Khấu trừ thuế đối với hợp đồng cộng tác viên?

Chủ đề   RSS   
  • #516231 31/03/2019

    thuychichu
    Top 50
    Female
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2017
    Tổng số bài viết (1098)
    Số điểm: 10488
    Cảm ơn: 63
    Được cảm ơn 253 lần


    Khấu trừ thuế đối với hợp đồng cộng tác viên?

    Đối với hợp đồng cộng tác viên, trên hợp đồng không có điều khoản về thời gian, vậy khi khấu trừ thuế Ngân hàng khấu trừ theo mức 10% hay theo biểu lũy tiến? - Khấu trừ theo từng lần chi trả hay khấu trừ trên tổng thu nhập phát sinh trong 01 tháng? - Khi khấu trừ Ngân hàng có phải cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN không nếu Cộng tác viên không yêu cầu?

     
    5125 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #516368   31/03/2019

    MewBumm
    MewBumm
    Top 50
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/09/2017
    Tổng số bài viết (1057)
    Số điểm: 6799
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 135 lần


    Ở đây, theo quan điểm của mình qua quá trình làm việc thực tế thì tên gọi Hợp đồng Cộng tác viên chỉ dừng ở tên gọi chứ không thể hiện loại hợp đồng gì. Theo quy định của các văn bản luật hiện hành thì không có văn bản nào điều chỉnh hợp đồng cộng tác viên. Do đó, trước tiên cần phải xem xét nội dung hợp đồng để xác định loại hợp đồng gì? Là hợp đồng lao động hoặc là hợp đồng dịch vụ.

    Việc tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần chỉ xác định khi ký HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định từ 3 tháng trở lên.

    Đối với việc khấu trừ 10% từng lần phát sinh hay theo tổng tháng, căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC thì sẽ theo lần phát sinh, nhưng như vậy sẽ có nhiều kẻ hở cho bên trả thu nhập lợi dụng. Cục thuế TP.HCM có công văn hướng dẫn là xác định tổng thu nhập theo tháng. Do đó, để chắc chắn thì bạn liên hệ cơ quan thuế quản lý để áp dụng thống nhất.

     
    Báo quản trị |  
  • #524570   31/07/2019

    vyvy2409
    vyvy2409
    Top 50
    Female
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/09/2017
    Tổng số bài viết (924)
    Số điểm: 8612
    Cảm ơn: 47
    Được cảm ơn 172 lần


    Đối với trường hợp không có hợp đồng lao động mà mỗi lần chi trả thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên thì đơn vị chi trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN là 10% thu nhập. Nếu cá nhân có duy nhất thu nhập bên công ty thuộc đối tượng chịu thuế mà ước tính thu nhập trong năm sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức chịu thuế thì làm cam kết theo mẫu gửi cho công ty để công ty không khấu trừ thuế. Việc khấu trừ tính theo thu nhập từng lần chi trả theo thỏa thuận của các bên chứ không tính tổng thu nhập phát sinh trong tháng căn cứ điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
    Nếu cá nhân không có yêu cầu cấp chứng từ khấu trừ thuế thì công ty không phải cấp chứng từ khấu trừ thuế căn cứ khoản 2 điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
     
     
    Báo quản trị |  
  • #526274   25/08/2019

    Hiện nay pháp luật không có quy định về loại hợp đồng cộng tác viên. Tùy thuộc vào nội dung của hợp đồng mà sẽ xác định bản chất của hợp đồng này là hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ.

    Thông thường, hợp đồng cộng tác viên thường sẽ được xác định có bản chất là hợp đồng dịch vụ (một loại hợp đồng dân sự). Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

    Khi là hợp đồng dịch vụ thì sẽ không tính thuế thu nhập cá nhân theo Biểu thuế lũy tiến từng phần mà tổ chức trả thu nhập (trong trường hợp của bạn là ngân hàng) sẽ thực hiện khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân có thu nhập vì trường hợp này được xem là làm việc không ký hợp đồng lao động.

    Theo quy định hiện hành, khi tổ chức trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

    Trong trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế  sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế và cá nhân đó có làm cam kết (theo mẫu 02/CK-TNCN) gửi tổ chức trả thu nhập thì tổ chức trả thu nhập sẽ tạm thời chưa khấu trừ thuế của cá nhân.
     
    Về việc khấu trừ trên từng lần trả hay khấu trừ trên tổng thu nhập của 01 tháng: Theo quy định hiện nay thì mặc định sẽ khấu trừ trên từng lần trả thu nhập. Tuy nhiên, nếu từng lần trả dưới 2.000.000 đồng nhưng cộng lại tất cả các lần đã trả trong tháng mà từ 2.000.000 đồng trở lên thì vẫn sẽ phải khấu trừ. 
     
    Về việc cấp chứng từ khấu trừ thuế, nếu cá nhân có thu nhập không có yêu cầu thì tổ chức trả thu nhập sẽ không bắt buộc phải cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân đó.

     

     
    Báo quản trị |