DanLuat 2015

khi phat mãi tài sản chồng có quyền không

Chủ đề   RSS   
  • #279737 06/08/2013

    lamlecao

    Chồi

    Trà Vinh, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2013
    Tổng số bài viết (40)
    Số điểm: 1046
    Cảm ơn: 27
    Được cảm ơn 0 lần


    khi phat mãi tài sản chồng có quyền không

     Kính thưa luật sư ! khi kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng , bên thế chấp chỉ có mình vợ kí ( vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có mình vợ đứng tên ) . , nhưng chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ , đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng . ( tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân ) . Vậy khi ngân hàng khởi kiện ra tòa để xử lí tài sản thế chấp trên thì có cần phải có mặt tại tòa không . ( vì tài sản này dùng để bảo đảm cho một hợp đồng tín dụng của người khác , không chung hộ ) .

                                 Rất mong sự trợ giúp của luật sư xin cám on

     
    10135 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

2 Trang 12>
Thảo luận
  • #279783   07/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


     

    lamlecao viết:

     

     Kính thưa luật sư ! khi kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng , bên thế chấp chỉ có mình vợ kí ( vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có mình vợ đứng tên ) . , nhưng chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ , đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng . ( tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân ) . Vậy khi ngân hàng khởi kiện ra tòa để xử lí tài sản thế chấp trên thì có cần phải có mặt tại tòa không . ( vì tài sản này dùng để bảo đảm cho một hợp đồng tín dụng của người khác , không chung hộ ) .

                                 Rất mong sự trợ giúp của luật sư xin cám on

     

     

    Giấy cam kết của bạn về thực chất là giấy ủy quyền (giấy xác nhận tài sản riêng thì phải do phòng công chứng ký), việc ủy quyền để bảo lãnh cho người thứ ba vay tiền ngân hàng.

    Người có tài sản tự vay tiền và dùng tài sản của mình để tự bảo đảm thì gọi là thế chấp; Người có tài sản bảo đảm cho người khác vay thì là bảo lãnh.

    Khi ngân hàng khởi kiện ra tòa, bạn và vợ bạn đều là người có quyền và nghĩa vụ liên quan; Bị đơn là người vay tiền.

    Bạn có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng tại tòa.

    Trân trọng.

    Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 07/08/2013 07:48:13 SA
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    lamlecao (14/08/2013)
  • #281033   14/08/2013

    lamlecao
    lamlecao

    Chồi

    Trà Vinh, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2013
    Tổng số bài viết (40)
    Số điểm: 1046
    Cảm ơn: 27
    Được cảm ơn 0 lần


      chào luật sư ! trong bài viết tôi hỏi tài sản thế chấp là của riêng vợ hình thành trong hôn nhân  ( vì gấy chứnh nhận quyền sử dụng ruộng đất cũng chỉ có mình vợ đứng tên ) . Theo các văn bản về đất đai thì khi kí hợp đồng hoặc thực hiệc các quyền thì chỉ cần vợ ( người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sự dụng đất ) kí tên trên hợp đồng , như vậy hợp đồng thế chấp đó có bị vô hiệu không ? Hơn nữa theo luật sư giải thích : Khi người vay trực tiếp dùng tài sản của mình để bảo đảm thì gọi là thế chấp ; khi người vay dùng tài sản của người thứ 3 bảo đảm gọi là bảo lãnh . Tuy nhiên tôi băn ở chỗ : Ngân hàng Nông nghiệp việt nam lâu nay họ vẫn dùng mẫu biểu là hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng , chứ hoàn toàn không có mộ từ ngữ nào là bảo lãnh của bên thứ 3 . Hơn nữa theo tôi hiểu bảo lãnh của bên thứ 3  nó khác với thế chấp của bên thứ 3 , bởi vì bảo lãnh của bên thứ 3 sẽ chấm dứt khi khi bên thứ 3 không còn tồn tại ( chết chẳng hạn ) thì nghĩa vụ bảo lãnh cũng chấm dứt luôn . Còn bên thứ 3 dùng tài sản của mình thế chấp để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng của bất cứ ai vay là có trách nhiệm vô hạn , dù anh có chết hay không còn tồn tại . Theo cách nghĩ như vậy của tôi luật sư thấy có lô gích không , phù hợp theo qui định của pháp luật hiện hành hay không xin chỉ bảo dùm cám ơn

     
    Báo quản trị |  
  • #281155   14/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    Chào bạn !

    Theo luật Dân sự 2005.

    Điều 342. Thế chấp tài sản

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

    2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

    3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 715 đến Điều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Điều 361. Bảo lãnh

    Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

    Việc vợ bạn không phải là người vay mà ngân hàng ký HĐ thế chấp là không đúng. HĐ thế chấp có thể bị vô hiệu (tòa án là người có quyền tuyên vô hiệu hợp đồng), nhưng HĐ vay thì vẩn có giá trị.

    Bạn có giấy cam kết đồng ý cho vợ bạn được quyền thế chấp đất, nhưng vợ bạn không có quyền bảo lãnh cho người khác nếu bạn không đồng ý.

    Tôi không biết khái niệm "thế chấp của bên thứ ba" là từ đâu, nên nếu được thì bạn cho tôi biết.

    Trân trọng !

     

    Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 14/08/2013 05:15:29 CH
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    lamlecao (20/08/2013)
  • #281177   14/08/2013

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6833)
    Số điểm: 78023
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3734 lần


    Thế chấp để bên thứ 3 vay tiền vẫn rất ok, theo quy định của BLDS (về thế chấp)  và một thông tư năm 2011 hướng dẫn thì các giao dịch này hợp pháp nếu không vi phạm các điều kiện khác. Điều khoản và Thông tư hiện nay tôi không nhớ và không có thời gian tìm lại. Với những thông tin bạn nêu, Ngân hàng có thể phát mại tài sản. 

    Thân./.

    Đây là một topic tương tự: http://danluat.thuvienphapluat.vn/phap-ly-cua-hop-dong-the-chap-98410.aspx#278973

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #281216   15/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    nguyenkhanhchinh viết:

    Thế chấp để bên thứ 3 vay tiền vẫn rất ok, theo quy định của BLDS (về thế chấp)  và một thông tư năm 2011 hướng dẫn thì các giao dịch này hợp pháp nếu không vi phạm các điều kiện khác. Điều khoản và Thông tư hiện nay tôi không nhớ và không có thời gian tìm lại. Với những thông tin bạn nêu, Ngân hàng có thể phát mại tài sản. 

    Thân./.

    Đây là một topic tương tự: http://danluat.thuvienphapluat.vn/phap-ly-cua-hop-dong-the-chap-98410.aspx#278973

    Chào bạn nguyenkhanhchinh !

    Theo quy định của luật dân sư thì trường hợp mà bạn nói thì là bảo lãnh.

    Đối với chủ đề pháp lý của hợp đồng thế chấp mà bạn nêu thì ông A dùng tài sản của mình để bảo đảm cho chính ông A là chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN không có pháp nhân) nên là thế chấp.

    Còn trong chủ đề này thì dùng nhà đất để bảo đảm cho người khác nên là bảo lãnh.

    Trân trọng.

     
    Báo quản trị |  
  • #281225   15/08/2013

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1048 lần


    Chào chủ topic,

    Việc người chồng có cần có mặt tại tòa hay không là căn cứ theo nhu cầu đánh giá chứng cứ và tìm hiểu bản chất vụ việc của thẩm phán xét xử. Nếu cần thì thẩm phán sẽ có thư mời còn nếu thấy không cần thiết thì thẩm phán có thể chỉ dựa trên các văn bản, tài liệu chứng cứ đã được cung cấp để ra quyết định.

    Dĩ nhiên, người chồng hoàn toàn có thể đến tòa với tư cách người dự khán, nhưng khi đó thì không thể tham gia phát biểu ý kiến.

    Thân.

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
  • #281264   15/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    Unjustice viết:

    Chào chủ topic,

    Việc người chồng có cần có mặt tại tòa hay không là căn cứ theo nhu cầu đánh giá chứng cứ và tìm hiểu bản chất vụ việc của thẩm phán xét xử. Nếu cần thì thẩm phán sẽ có thư mời còn nếu thấy không cần thiết thì thẩm phán có thể chỉ dựa trên các văn bản, tài liệu chứng cứ đã được cung cấp để ra quyết định.

    Dĩ nhiên, người chồng hoàn toàn có thể đến tòa với tư cách người dự khán, nhưng khi đó thì không thể tham gia phát biểu ý kiến.

    Thân.

    Chào bạn !

    Trong thực tế thì khi tòa thụ lý vụ án thì có trách nhiệm phải gởi thông báo về việc thụ lý vụ kiện cho các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan).

    Trong thông báo phải nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, chứng cứ kèm theo và thời hạn người được thông báo phải gởi ý kiến đến tòa. Khi xét xử và tuyên án mà triệu tập thiếu người có quyền và nghĩa vụ liên quan thì bản án sẽ bị hũy.

    Đối với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, mà có tài sản thế chấp là bất động sản, thì phải triệu tập và lấy lời khai của những người đang sử dụng nhà đất (dù là chỉ là người thuê nhà hoặc được cho ở nhờ). Người chồng trong vụ án này nếu không được triệu tập thì bản án sẽ bị hũy vì vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

    Trân trọng.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    Unjustice (15/08/2013)
  • #282152   20/08/2013

    lamlecao
    lamlecao

    Chồi

    Trà Vinh, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2013
    Tổng số bài viết (40)
    Số điểm: 1046
    Cảm ơn: 27
    Được cảm ơn 0 lần


    kính chào luật sư! Tôi rất tâm đắc với những giải thích của luật sư , tuy nhiên rất tiếc là tôi không ở gần luật sư để trực tiếp cho luật sư coi bộ hô sơ vay vốn của ngân hàng nông nghiệp Việt nam . Hơn nữa theo tôi được biết tại nghị định 181 của chính phủ hướng dẫn về thực hiện luật đất đai 2004 thì  khi bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất không gọi là bảo lãnh nữa mà gọi là thế chấp quyền sử dụng đất , vì vậy khi người vợ sẽ đem quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của người khác ( bên thứ 3 ) , tôi tìm hiểu rất nhiều trường hợp tương tự Tòa vẫn không tuyên vô hiệu , kể cả Tòa Tối cao . Vậy luậ sư có thể giải thích rõ hơn nữa giúp tôi được không ? Ý tôi nói thế chấp tài sản của bên thứ 3 là như vậy ! 

     
    Báo quản trị |  
  • #282618   22/08/2013

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6833)
    Số điểm: 78023
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3734 lần


    Bạn ngocloan nói trong trường hợp này là bảo lãnh thì mình bó tay rồi, không còn gì để nói.

    Về nội dung, ngay từ đầu chủ topic đã nêu:

    chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ , đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng 

    Tờ này thì dù có nói gì cũng cứng lưỡi thôi! 

    Về việc có mặt hay không có mặt, tùy hồ sơ thế nào, nguyên tắc thì Tòa phải mời những người liên quan tham gia phiên tòa; trừ khi trường hợp này ông chồng cũng ủy quyền luôn cho vợ tham gia phiên tòa thì tòa cóc cần mời ông chồng đến làm gì, chỉ ghi tên trong hồ sơ cho đẹp mặt thôi. 

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenkhanhchinh vì bài viết hữu ích
    lamlecao (25/08/2013)
  • #282807   23/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


     

    nguyenkhanhchinh viết:

     

    Bạn ngocloan nói trong trường hợp này là bảo lãnh thì mình bó tay rồi, không còn gì để nói.

    Về nội dung, ngay từ đầu chủ topic đã nêu:

    chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ , đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng 

    Tờ này thì dù có nói gì cũng cứng lưỡi thôi! 

    Về việc có mặt hay không có mặt, tùy hồ sơ thế nào, nguyên tắc thì Tòa phải mời những người liên quan tham gia phiên tòa; trừ khi trường hợp này ông chồng cũng ủy quyền luôn cho vợ tham gia phiên tòa thì tòa cóc cần mời ông chồng đến làm gì, chỉ ghi tên trong hồ sơ cho đẹp mặt thôi. 

     

     

    Chào bạn nguyenkhanhchinh !

    1)"Bạn ngocloan nói trong trường hợp này là bảo lãnh thì mình bó tay rồi"

    vì sao mà "bó tay" vậy bạn ? Trong bài viết của mình, bạn lamlecao đã viết rỏ : "tài sản này dùng để bảo đảm cho một hợp đồng tín dụng của người khác , không chung hộ", như vậy dẫn theo điều 361 bộ luật dân sự thì là người vợ đã thực hiện việc bảo lãnh cho của người khác , không chung hộ. Người vợ không vay nên không phải là thế chấp.

    2)chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ , đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng

    Tờ này thì dù có nói gì cũng cứng lưỡi thôi!

    Tôi có suy nghĩ khác với bạn nguyenkhanhchinh.

    Bản cam kết này rất có lợi cho người chồng :

    -Người chồng làm cam kết đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng , chứng tỏ ngân hàng thừa nhận người chồng là người có quyền (đồng sở hửu) với vợ trong căn nhà được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, dù giấy chứng nhận chỉ ghi tên người vợ.

    -Nội dung tờ cam kết (thực chất là ủy quyền) chỉ đồng ý cho vợ toàn quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng.

    -Nội dung hợp đồng tín dụng và hợp đồng "thế chấp" về bản chất là người vợ đã bảo lãnh cho người khác không cùng hộ vay tiền ngân hàng.

    Người vợ đã thực hiện vượt phạm vi ủy quyền (đồng ý) của người chồng. Một phần hợp đồng bảo lãnh, liên quan đến phần sở hửu của người chồng, sẽ không có hiệu lực.

    -Người vợ có toàn quyền sử dụng, không phải toàn quyền định đoạt.

    Như vậy thì vẫn múa lưởi được chứ không phải cứng lưởi đâu .

    Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 23/08/2013 06:50:42 CH Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 23/08/2013 05:39:27 CH
     
    Báo quản trị |  
  • #282907   24/08/2013

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6833)
    Số điểm: 78023
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3734 lần


    Bạn ngocloan hình như đang cố đi theo hướng nào đó rất mơ hồ thì phải.

    Thứ 1: Nói với bạn về bảo lãnh và thế chấp:

    Đây là hai hình thức hoàn toàn khác nhau, thế chấp được quy định tại điểm b khoản 1 điều 318 Bộ luật dân sự, bảo lãnh được quy định tại điểm e khoản 1 điều 318 bộ luật dân sự;

    Thứ 2: Khái niệm về bảo lãnh và thế chấp khác nhau:

    Về thế chấp:

    Ðiều 342. Thế chấp tài sản

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

    2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

    3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 715 đến Ðiều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Rõ ràng thế chấp không nhất thiết chỉ để bảo đảm nghĩa vụ của mình, mà còn có thể bảo đảm nghĩa vụ cho người khác bất kỳ, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý.

    Bảo lãnh:

    Ðiều 361. Bảo lãnh

    Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

    Vấn đề của bảo lãnh là thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ; chứ không phải chịu trách nhiệm trực tiếp như thế chấp.

    Bạn đang có sự nhầm lẫn nghiêm trọng giữa bảo lãnh và thế chấp; sự nhầm lẫn này có thể xuất phát từ việc cả hai hình thức này đều là biện pháp bảo đảm theo quy định của Ngân hàng nhà nước năm 2012:

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm như sau:

    1. Sửa đổi khoản 1 và khoản 9 Điều 3 như sau:

    1. Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp”. 

    Ví dụ; 

    Khi A dùng QSDĐ của mình thế chấp cho ngân hàng để bảo đảm cho B vay tiền ngân hàng C, đến hạn B không thanh toán, ngân hàng có quyền phát mại tài sản của A để thanh toán (vì A đã thế chấp QSDĐ cho ngân hàng), chứ không phải yêu cầu A chuyển nhượng QSDĐ để thực hiện nghĩa vụ của bên B (bảo lãnh).

    Thứ 3: Về trường hợp của bạn này hỏi:

    Dù tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, song bạn này và vợ đã có văn bản xác định đây là tài sản riêng của vợ và vợ có toàn quyền sử dụng, tất nhiên đã là đất đai thì sử dụng chứ làm gì có quyền sở hữu, lại phải trích dẫn lại câu của bạn này, chán ghê:

    bên thế chấp chỉ có mình vợ kí ( vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có mình vợ đứng tên ) . , nhưng chồng có tờ cam kết  ( có chứng thực của ủy ban xã ) tài sản đó là hoàn toàn quyền sử dụng của vợ ,

    Câu này xác định tài sản này là tài sản riêng của vợ, đồng thời phù hợp với pháp luật dân sự và pháp luật về hôn nhân và gia đình.

    Thứ 4: 

    Về mặt thủ tục, giả sử như tòa án vi phạm thủ tục tố tụng, thì cũng để xét xử lại; bản chất cũng chẳng làm khác đi được; bởi vì như đã phân tích ở trên, hợp đồng thế chấp không rơi vào trường hợp vô hiệu.

    Mục đích thực của bạn này hỏi không chỉ là vấn đề vi phạm thủ tục hay không, mà mục đích chính của bạn này là xác định xem hợp đồng thế chấp đó có vô hiệu hay không, qua đó ngăn cản ngân hàng phát mại, giữ được đất của mình.

    Với những thông tin bạn này nêu, vì chưa nghiên cứu được hồ sơ; song nếu xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu để giữ lại đất và ngân hàng cắn răng cam chịu thì xin lỗi nói thẳng rằng, đó chỉ là mơ mộng hão mà thôi. Ngoài ý nghĩa gì về thủ tục tố tụng, nội dung dù nếu có xử lại cũng chẳng làm ăn gì được cả. Chỉ tốn thêm thời gian, công sức và tiền bạc thôi.

    Vài lời một chút :~

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nguyenkhanhchinh vì bài viết hữu ích
    ntdieu (26/08/2013)
  • #282911   24/08/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (755)
    Số điểm: 9944
    Cảm ơn: 683
    Được cảm ơn 775 lần
    Moderator

    @ ngocloan1990,

    bạn nguyenkhanhchinh nói đúng rồi đó loan ạ. Trong Nghị định 181 có quy định rất rõ: đối với quyền sử dụng đất của người thứ 3 mà đem vào ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay thì gọi là "thế chấp" chứ không gọi là "bảo lãnh". Chủ topic cũng đã dẫn chứng luật ra rồi đó. Hiện nay Tòa án một số nơi vin vào tên của hợp đồng và quy định của luật dân sự nói rằng bản chất của hợp đồng như vậy là "bảo lãnh" mà ngân hàng ghi là "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba/bên thứ ba" nên tuyên hợp đồng vô hiệu. Án kiểu này ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, TP.HCM vừa rồi lùm xùm mấy vụ lên báo (bạn có thể tìm trên google). Nếu theo lập luận này của Tòa án thì 100% các ngân hàng thương mại đều vi phạm, hàng triệu hợp đồng thế chấp sẽ bị vô hiệu, hậu quả khó mà biết trước được.

    Hiệp hội ngân hàng đã có Công văn kiến nghị đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có văn bản hướng dẫn cụ thể cho trường hợp này trong đầu năm 2013 nhưng hiện vẫn chưa thấy hồi âm.

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    ntdieu (26/08/2013)
  • #282925   24/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


     

    Khongtheyeuemhon viết:

     

    @ ngocloan1990,

    bạn nguyenkhanhchinh nói đúng rồi đó loan ạ. Trong Nghị định 181 có quy định rất rõ: đối với quyền sử dụng đất của người thứ 3 mà đem vào ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay thì gọi là "thế chấp" chứ không gọi là "bảo lãnh". Chủ topic cũng đã dẫn chứng luật ra rồi đó. Hiện nay Tòa án một số nơi vin vào tên của hợp đồng và quy định của luật dân sự nói rằng bản chất của hợp đồng như vậy là "bảo lãnh" mà ngân hàng ghi là "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba/bên thứ ba" nên tuyên hợp đồng vô hiệu. Án kiểu này ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, TP.HCM vừa rồi lùm xùm mấy vụ lên báo (bạn có thể tìm trên google). Nếu theo lập luận này của Tòa án thì 100% các ngân hàng thương mại đều vi phạm, hàng triệu hợp đồng thế chấp sẽ bị vô hiệu, hậu quả khó mà biết trước được.

    Hiệp hội ngân hàng đã có Công văn kiến nghị đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có văn bản hướng dẫn cụ thể cho trường hợp này trong đầu năm 2013 nhưng hiện vẫn chưa thấy hồi âm.

     

     

    Quan điểm của tôi là ủng hộ các tòa án đã tuyên bản chất của hợp đồng như vậy là "bảo lãnh" mà ngân hàng ghi là "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba/bên thứ ba" nên tuyên hợp đồng vô hiệu.

    Luật dân sự quy định rất rỏ, nghị định quy định trái luật, nên không áp dụng nghị định là đúng

    . thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba/bên thứ ba là khái niệm trùng với khái niệm bảo lãnh rồi, bản chất là bảo lãnh.

    Bạn viết :

    Trong Nghị định 181 có quy định rất rõ: đối với quyền sử dụng đất của người thứ 3 mà đem vào ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay thì gọi là "thế chấp" chứ không gọi là "bảo lãnh"

    Là ghi nhận tại điều mấy vậy bạn, Tôi Tìm đọc mà chưa thấy, mong bạn chỉ giùm !

    Trân trọng.

    Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 25/08/2013 10:49:45 SA
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (26/08/2013) ntdieu (26/08/2013)
  • #282966   25/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    Chào bạn nguyenkhanhchinh!

    bạn viết

    "Mục đích thực của bạn này hỏi không chỉ là vấn đề vi phạm thủ tục hay không, mà mục đích chính của bạn này là xác định xem hợp đồng thế chấp đó có vô hiệu hay không, qua đó ngăn cản ngân hàng phát mại, giữ được đất của mình.

    Với những thông tin bạn này nêu, vì chưa nghiên cứu được hồ sơ; song nếu xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu để giữ lại đất và ngân hàng cắn răng cam chịu thì xin lỗi nói thẳng rằng, đó chỉ là mơ mộng hão mà thôi. Ngoài ý nghĩa gì về thủ tục tố tụng, nội dung dù nếu có xử lại cũng chẳng làm ăn gì được cả. Chỉ tốn thêm thời gian, công sức và tiền bạc thôi."

    Tôi xin trả lời bạn bằng nhận định của bạn khongtheyeuemhon là người trực tiếp làm trong ngân hàng và có kinh nghiệm trong lãnh vực này đã viết ở trên :

    "Hiện nay Tòa án một số nơi vin vào tên của hợp đồng và quy định của luật dân sự nói rằng bản chất của hợp đồng như vậy là "bảo lãnh" mà ngân hàng ghi là "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba/bên thứ ba" nên tuyên hợp đồng vô hiệu. Án kiểu này ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, TP.HCM vừa rồi lùm xùm mấy vụ lên báo (bạn có thể tìm trên google). Nếu theo lập luận này của Tòa án thì 100% các ngân hàng thương mại đều vi phạm, hàng triệu hợp đồng thế chấp sẽ bị vô hiệu, hậu quả khó mà biết trước được."

    Các tòa án đã tuyên như trên là tòa án tại các Thành phố lớn và tôi nghĩ ngày càng sẽ có nhiều tòa án tuyên theo hướng này vì đúng luật.

    Ngân hàng phải hiểu rỏ đây là bảo lãnh không phải thế chấp, nhưng họ "chế" ra khái niệm "thế chấp cho người thứ ba" nhằm mục đích có thể xử lý tài sản thu hồi nợ của người "bảo lãnh", theo thủ tục "thế chấp" đơn giản hơn : không cần chứng minh người vay không có khả năng trả nợ, sau đó mới buộc người "bảo lãnh" trả nợ.

    Sau khi HĐ đảm bảo bị hủy (vô hiệu) thì ngân hàng căn cứ vào đâu để buộc người bảo lãnh phải thanh toán tiền vay của người được bảo lãnh ?

    Trường hợp chứng minh được về mặt ý chí người bảo lãnh có cam kết trả nợ thay người vay thì ngân hàng cũng mất quyền ưu tiên thanh lý tài sản đã thế chấp.

    Ví dụ : Vay ngân hàng 200 triệu, tài sản thế chấp (bảo lãnh) là 200 triêu.

    HĐ thế chấp bị vô hiệu thì số tiền bán tài sản thế chấp phải thanh toán cho tất cả các chủ nợ (dù chỉ là vay bằng giấy tay) theo tỉ lệ trên tổng số nợ (của người bảo lãnh).

     

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    ntdieu (26/08/2013)
  • #282980   25/08/2013

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6833)
    Số điểm: 78023
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3734 lần


    Haizza, xem ra bạn cũng mất ăn mất ngủ vì cái topic này đấy nhỉ!

    Đọc bài trên của bạn, tui đã định không phản hồi gì rồi. Nhưng đời nó thế, đôi khi cũng lân la thêm chút, gọi là được cộng thêm một bài viết dù là hơi ngớ ngẩn.

    Theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất có các quyền trong đó có quyền "bảo lãnh" và quyền "thế chấp". Hình như là Luật đất đai 2003 thì phải.

    Theo quy định của Bộ luật dân sự, cũng quy định cả quyền bảo lãnh và quyền thế chấp; bảo lãnh nhằm đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ 3; "thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho mình, thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ 3....

    Bạn hiểu thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ 3 bản chất là bảo lãnh! Tui đã nói ở bài trên rồi, bạn nhầm cơ bản giữa "bảo lãnh" và "bảo đảm". Tui cũng đã có ví dụ thì phải, mà sao bạn không chịu đọc cái điều luật tôi trích nhỉ? Hay phải bôi đỏ đen vàng bạn mới thấy?

    Ðiều 361. Bảo lãnh

    Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh),

    Nếu tài sản bảo lãnh mà đất đai, lấy đất đai thực hiện nghĩa vụ thay cho người thứ 3 á? Ngân hàng họ lấy đất á? Nếu là bảo lãnh, không lẽ đợi người bảo lãnh bán đất để trả tiền cho ngân hàng á?

    Còn thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ 3, đó mới đảm bảo tối đa nghĩa vụ của bên bảo đảm (bên thế chấp); theo đó, ngân hàng có quyền "bán" Quyền sử dụng đất của người thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của bên được bảo đảm. Trong bảo lãnh, ngân hàng dám bán đất của người bảo lãnh không? Còn lâu mới dám bán! (gọi là phát mại đó, dùng từ bán nghe dân dã quá lại bị bắt nạt).

    Bản chất một số tòa tuyên như vậy, bạn cần xem lại cái hồ sơ và hợp đồng; và nguyên nhân trong đó, đừng lấy một số trường hợp để áp cho cả nắm vấn đề như vậy sẽ không được chuẩn xác. Tui ấn tượng với kinh nghiệm và chuyên môn của khongtheyeuemhon, nhưng nếu bạn lấy lời "chung chung" ấy áp vào trường hợp cụ thể càng dễ mắc sai lầm, về tư tưởng.

    Thui, trao đổi để cãi nhau tí cho vui, sai đúng gì trong quan điểm chứ; tòa án còn có quan điểm trái chiều nữa là dân thường như tui. Làm topic này khá sôi động đấy chứ!

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn nguyenkhanhchinh vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (26/08/2013) ntdieu (26/08/2013) Maiphuong5 (27/08/2013)
  • #282995   25/08/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    chào bạn nguyenkhanhchinh !

    Tôi bôi vàng, bôi đỏ là nhằm giúp các thành viên khác tìm được nhanh nhất ý tôi muốn nói. Tránh tình trạng  : viện dẫn hàng lố điều luật mà kết luận thì lại không liên quan gì đến các điều luật đã viện dẫn.

    Trong Topic này, Tôi đọc ít nhất 3 người nói về việc "thế chấp cho người thứ ba/bên thứ ba" nhưng tôi không tìm thấy quy định này, nên đề nghị nêu rỏ điều khoản của văn bản để tôi tham khảo thì đều không được trả lời !

    Tôi mong là bạn chịu khó tô vàng, tô đỏ điều khoản chứng minh điều bạn nói vì không phải ai củng giỏi như các bạn !

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn ngocloan1990 vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (26/08/2013) ntdieu (26/08/2013)
  • #283044   25/08/2013

    lamlecao
    lamlecao

    Chồi

    Trà Vinh, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2013
    Tổng số bài viết (40)
    Số điểm: 1046
    Cảm ơn: 27
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào luật sư ! Tôi đọc 2 bài  giải thích của hai luật sư mà không biết nghe theo ai được đây . Tại bài viết mà luật sư phản biện lại luật sư Nguyenkhanhchinh thì luật sư loan giải thích tương đối rõ ràng và lô rích , Tuy nhiên tôi vẫn băn khoăn mà luật sư chưa trả lời dùm đó là : - Ngân hàng nông nghiệp việt nam khi dùng tài sản của người khác để thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ của người này ,  mà tại sao lại không dùng từ là dùng tài sản của mình  ( bên A ) thế chấp để bảo lãnh cho nghĩa vụ của người khác ( bên vay hoặc bên B ) . Tại sao luật sư nói là người vợ lạm quyền , bởi đã cam kết tài sản đó là tài sản của riêng vợ hình thành trong hôn nhân  ( khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cũng phải có cam kết với cơ quan thẩm quyền thì người ta mới làm giấy ) , hơn nữa anh ta đã đồng ý cho vợ được tòan quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác , chính vì lẽ này người vợ và ngân hàng sẽ kí kết một hợp đồng thế chấp QSD đất với phạm vi bảo đảm theo tỉ lệ của giá trị đất mà không cần ý kiến của người chồng . Nói một cách rõ hơn là nội dung hợp đồng thế chấp bao gồm các hệ thống điều khoản thỏa thuận , ví dụ có một điều khỏan thỏa thuận về xử lí tài sản thế chấp khi người vay không trả nợ đúng hạn trong đón có phương thức giao cho ngân hàng trực tiếp bán tài sản . Vậy thì khi anh đồng ý cho vợ kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng thì mặc nhiên anh phải chấp nhận những nội dung trong hợp đồng thế chấp đó .

     rất mong sự giúp đỡ của luật sư 

     
    Báo quản trị |  
  • #283111   26/08/2013

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1048 lần


    Chào các bác,

    Đã định thôi nhưng ngứa nghề  nên cũng xin các bác cho em nhảy vào tranh luận một tý.

    Trước hết vứt hết các luật lệ, quy định hiện hành sang một bên. Đi vào thực tiễn thì ta thấy rằng trong giao dịch dân sự trong hợp đồng song vụ, để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thì một bên có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp tài sản hoặc một biện pháp bảo đảm khác có sự tham gia của bên thứ ba là bảo lãnh. 

    Theo nghĩa được sử dụng phổ biến nhất trong dân chúng thì bảo lãnh là việc một bên có uy tín, đã được bên yêu cầu bảo đảm chấp nhận, đứng ra bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ. Bên bảo lãnh không cần phải đưa tài sản của mình cho bên có yêu cầu bảo đảm. Thế nhưng việc kiếm một bên thứ ba thật sự có uy tín như thế không phải là dễ. Vì thế phát sinh nhu cầu bên thứ ba này phải có cái gì đó làm tin. Cái làm tin đó chẳng có gì hơn là tài sản. Đấy là nhu cầu của xã hội.

    Quay trở lại hệ thống văn bản pháp luật hiện hành. Khái niệm về bảo lãnh trong luật dân sự hoàn toàn thống nhất với nội dung của bảo lãnh được sử dụng phổ biến trong dân chúng. Nó không đòi hỏi bên bảo lãnh phải đưa tài sản trước cho bên nhận bảo lãnh (Điều 369 BLDS ngầm quy định về nội dung này). Nếu theo quy định này thì hiện nay chỉ có bảo lãnh từ tổ chức ngân hàng là phù hợp nhất (Mặc dù hiện nay một số ngân hàng vẫn chạy làng với lý do thư bảo lãnh được ký không đúng thẩm quyền). Vậy thì số còn lại phải giải quyết thế nào? 

    Lợi dụng nội dung thế chấp tại BLDS không nêu rõ là bên thế chấp chỉ bảo đảm nghĩa vụ dân sự của chính mình (Khoản 1 Điều 342 BLDS). Chính phủ đã hướng các giao dịch bảo đảm của bên thứ ba không thỏa mãn quy định về bảo lãnh tại BLDS về hướng thế chấp,  thông qua Nghị định 163/2006/NĐ_CP hướng dẫn phần xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm của BLDS (đã được SĐBS), bằng đưa ra một khái niệm mới đó là Bên bảo đảm.

    "Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp".

    Với khái niệm mới này thì Bên bảo đảm lại có thể thế chấp tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho một bên khác. 

    Vì vậy có thể nói các ngân hàng không sai khi chấp nhận bên thứ ba thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho bên đi vay.

    Bàn về phán quyết của các tòa án, thật sự mình không có các tài liệu liên quan nên không dám bàn sâu. Tuy nhiên đã có trường hợp bản án của tòa sơ thẩm tuyên hợp đồng thế chấp của bên thứ ba vô hiệu bị Tòa án tối cao tuyên hủy. Xem http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/DJGJEF/nguy-co-hang-van-hop-dong-the-chap-cua-ngan-hang-vo-hieu.html.  Vì thế nói tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp của bên thứ ba là quan điểm đúng của tòa cũng chưa hẳn chính xác. 

    Góp vài thông tin để mọi người có cái nhìn toàn diện hơn.

     

     

     

    Cập nhật bởi Unjustice ngày 26/08/2013 10:46:30 SA

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
    4 thành viên cảm ơn Unjustice vì bài viết hữu ích
    Khongtheyeuemhon (26/08/2013) ntdieu (26/08/2013) Maiphuong5 (27/08/2013) nguyenkhanhchinh (27/08/2013)
  • #283150   26/08/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (755)
    Số điểm: 9944
    Cảm ơn: 683
    Được cảm ơn 775 lần
    Moderator

    Chào cả nhà, 

    Nghỉ mất sức mấy hôm thấy topic này nhờ có ngocloan1990 mà sôi nổi quá. Chân thành mà nói nếu ngocloan mà ở tuổi 1990 thực thì mình rất ngưỡng mộ bạn đó, với những hiểu biết và lập luận của bạn. Còn nếu bạn không ở độ tuổi như nick thì vui lòng cho mình biết năm sinh với, hân hạnh được làm quen. Mình 1982!

    Mình lười đọc luật lắm, nhưng vì phải tìm cơ sở pháp lý cho bạn nên mình cũng phải ráng... đọc. Muốn nổ cả mắt. Xin lỗi bạn loan và cả chủ topic về dẫn chứng cơ sở pháp lý tại Nghị định 181 của mình là không đúng. Nay xin đính chính lại cơ sở pháp lý:

     - Khoản 1, Điều 31 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 có quy định: "Bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai được hiểu là thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn theo quy định của Bộ Luật Dân sự (sau đây gọi chung là thế chấp bằng quyền sử dụng đất". 

    - Khoản 4, Điều 72 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 có quy định: "Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định tại Khoản 5 Điều 32, Khoản 4 Điều 33, Khoản 4 Điều 34, Khoản 4 Điều 35 và Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản hướng dẫn thi hành được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của người thứ ba" . 

    Từ những quy định trên ta có thể kết luận, hiện theo quy định của Luật Đất đai không còn tồn tại khái niệm "bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của người thứ ba" mà chỉ có "thế chấp bằng quyền sử dụng đất của người thứ ba". Vậy nếu bây giờ tuyên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba là vô hiệu do dùng không đúng từ ngữ thì sẽ dùng loại Hợp đồng gì để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng? 

    Mình có trong tay bản án Phúc thẩm ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân tối cao tại TP Đà Nẵng sửa Bản án Sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữa Ngân hàng Ngoại thương VN và Công ty Như Dũng cùng 1 số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nội dung là: Tòa tỉnh Quảng Ngãi tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba do xác định đây phải là hợp đồng bảo lãnh. Tòa Phúc thẩm sửa lại là vẫn công nhận tính pháp lý của Hợp đồng thế chấp này, nếu bên vay không trả nợ thì tài sản sẽ bị đem ra phát mãi để ngân hàng thu hồi nợ.  Bản án Phúc thẩm cũng chỉ sửa Bản án sơ thẩm chứ không đề cập đến quan điểm là "thế chấp" hay là "bảo lãnh".Tuy nhiên, quan điểm tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp của ngân hàng vì bản chất nó là bảo lãnh đã bị bác bỏ bởi Tòa tối cao thông qua việc sửa bản án Sơ thẩm của Tòa tỉnh Quảng Ngãi. Vì là file pdf và dài 12 trang nên mình không đăng ở đây, thành viên nào cần tham khảo thì xin để lại mail trong topic này mình sẽ gửi mai cho người đó. 

    Chốt lại vấn đề "thế chấp" và "bảo lãnh" là: Đây là vấn đề quan điểm, đứng dưới góc độ Luật Dân sự thì nó giống như ngocloan1990, đứng dưới góc độ Luật Đất Đai, Luật các tổ chức tín dụng thì nó như nguyenkhanhchinh, Khongtheyeuemhon, Unjustice (số đông hơn ka ka). Vấn đề này chưa có kết luận cuối cùng và ngay bản thân ngành tư pháp cũng còn đang "nghiên cú" vì vậy chúng ta đừng cãi nhau nữa. Do luật của ta nó thế mà thôi. 

    Trân...ái.

    (Trân trọng + Thân ái).  

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    Maiphuong5 (26/08/2013)
  • #283151   26/08/2013

    Khongtheyeuemhon
    Khongtheyeuemhon
    Top 75
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2010
    Tổng số bài viết (755)
    Số điểm: 9944
    Cảm ơn: 683
    Được cảm ơn 775 lần
    Moderator

    lamlecao viết:

    Chào luật sư ! Tôi đọc 2 bài  giải thích của hai luật sư mà không biết nghe theo ai được đây . Tại bài viết mà luật sư phản biện lại luật sư Nguyenkhanhchinh thì luật sư loan giải thích tương đối rõ ràng và lô rích , Tuy nhiên tôi vẫn băn khoăn mà luật sư chưa trả lời dùm đó là : - Ngân hàng nông nghiệp việt nam khi dùng tài sản của người khác để thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ của người này ,  mà tại sao lại không dùng từ là dùng tài sản của mình  ( bên A ) thế chấp để bảo lãnh cho nghĩa vụ của người khác ( bên vay hoặc bên B ) . Tại sao luật sư nói là người vợ lạm quyền , bởi đã cam kết tài sản đó là tài sản của riêng vợ hình thành trong hôn nhân  ( khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cũng phải có cam kết với cơ quan thẩm quyền thì người ta mới làm giấy ) , hơn nữa anh ta đã đồng ý cho vợ được tòan quyền kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác , chính vì lẽ này người vợ và ngân hàng sẽ kí kết một hợp đồng thế chấp QSD đất với phạm vi bảo đảm theo tỉ lệ của giá trị đất mà không cần ý kiến của người chồng . Nói một cách rõ hơn là nội dung hợp đồng thế chấp bao gồm các hệ thống điều khoản thỏa thuận , ví dụ có một điều khỏan thỏa thuận về xử lí tài sản thế chấp khi người vay không trả nợ đúng hạn trong đón có phương thức giao cho ngân hàng trực tiếp bán tài sản . Vậy thì khi anh đồng ý cho vợ kí kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng thì mặc nhiên anh phải chấp nhận những nội dung trong hợp đồng thế chấp đó .

     rất mong sự giúp đỡ của luật sư 

     

    Chào bạn, tôi là luật sư và hiện cũng đang làm ở trong ngành ngân hàng nên trong phạm vi kiến thức và kinh nghiệm của mình tôi xin trao đổi như sau: 

    1. Về thỏa thuận phân chia tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật quy định như sau: 

    Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

    “1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

    2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.”

    Như vậy, nếu muốn chia khối tài sản chung của 02 vợ chồng thì  hai vợ chồng phải tiến hành thỏa thuận bằng văn bản. Theo quy định tại điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 30/11/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì văn bản này phải ghi rõ các nội dung sau:

    - Lý do phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân;

    - Phần tài sản được phân chia;

    - Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;

    - Các nội dung khác (nếu có).

    Văn bản thỏa thuận phải ghi rõ ngày tháng năm lập văn bản và phải có chữ ký của vợ chồng. Do đây là bất động sản nên văn bản thoả thuận về việc phân chia khối tài sản này phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp hai hai vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung thì bạn có thể làm đơn yêu cầu phân chia tài sản chung gửi đến tòa án cấp huyện nơi vợ chồng đang cư trú để Toà án giải quyết việc phân chia này theo đúng quy định pháp luật.

    “Điều 7 - Nghị định 70. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung

    1. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.

    2. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

    3. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

    4. Trong trường hợp Toà án cho chia tài sản chung theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Nghị định này, thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày quyết định cho chia tài sản chung của Toà án có hiệu lực pháp luật.

    Điều 8. Hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

    1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.

    Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

    2. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.”

    Như vậy, nếu thỏa thuận của bạn và vợ tuân thủ những quy định trên của pháp luật thì mới có tính pháp lý và được công nhận. Ngược lại, nếu không được công nhận thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của 2 vợ chồng và quyền định đoạt phải do cả 2 vợ chồng dù 1 người hay cả hai người đứng tên trên giấy đỏ. Trường hợp thỏa thuận vô hiệu, bạn có quyền yêu cầu tòa án tuyên thỏa thuận vô hiệu căn cứ theo những viện dẫn pháp luật trên. Nếu thỏa thuận vô hiệu sẽ kéo theo Hợp đồng thế chấp vô hiệu.

    2. Về việc quyền được tham gia phiên Hòa giải, phiên Tòa của bạn trong vụ án kiện đòi nợ của Ngân hàng:  

    Tình hình là Vợ bạn đem tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho 1 người khác để vay vốn Ngân hàng. Nay người đó không trả nợ và Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án, đưa vợ bạn vào bên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bạn không ký hợp đồng thế chấp, tuy nhiên nếu bạn là người đang ở trên/trong tài sản thế chấp bạn vẫn có thể là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (đây là 1 điểm mới rất phiền toái đối với Ngân hàng trong các vụ kiện tụng thu hồi nợ). Tòa án khi thụ lý xét xử sẽ phải mời bạn lên để lấy lời khai (do bạn đang ở/nắm giữ/quản lý tài sản đó mà). Nếu Tòa án không mời bạn, bạn có thể gửi văn bản khiếu nại hoặc đề nghị được tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Khi được tham gia, bạn có thể trình bày nguyện vọng, quan điểm của mình thông qua bản tự khai.

    Thân, 

     

    Có những lúc anh mơ được gặp lại em lúc ban đầu...

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn Khongtheyeuemhon vì bài viết hữu ích
    Maiphuong5 (26/08/2013) lamlecao (03/09/2013)