điều 158, 165,166 BLLĐ năm 1994, sửa đổi, bổ sung thì bạn và NSDLĐ có thể tự thương lượng để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp bạn và NSDLĐ không thể tự thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp thì có thể thông qua Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động để giải quyết. Trường hợp Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn quy định thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. 
    Trân trọng!

    Luật sư-Thạc sỹ luật học Phạm Thành Tài

    - Giám đốc Công ty luật Phạm Danh – Đoàn luật sư TP Hà Nội.

    ĐC: Tầng 1, Nhà C, Đền Lừ 1, quận Hoàng Mai, HN.

    ĐT: 04.36342301/0913378662 - 0904883477

    Email: pttailawyer@yahoo.com/luatphamdanh@gmail.com

    Web: http://luatphamdanh.net/luatsuhonnhan.com

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn phamthanhtaimd vì bài viết hữu ích
    thuhoai1970 (25/12/2012) trangnguyenbita (08/11/2013)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

LS-Th.S luật học Phạm Thành Tài - Giám đốc Công ty luật Phạm Danh – Đoàn luật sư TP Hà Nội.

ĐC: 18, Lô3, Đền Lừ 1, quận Hoàng Mai, HN - Web: http://luatphamdanh.net

ĐT: 04.36342301/0913378662 - 0904883477 - Email: pttailawyer@yahoo.com/lsphamtai@luatphamdanh.net