Khác nhau khi GCN QSDĐ Cấp cho hộ gia đình , và cấp cho cá nhân khi có tranh chấp

Chủ đề   RSS   
  • #250071 22/03/2013

    chauvalentine

    Male
    Sơ sinh

    Quảng Nam, Việt Nam
    Tham gia:18/03/2013
    Tổng số bài viết (9)
    Số điểm: 165
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 0 lần


    Khác nhau khi GCN QSDĐ Cấp cho hộ gia đình , và cấp cho cá nhân khi có tranh chấp

    Thưa anh chị  Luật sư . 

    Việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ gia đình và cá nhân .có khác nhau như thế nào. ?

    Cấp cho hộ gia đình, thì có phải các thành viên trong một gia đình cùng đứng tên ,hay chỉ là người đại diện đứng tên .Các quyền lợi và nghĩa vụ của những đồng sở hửu trong gia đình .Quyền lợi đó , tính từ khi được cấp chứng nhận QSDĐ .Hay là tính theo nhân khẩu trong gia đình . nếu gia đình có thay đổi ,như có ,thêm vợ hoặc chồng .con nuôi thì giải quyết như thế nào khi có tranh chấp , và bao nhiêu tuổi nhỏ nhất có thể tham gia .

    Mong anh chị Luật sư chỉ dẫn giúp ,xin cảm ơn .

     
    12511 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #250461   24/03/2013

    KhacDuy25
    KhacDuy25
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:14/11/2010
    Tổng số bài viết (4608)
    Số điểm: 88510
    Cảm ơn: 1530
    Được cảm ơn 1970 lần


    Thân chào bạn!

    Việc cấp GCN QSDĐ cho hộ gia đình, cho cá nhân hiện nay còn có nhiều vấn đề tranh cãi, tuy nhiên theo cách hiểu chung nhất hiện nay như sau:

    Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005:

     

    Điều 106. Hộ gia đình

    Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.

     

    Điều 108. Tài sản chung của hộ gia đình

    Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của h.

    - Căn cứ quy định trên thì việc cấp quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cho hộ gia đình được hiểu là cấp cho những thành viên trong hộ mà họ có tài sản chung, cùng đóng góp công sức. . .hoặc chủ hộ, người được cấp QSDĐ tự nguyện nhập khối tài sản chung (quyền sử dụng đất) của mình cho các thành viên trong gia đình, thì trường hợp này QSDĐ là tài sản chung của hộ gia đình và được cấp GCN QSDĐ mang tên hộ gia đình (hộ ông/bà) người đại diện đứng tên trong Giấy này là chủ hộ.

    - Nếu QSDĐ này là tài sản chung của vợ chồng, thì GCN QSDĐ được thể hiện rõ họ tên, năm sinh, chứng minh nhân dân và địa chỉ thường trú của cả hai vợ chồng.

    Tuy nhiên QSDĐ có trong thời kỳ hôn nhân có một số trường hơp chỉ một mình vợ hoặc chồng đứng tên, trong trường hợp không có tranh chấp thì về nguyên tắc đây là tài sản chung của gia đình theo quy định tại điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại mục 3 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP. Nếu có tranh chấp thì người đứng tên trong GCN QSDĐ có nghĩa vụ chứng minh tài sản này là của mình, nếu không chứng minh được thì đây là tài sản chung của hai vợ chồng.

    - Quyền sử dụng đất được cấp cho cá nhân thì trong GCN QSDĐ thể hiện là cấp cho ông hoặc bà. Về tính pháp lý thì cá nhân được thể hiện trong GCN QSDĐ là chủ sử dụng (trừ trường hợp QSDĐ trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng thì xảy ra 2 trường hợp như đã phân tích trên).

    Như vậy, không phải mọi trường hợp cấp cho hộ gia đình thì mọi thành viên trong hộ gia đình đều có quyền trong QSDĐ đất này, mà chỉ có những thành viên có tài sản chung, cùng có công sức đóng góp. . .cùng tạo nên khối tài sản này thì mới có quyền trong QSDĐ đó. Trường hợp có thêm nhân khẩu mà không thể hiện tiêu chí như đã phân tích, thì những nhân khẩu này không có QSDĐ của hộ gia đình.

    Bạn không nên nhằm lẫn giữa việc cấp QSDĐ cho hộ gia đình, là căn cứ vào sổ hộ khẩu. Sổ hộ khẩu là thể hiện các nhân khẩu có trong gia đình nhưng không phải trong mọi trường hợp những người có trong hộ khẩu đều có QSDĐ nếu cấp cho hộ gia đình. Mà phải căn cứ vào các quy định như đã phân tích trên.

    Về định đoạt tài sản chung theo quy định của BLDS thì:

     

    Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

    1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

    2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

    Trường hợp này ta phải hiểu rằng, những người đủ 15 tuổi trở lên cũng có tài sản chung, có công  sức đóng góp chung trong việc hình thành QSDĐ này, thì mới có quyền định đoạt QSDĐ này. Chứ không phải mọi trường hợp người đủ 15 tuổi trong hộ gia đình đều có quyền định đoạt.

    Bạn có thể tham khảo thêm.

    Trân trọng!

    "Sông có thể cạn, núi có thể mòn_Song chân lý không bao giờ thay đổi"

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn KhacDuy25 vì bài viết hữu ích
    nguyenkhanhchinh (24/03/2013) chauvalentine (25/03/2013)
  • #250608   25/03/2013

    chauvalentine
    chauvalentine

    Male
    Sơ sinh

    Quảng Nam, Việt Nam
    Tham gia:18/03/2013
    Tổng số bài viết (9)
    Số điểm: 165
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 0 lần


    Xin chân thành cảm ơn Luật sư .

     
    Báo quản trị |