Hướng dẫn xác nhận tình trạng độc thân khi từng thường trú nhiều nơi?

Chủ đề   RSS   
  • #560750 21/10/2020

    Phucvi0879

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:21/10/2020
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Hướng dẫn xác nhận tình trạng độc thân khi từng thường trú nhiều nơi?

    xác nhận tình trạng độc thân

    Ảnh minh họa: Xác nhận tình trạng độc thân 

    Nếu người đăng ký xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng thường trú nhiều nơi thì có thể làm văn bản cam đoan tình trạng hôn nhân trong giai đoạn thường trú tại những nơi cũ, thay vì phải về từng nơi trích lục hộ khẩu rồi ra xã xác nhận cho từng giai đoạn thường trú tương ứng được không ạ? Có cách nào làm nhanh hơn không ạ? Vì về từng nơi trích lục rất khó khăn. 

     
    1617 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn Phucvi0879 vì bài viết hữu ích
    admin (28/10/2020) ThanhLongLS (21/10/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #561000   26/10/2020

    nhatgiabao
    nhatgiabao
    Top 200
    Female
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:17/04/2017
    Tổng số bài viết (381)
    Số điểm: 2365
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 78 lần


    Trong trường hợp của bạn mình có một số chia sẻ như sau:

    Căn cứ theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP

    “2. Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; đăng ký khai tử phải nộp bản chính Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này; đăng ký kết hôn phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Mục 3 Chương III của Nghị định này.”

    Theo đó thì bạn muốn đăng ký kết hôn thì phải xuất trình giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Khoản 1, Điều 21 Nghị định 123 cũng quy định UBND cấp xã, nơi thường trú của công dân thực hiện việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

    Bên cạnh đó theo quy định tại Khỏa 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP"

    Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

    Theo thông tin bạn cung cấp bạn đã chuyển khẩu đi nhiều nơi. Do đó, trường hợp này bạn có trách nhiệm chứng minh cho công chức tư pháp - hộ tịch biết tại các nơi cư trú trước đây chưa đăng ký kết hôn với ai

    Trong trường hợp không chứng minh được thì bạn sẽ phải đợi UBND phường đi xác minh. Khi có kết quả xác minh UBND nơi đang cư trú sẽ tiến hành cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định.

    Bảo Bảo

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn nhatgiabao vì bài viết hữu ích
    admin (28/10/2020) enychi (30/10/2020)
  • #561522   30/10/2020

    enychi
    enychi
    Top 100
    Female
    Lớp 2

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:06/06/2019
    Tổng số bài viết (573)
    Số điểm: 3265
    Cảm ơn: 778
    Được cảm ơn 217 lần


    nhatgiabao viết:

    Trong trường hợp của bạn mình có một số chia sẻ như sau:

    Căn cứ theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP

    “2. Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; đăng ký khai tử phải nộp bản chính Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này; đăng ký kết hôn phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Mục 3 Chương III của Nghị định này.”

    Theo đó thì bạn muốn đăng ký kết hôn thì phải xuất trình giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Khoản 1, Điều 21 Nghị định 123 cũng quy định UBND cấp xã, nơi thường trú của công dân thực hiện việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

    Bên cạnh đó theo quy định tại Khỏa 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP"

    Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

    Theo thông tin bạn cung cấp bạn đã chuyển khẩu đi nhiều nơi. Do đó, trường hợp này bạn có trách nhiệm chứng minh cho công chức tư pháp - hộ tịch biết tại các nơi cư trú trước đây chưa đăng ký kết hôn với ai

    Trong trường hợp không chứng minh được thì bạn sẽ phải đợi UBND phường đi xác minh. Khi có kết quả xác minh UBND nơi đang cư trú sẽ tiến hành cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định.

    Thực tế thì cơ quan nhà nước toàn bắt người dân tự chứng minh thôi, còn họ thì kiểm tra

     
    Báo quản trị |  
  • #561007   26/10/2020

    hongphuongtg98
    hongphuongtg98
    Top 500


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2020
    Tổng số bài viết (299)
    Số điểm: 1999
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 48 lần


    Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định:
     
    1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
     
    Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
     
    Căn cứ Khoản 4 Điều 22 Nghị định này về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân quy định:
     
    Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.
     
    Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì người yêu cầu xin xác nhận có nghĩa vụ chứng minh tình trạng hôn nhân của mình với địa phương. Một số trường hợp không thể chứng minh được thì địa phương mới sẽ có trách nhiệm tiến hành xác minh với địa phương trước đó mà người có nhu cầu xác nhận đã sinh sống.

     

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hongphuongtg98 vì bài viết hữu ích
    admin (28/10/2020)
  • #561041   27/10/2020

    hiesutran159
    hiesutran159
    Top 500
    Male


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/10/2020
    Tổng số bài viết (147)
    Số điểm: 2145
    Cảm ơn: 23
    Được cảm ơn 168 lần


    Trường hợp của bạn, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện theo Khoản 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:

    "Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương."

    Như vậy bạn có thể viết đơn đề nghị công chức tư pháp - hộ tịch hỗ trợ bạn trong trường hợp này, trong đó trình bày lý do bạn gặp khó khăn trong việc chứng minh tình trạng hôn nhân ở UBND cấp xã tại những nơi bạn đã từng đăng ký thường trú.

    Cập nhật bởi hiesutran159 ngày 27/10/2020 10:02:27 SA
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hiesutran159 vì bài viết hữu ích
    admin (28/10/2020) ThanhLongLS (27/10/2020)
  • #561370   29/10/2020

    anthuylaw
    anthuylaw
    Top 50
    Female
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:29/04/2017
    Tổng số bài viết (1181)
    Số điểm: 10658
    Cảm ơn: 252
    Được cảm ơn 254 lần


    Căn cứ Khoản 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân quy định:
     
    Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.
     
    => Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì người yêu cầu xin xác nhận có nghĩa vụ chứng minh tình trạng hôn nhân của mình với địa phương. Một số trường hợp không thể chứng minh được thì địa phương mới sẽ có trách nhiệm tiến hành xác minh với địa phương trước đó mà người có nhu cầu xác nhận đã sinh sống.
     
    Tuy nhiên, cũng có trường hợp địa phương cũng không thể xác nhận được tình trạng hôn nhân của ngươi có yêu cầu thì căn cứ Điều 4 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định linh hoạt để xử lý như sau:
     
    Điều 4. Giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh
     
    1. Đối với việc đăng ký hộ tịch phải gửi văn bản đề nghị xác minh theo quy định của Luật hộ tịch 2014 và Nghị định 123/2015/NĐ-CP và Thông tư này, nếu quá thời hạn mà không nhận được văn bản trả lời kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung cần xác minh. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan của mình.
     
    2. Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan biết về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
     
    Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định của Điều 5 Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
     
    Trên thực tế thì công dân phải về lại nơi mình đủ tuổi đăng ký kết hôn để xin cấp giấy chứng nhận độc thân tại thời điểm đó.

    Chỉ là gà con!

     
    Báo quản trị |