Hỏi về việc tạm giam

Chủ đề   RSS   
  • #410703 23/12/2015

    huynhngochung1990

    Sơ sinh

    Đồng Tháp, Việt Nam
    Tham gia:23/12/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Hỏi về việc tạm giam

    Chào luật sư!

    Em có một anh rể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 89 triệu đồng, hiện tại thời gian tạm giam của anh đã hơn 4 tháng, và trong quá trình bị tạm giam gia đình đã trả đủ số tiền cho bên bị hại và họ cũng đã làm đơn bãi nại, vậy anh cho em biết thời gian tạm  giam như vậy có trái pháp luật không vì như em được biết thời gian tạm giam không quá 2 tháng, và với việc gia đình đã trả hết tiền thì hình phạt của anh ấy sẽ như thế nào?

     
    10622 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #411323   28/12/2015

    vpluathuyhung
    vpluathuyhung
    Top 100
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/07/2014
    Tổng số bài viết (664)
    Số điểm: 3755
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 188 lần


    Chào bạn!

    Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự)

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Tái phạm nguy hiểm;

    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra (Bộ luật tố tụng hình sự)

    1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

    Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau:

    a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

    b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

    c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

    d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

    3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát được quy định như­ sau:

    a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

    b) Trong trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    4. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    5. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 3 Điều này đã hết và vụ án có nhiều tình tiết rất phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba.

    Trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

    6. Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho ng­ười bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

    Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

    Vì vậy thời giang tạm giam trên là đúng luật việc gia đình đã bồi thường, bên bị hại đã bãi nại chỉ xem là tình tiết giảm nghẹ chứ không được miễm trách nhiệm hình sự.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HUY HÙNG chuyên Tư vấn thuế.

    Điện thoại: 098 63 63 449 (Tư Vấn Miễn Phí)

    Luật sư: Huỳnh Phước Lợi

    Địa chỉ: quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh

    Email: huynhloi75@gmail.com

    Lĩnh vực hành nghề:

    - Tư vấn về thuế.

    - Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

    - Tư vấn pháp luật.

    - Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

    - Đại diện ngoài tố tụng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật.

     
    Báo quản trị |  
  • #412153   04/01/2016

    an0813
    an0813

    Sơ sinh


    Tham gia:23/05/2013
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 3 lần


    Anh rể của bạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác số tiền 89.000.000đ, tức là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại tại khoản 2, điều 174 Bộ luật hình sự, như vậy là tội phạm nghiêm trọng.

    Theo điều 120, Bộ luật Tố tụng hình sự, anh bạn có thể bị tạm giam tối đa 06 tháng, với cách tính như sau: 03 tháng bị tạm giam ban đầu + 02 tháng tạm giam nếu gia hạn lần thứ nhất + 01 tháng tạm giam nếu gia hạn lần thứ hai. 

    Như vậy việc cơ quan công an tạm giam anh bạn trên 04 tháng là đúng luật. 

    Đối với vấn đề anh bạn đã trả đủ số tiền đã lừa đảo chiếm đoạt thì đây được coi là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46, Bộ luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả".

    Về việc gia đình bị hại viết đơn bãi nại, thì đơn này không có giá trị bởi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nằm trong danh mục các tội khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105, Bộ luật hình sự, theo đó cơ quan công an chỉ khởi tố theo yêu cầu cửa người bị hại  và người bị hại có quyền bãi nại, không yêu cầu khởi tố đối với một số tội đã được quy định tại Điều 105

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn an0813 vì bài viết hữu ích
    vangemchithethoi_vt97@yahoo.com (07/10/2019)
  • #412722   09/01/2016

    Tư vấn về tội sử dụng ma túy

    Chào luật sư: Tôi xin được luật sư tư vấn một vấn đề sau: Tôi có người em trai mới bị công an bắt vì nghi ngờ có liên quan tới ma túy. Nhưng khi bắt khám xét người,nhà,xe đều không có ma túy, tuy vậy em tôi vẫn bị tạm giữ và không được liên hệ với ai,người nhà xin được gặp nhưng không được. Phía công an nói vì em tôi mỗi ngày hút ma túy với số lượng nhiều nên sẽ phải chịu án từ 15 năm tù trở lên. Hiện tại gia đình tôi rất hoang mang,không hiểu luật nên lo sợ lắm, cũng không hiểu về luật pháp liên quan tới ma túy. Tôi muốn hỏi thời gian em tôi bị giữ đã 1 tuần và phía công an nói sẽ là 4 tháng nhưng chưa thấy lệnh tạm giữ, khi bị bắt,khám xét không có ma túy như vậy có đúng không? Việc em tôi hút nhiều thì phải chịu mức án rất cao có đúng không? Trong thời gian tạm giam người nghiện có được chăm sóc về sức khỏe hay không??? Trong thời gian này người nhà không được gặp gỡ có đúng không? Rất mong nhận được câu trả lời sớm nhất từ luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!
     
    Báo quản trị |  
  • #412723   09/01/2016

    Tư vấn về tội sử dụng ma túy

    Chào luật sư: Tôi xin được luật sư tư vấn một vấn đề sau: Tôi có người em trai mới bị công an bắt vì nghi ngờ có liên quan tới ma túy. Nhưng khi bắt khám xét người,nhà,xe đều không có ma túy, tuy vậy em tôi vẫn bị tạm giữ và không được liên hệ với ai,người nhà xin được gặp nhưng không được. Phía công an nói vì em tôi mỗi ngày hút ma túy với số lượng nhiều nên sẽ phải chịu án từ 15 năm tù trở lên. Hiện tại gia đình tôi rất hoang mang,không hiểu luật nên lo sợ lắm, cũng không hiểu về luật pháp liên quan tới ma túy. Tôi muốn hỏi thời gian em tôi bị giữ đã 1 tuần và phía công an nói sẽ là 4 tháng nhưng chưa thấy lệnh tạm giữ, khi bị bắt,khám xét không có ma túy như vậy có đúng không? Việc em tôi hút nhiều thì phải chịu mức án rất cao có đúng không? Trong thời gian tạm giam người nghiện có được chăm sóc về sức khỏe hay không??? Trong thời gian này người nhà không được gặp gỡ có đúng không? Rất mong nhận được câu trả lời sớm nhất từ luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!
     
    Báo quản trị |  
  • #412784   10/01/2016

    LuatSuDuongVanMai
    LuatSuDuongVanMai
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:14/10/2010
    Tổng số bài viết (4951)
    Số điểm: 29193
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 1830 lần
    Lawyer

    Chào bạn!

    Liên quan tới nội dung bạn hỏi luật sư Dương Văn Mai, Công ty luật Bách Dương, Đoàn luật sư Hà Nội trả lời bạn như sau:

    Hiện tại theo quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội sử dụng trái phép chất ma túy đã bị bãi bỏ, tức là hiện tại không có tội sử dụng trái phép chất ma túy. Em trai bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự do tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự, hình phạt cụ thể ra sao nếu bị truy trách nhiệm hình sự sẽ phụ thuộc vào số lượng ma túy bạn nhé.

     

    Luật sư: DƯƠNG VĂN MAI - CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG - TƯ VẤN LUẬT GỌI 1900 6280

    Địa chỉ: Tổ dân phố Quang Minh, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

    Email: Lsduongmai@gmail.com - http://www.luatbachduong.vn

    Lĩnh vực hoạt động:

    1. Tư vấn pháp luật http://luatbachduong.vn/luat-su-tu-van

    2. Luật sư giải quyết các vụ án hình sự, tranh chấp: dân sự, kinh tế, thương mại, đất đai, thừa kế di chúc,Ly hôn... http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-tham-gia-to-tung

    3. Luật sư đại diện ngoài tố tụng http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-dai-dien-ngoai-to-tung

    4. Dịch vụ pháp lý khác - http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/cac-dich-vu-phap-ly-khac

     
    Báo quản trị |  
  • #413058   13/01/2016

    Ls.Nguyenthihuong
    Ls.Nguyenthihuong
    Top 500
    Female
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:17/05/2013
    Tổng số bài viết (280)
    Số điểm: 1494
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 105 lần
    Lawyer

    Chào bạn, vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau: 

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung 2009 thì tội sử dụng trái phép chất Ma túy đã bị bãi bỏ, có một số tội sau đây đang có hiệu lực: 

    "Điều 197. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

    1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

    a) Phạm tội nhiều lần;

    b) Đối với nhiều người;

    c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

    d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

    đ) Đối với người đang cai nghiện;

    e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

    g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

    h) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

    a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

    b) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

    c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

    d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

    b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

    Điều 198. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

    1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

    a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Đối với trẻ em;

    d) Đối với nhiều người;

    đ) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Điều 200. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

    1. Người nào cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến  bảy năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Vì động cơ đê hèn;

    d) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

    đ) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

    e) Đối với nhiều người;

    g) Đối với người đang cai nghiện;

    Điều 201. Tội vi phạm  quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

    1. Người nào có trách nhiệm trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác mà vi phạm quy định về  quản lý, sử dụng các chất đó, thì bị phạt tiền từ  năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm  năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ  năm năm đến mười hai năm:

    a)  Có tổ chức;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến  hai mươi năm.

    4. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

    h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

    i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

    k) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi  năm :

    a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

    b) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

    c) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

    4. Phạm tội trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng."

    Vì em bạn đang bị tạm giữ nhưng gia đình lại không nắm được các quyết định của cơ quan có thẩm quyền . Để xác định được hành vi của em bạn có bị truy cứu TNHS hay không thì bạn nên tới một Văn phòng luật sư nào đó để được tư vấn cụ thể. Nếu bạn nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho em bạn thì họ sẽ tham gia tố tụng ngay từ đầu và có thể tiếp xúc với hồ sơ, nghi can và cơ quan tố tụng để làm rõ sự việc.

     

    Trân trọng.

    CÔNG TY LUẬT CILAW

    Giám đốc: Luật sư Nguyễn Thị Hướng

    Mobile: + 84 974 461 998 - + 84 869 008 039

    Email: huongnt.law@gmail.com

    Website: http://cilaw.vn/

    Lầu 2 C5 số 11B Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bến Nghé, quận 1, HCM

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HUY HÙNG

Điện thoại: 098 63 63 449 (Tư Vấn Miễn Phí)

Luật sư: Huỳnh Phước Lợi

Địa chỉ: quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh

Email: huynhloi75@gmail.com