DanLuat 2015

Hợp đồng thanh toán trả chậm phù hợp điều kiện khấu trừ thuế GTGT?

Chủ đề   RSS   
  • #289840 05/10/2013

    tdcl0308

    Sơ sinh

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2012
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 225
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Hợp đồng thanh toán trả chậm phù hợp điều kiện khấu trừ thuế GTGT?

    Tôi muốn Luật sư giúp tôi : Hợp đồng trả chậm phù hợp điều kiện khấu trừ thuế :

    Ở Cty  tôi có một số khoản nợ khách hàng thanh toán sau thời hạn ghi trên HĐKT. Khi đến thời hạn cuối cùng, hai bên thỏa thuận bên mua được gia hạn thời hạn thanh toán đến thời hạn mới nhưng bên Bán được hưởng lãi suất vay Ngân hàng . Vậy hợp đồng đó có được xem là hợp lệ và phần thuế của HH mua vào có được khấu trừ thuế không ạ?

    Tại công văn số 2616/CT-TTHT ngày 26/5/2010 của Cục thuế TPHCM Tôi rất băn khoăn về khái niệm Hợp đồng trả chậm, mong Luật sư tư vấn thêm .

    "1. Trường hợp khi mua bán hàng hóa có hợp đồng ghi rõ thời hạn thanh toán nhưng đến hạn không thanh toán thì không được kê khai khấu trừ. Văn bản gia hạn hoặc phụ lục hợp đồng gia hạn không thay thế thời hạn thanh toán đã ghi trên hợp đồng.

    2. Trường hợp mua bán hàng hóa không có hợp đồng hoặc “thời hạn thanh toán ghi trên hợp đồng và hóa đơn khác nhau” thì chỉ được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào khi có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng và còn trong thời gian theo quy định được khấu trừ (tối đa là 6 tháng, kể từ tháng phát sinh hóa đơn).

    3. Trường hợp mua bán hàng hóa có hợp đồng và theo hợp đồng thỏa thuận phương thức thanh toán trả chậm thì đến hạn thanh toán chưa có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng, Công ty phải điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã kê khai khấu trừ. Sau đó nếu có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng thì được kê khai bổ sung (nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra tại Công ty)"

     
    20648 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #307683   21/01/2014

    TRUTH
    TRUTH
    Top 10
    Male
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:03/05/2013
    Tổng số bài viết (4652)
    Số điểm: 30928
    Cảm ơn: 603
    Được cảm ơn 1080 lần


    Bạn có thể tham khảo câu trả lời tại website của Cục thuế Cần Thơ:

    Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số 65/2013/TT-BTC ngày 17/5/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT, hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ quy định:
    “c) Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào”.
    Theo quy định trên, Công ty mua nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm với giá trị từ 700 triệu đồng trở lên phải thanh toán qua ngân hàng. Do mua hàng theo hình thức trả chậm, hợp đồng chưa đến thời điểm thanh toán Công ty vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Căn cứ vào hoá đơn do bên bán cung cấp, khi kê khai Công ty cần ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, dịch vụ mua vào.
    - Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế đầu vào, Công ty  phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ của giá trị nguyên vật liệu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Khi điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ, đồng thời Công ty hạch toán tăng chi phí tính thuế TNDN tương ứng với số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ. Sau khi có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, Công ty được khai bổ sung thuế GTGT và thực hiện điều chỉnh giảm chi phí tính thuế TNDN tương ứng (nếu trước đó, Công ty điều chỉnh lại thuế GTGT không được khấu trừ mà không thực hiện tăng chi phí tính thuế TNDN thì không phải điều chỉnh lại).
    - Trường hợp quá thời hạn thanh toán trả chậm theo thỏa thuận trong hợp đồng, Công ty không thực hiện điều chỉnh giảm theo quy định nhưng trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở, Công ty có chứng từ chứng minh đã thanh toán quan ngân hàng thì việc không điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì Công ty bị xử phạt về thủ tục thuế. Nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì Công ty bị truy thu thuế và bị xử phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.
    - Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế Công ty mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì được xử lý như sau:
    + Đối với các hóa đơn GTGT Công ty đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì Công ty được khai bổ sung thuế GTGT.
    + Đối với các hóa đơn GTGT Công ty đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì Công ty được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan Thuế.
     
    Báo quản trị |  
  • #313939   14/03/2014

    anhtoi92
    anhtoi92

    Male
    Sơ sinh

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:02/06/2011
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


     Điều 408, Bộ Luật dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 quy định:

    Điều 408. Phụ lục hợp đồng

    1. Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.

    2. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.” 

    Em xin hỏi luật sư nếu theo Điều 408 LDS 2005 thì sao ?

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-