DanLuat 2015

Hoi về lừa đảo

Chủ đề   RSS   
  • #404550 30/10/2015

    hieu_th

    Sơ sinh

    Vĩnh Long, Việt Nam
    Tham gia:28/10/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Hoi về lừa đảo

    Chào các anh chị!

    cho tôi hỏi một vấn đề về luật: có anh A đã đưa tiền cho anh B với số tiền là 30 triệu để anh B xin việc làm cho anh A, nhưng sau khoảng thời gian 1 năm nhưng anh B vẫn chưa tìm được việc cho anh A. sau đó anh A đã yêu cầu anh B gửi lại tiền nhưng anh B hứa nhiều lần nhưng không trả. anh A đã điện thoại nhiều lần và đã ghi âm lại cuộc gọi. vậy cho tôi hỏi anh A có thể thưa anh ra tòa được không?

     
    3609 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #404752   31/10/2015

    ntdieu
    ntdieu
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:11/02/2009
    Tổng số bài viết (13276)
    Số điểm: 91724
    Cảm ơn: 3001
    Được cảm ơn 4613 lần
    SMod

    Thưa ra tòa thì lúc nào cũng được.

    Thưa ra tòa nhưng để thắng kiện lại là chuyện khác. Với những gì bạn mô tả thì chưa thể khẳng định được nếu A thưa anh B ra tòa thì sẽ thu lại được tiền

     
    Báo quản trị |  
  • #424504   13/05/2016

    coxcomb_hn
    coxcomb_hn

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/02/2014
    Tổng số bài viết (24)
    Số điểm: 270
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 5 lần


    HÌnh sự thì chưa có đủ cơ sở để đề nghị truy tố tội "Lừa đảo". Nhưng nếu muốn đòi lại số tiền đó thì bạn vẫn có thể yêu cầu tòa án có thẩm quyền buộc người nhận tiền kia trả lại bạn theo hướng khởi kiện vụ án dân sự.

    Email: hiennguyenvan173@gmail.com

    Phone: 09686.13.246

     
    Báo quản trị |  
  • #425365   23/05/2016

    khanhxu123
    khanhxu123

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:19/05/2016
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Chào ban! Với vấn đề của bạn mình xin đóng góp ý kiến như sau; 

    Thứ nhất đối với hành vi của B thì chưa thể cấu thành tội Lừa đảo theo quy định của bộ Luật hình sự.

    Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
     
    a. Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
     
    - Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
     
    - Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
     
    Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
     
    - Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.
     
    Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: (1) Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn) … ; (2) Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
     
    b. Dấu hiệu khác
     
    Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
     
    Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
     
    4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
     
    Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định
    Như vậy, bạn phải chứng minh được hoặc phải có bằng chứng để chứng minh được rằng B đã đưa ra thông tin giả để chiếm giữ số tiền trên của bạn. Nếu không đó chỉ là chiếm giữ trái phép hoặc là quan hệ dân sự thông thường.
    mình xin đưa ra một ví dụ như: B nói với A rằng: B có quyen biết ông C làm chức to và hứa sẽ chạy việc cho A nếu như A đưa cho B 30 tr. nhưng thực chất C là nhân vật không tồn tại và sau đó B ôm tiền chạy mất....
    Về cuộc điện thoại mà A đã ghi âm thì rất khó để có thể coi đó là một chứng cứ. Nếu như cơ quan giám định có thể giám định được đó là giọng nói của B thì đó có thể coi là một chứng cứ. Nhưng để thực hiện việc này thì rất khó khăn.

    1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

     

    2. Chứng cứ được xác định bằng:

     

    a) Vật chứng;

     

    b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

     

    c) Kết luận giám định;

     

    d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

    Chúc bạn gặp nhiều may mắn!

     
     
    Báo quản trị |  
  • #427255   11/06/2016

    tungtranlegal
    tungtranlegal

    Male
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:17/05/2016
    Tổng số bài viết (55)
    Số điểm: 995
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 14 lần


    Theo thông tin bạn cung cấp thì chưa đủ cơ sở để khép anh B về tội lừa đảo (trừ khi chứng minh đuợc ngay từ đầu anh B đã lừa anh A để lấy tiền).

    Nếu anh B lấy tiền của anh A rồi những không tìm được việc và khi anh A đòi thì bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để không trả lại tiền (không phải là gian dối ngay từ ban đầu khi anh A giao tiền) hoặc sử dụng tiền của anh A vào mục đích khác dẫn đến không có khả năng trả lại thì có thể tố cáo anh B về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

    Nếu không thoả mãn cả 2 tội trên thì có thể kiện anh B ra Toà dân sự để đòi lại tiền.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-