DanLuat 2015

Khi nào Tòa không được phép công bố bản án?

Chủ đề   RSS   
  • #507298 12/11/2018

    lamkylaw
    Top 500
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:31/10/2018
    Tổng số bài viết (129)
    Số điểm: 2865
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 87 lần


    Khi nào Tòa không được phép công bố bản án?

    Khi nào Tòa không được phép công bố bản án?

    Sáng nay 12/11, TAND tỉnh Phú Thọ xét xủ 92 bị cáo trong đường dây đánh bạc trực tuyến khi Chủ tọa phiên toà cho biết bản án có thể được công bố lên Cổng thông tin điện tử của Tòa án Nhân dân tối cao nếu tất cả các bị cáo đồng ý. Ông Phan Văn Vĩnh đề nghị không công bố và được chủ tọa đồng ý.

    Liên quan đến vấn đề này, dưới đây mình đã nêu những nội dung liên quan đến việc công bố bản án về quyền và nghĩa vụ của Tòa cũng như những người tham gia tố tụng:

    NQ số 03/2017/NQ-HĐTP về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của tòa án quy định:

     * Bản án, quyết định KHÔNG công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án

    1. Bản án, quyết định về vụ việc được Tòa án xét xử kín.

    2. Bản án, quyết định về vụ việc được Tòa án xét xử, giải quyết công khai nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của Chính phủ hoặc chứa đựng những nội dung mà Nhà nước chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước CHXHCNVN:

    Để xác định bản án, quyết định có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật Nhà nước không được công thì phải căn cứ vào Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước năm 2002; Nghị định 33/2002/NĐ-CP; Thông tư 33/2015/TT-BCA; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương; các Quyết định, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước độ Mật của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và các quy định khác của pháp luật về bí mật nhà nước; trong đó, theo quy định tại Quyết định 01/2004/QĐ-TTg về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của Tòa án nhân dân thì không công bố những bản án, quyết định liên quan đến việc xét xử các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

    b) Có chứa đựng thông tin về hoạt động đầu tư tài chính, bí quyết nghề nghiệp, công nghệ chưa được bộc lộ, có thể được sử dụng và tạo lợi thế trong kinh doanh mà trong quá trình Tòa án xét xử, giải quyết vụ việc, người tham gia tố tụng đã có yêu cầu được giữ bí mật;

    c) Có chứa đựng nội dung ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư;

    d) Có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi;

    đ) Có chứa đựng nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa được mã hóa theo hướng dẫn tại Điều 7 của Nghị quyết này.

    3. Bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật.

     

     * Bản án, quyết định ĐƯỢC công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án

    1. Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; bản án phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

    2. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm giải quyết việc dân sự.

    3. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; quyết định giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

    4. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

     

    * Về phổ biến quyền của người tham gia tố tụng

    - Việc phổ biến và giải quyết quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP và hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP:

    “Trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa, phiên họp trong việc công bố bản án, quyết định:
    Khi phổ biến quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình xét xử, giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Chủ tọa phiên tòa, phiên họp phải giải thích cho những người tham gia tố tụng biết về những bản án, quyết định được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ về việc yêu cầu Tòa án không công bố những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh.”

    Khi phổ biến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, Chủ tọa phiên tòa phải thông báo cho họ biết bản án, quyết định giải quyết vụ việc mà họ là người tham gia tố tụng thuộc diện được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ được yêu cầu giữ bí mật một số thông tin theo quy định của pháp luật.

    - Yêu cầu về giữ bí mật của người tham gia tố tụng có thể được thực hiện trước khi mở phiên tòa, phiên họp hoặc tại phiên tòa, phiên họp;

    - Yêu cầu về giữ bí mật của người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải được làm bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do để Tòa án xem xét.

    - Trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, phiên họp và Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật mà người vắng mặt không có văn bản yêu cầu Tòa án giữ bí mật thông tin thì được xác định là họ không yêu cầu giữ bí mật thông tin.

    - Việc phổ biến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; yêu cầu của người tham gia tố tụng về công bố hoặc không công bố bản án, quyết định phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.

    Căn cứ:

    NQ số 03/2017/NQ-HĐTP

    Công văn 144/TANDTC-PC về việc  thi hành NQ số 03/2017/NQ-HĐTP

    Nhưng mình vẫn chưa hiểu rõ việc Ông Phan Văn Vĩnh đề nghị không công bố và được chủ tọa đồng ý đồng thời chủ toạ trả lời: "Chỉ cần một bị cáo từ chối thì sẽ không công bố" là đúng hay sai? Trong khi nội dung nghị quyết lẫn công văn hướng dẫn chỉ quy định về quyền của người tham gia tố tụng được yêu cầu giữ bí mật một số thông tin theo quy định của pháp luật chứ không đề cập việc "KHÔNG CÔNG BỐ BẢN ÁN LÊN CỔNG THÔNG TIN" thì sẽ đưọc chấp nhận. Nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định nói trên, bị cáo nói riêng và đương sự nói chung không có quyền từ chối công bố bản án trên cổng thông tin điện tử của tòa án

    Dân Luật giúp em vụ này với???

     
    2521 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn lamkylaw vì bài viết hữu ích
    admin (13/11/2018)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #507306   12/11/2018

    thuytrangak
    thuytrangak
    Top 75
    Female
    Lớp 4

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/08/2017
    Tổng số bài viết (722)
    Số điểm: 5590
    Cảm ơn: 84
    Được cảm ơn 104 lần


    Theo mình, vị chủ tọa phiên tòa đã có sự vội vàng khi két luận: "chỉ cần một bị cáo từ chối thì sẽ không công bố". Nhưng vấn đề ở đây là bị cáo này đã đưa ra lý do gì để yêu cầu không công bố bản án, và lý do đó có phù hợp với Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP về các trường hợp không công bố bản án hay không?. Hơn nữa, trong một vụ án rất ít người muốn công bố bản án, đặc biệt là bị cáo, người thua kiện, vậy nếu chỉ dựa vào ý kiến của một trong các bên thì Nghị quyết 03 còn ý nghĩa gì nữa

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn thuytrangak vì bài viết hữu ích
    admin (13/11/2018)