Hiểu thế nào là tại ngoại trong vụ án hình sự

Chủ đề   RSS   
  • #529801 30/09/2019

    lanbkd
    Top 150
    Female
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/08/2017
    Tổng số bài viết (518)
    Số điểm: 7351
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 416 lần


    Hiểu thế nào là tại ngoại trong vụ án hình sự

     

    Trong công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, để không gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án trong trường hợp bị can, bị cáo cố tình che dấu, xóa dấu vết tội phạm; có dấu hiệu bỏ trốn; có dấu hiệu tiếp tục phạm tội,... thì biện pháp được áp dụng thường là tiến hành tạm giam bị can, bị cáo.

    Tuy nhiên, trường hợp căn cứ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội cũng như mong muốn của họ mà cơ quan chức năng có thể xem xét để không phải tạm giam người này.Thực tiễn, tại ngoại là cách hiểu thông thường của mọi người đối với một người đang là đối tượng điều tra trong một vụ án hình sự nhưng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam.

    Về mặt pháp lý, tại ngoại được hiểu là biện pháp bảo lĩnh quy định tại Điều 121 Bộ Luật bố tụng hình sự 2015 là một biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự thay thế cho biện pháp tạm giam.

    Điều kiện áp dụng

    >>>Người được bảo lĩnh

    Điều kiện tại ngoại đối với bị can, bị cáo không được pháp luật quy định cụ thể mà chỉ được quy định chung như sau: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

    Xong, chúng ta có thể dẫn chiếu sang điều khoản về các trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam tại khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để thấy được những trường hợp tại ngoại có khả năng được áp dụng:

    Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

    a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

    b) Tiếp tục phạm tội;

    c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

    d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.”

    >>>Người bảo lĩnh

    - Người bảo lĩnh là cơ quan, tổ chức:

    + Bị can bị cáo phải là thành viên của cơ quan, tổ chức đứng ra bảo lĩnh.

    + Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ theo quy định pháp luật tại khoản 3 Điều 121. 

    - Người bảo lĩnh là cá nhân:

    + Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên.

    + Nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định.

    + Có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh

    thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người.

    + Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

    Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ theo quy định. Cụ thể, phải cam đoan bị can, bị cáo trong thời gian tại ngoại vẫn phải có nghĩa vụ sau:

    + Không được bỏ trốn khỏi nơi cư trú và không tiếp tục phạm tội.

    + Phải phối hợp, hợp tác điều tra với cơ quan có thẩm quyền, có mặt theo giấy triệu tập trừ trường hợp có lý do chính đáng (trở ngại khách quan, lý do bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh…)

    + Cam đoan không để bị can, bị cáo mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.

    + Không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án.

    + Không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích họ.

    Xử lý vi phạm cam đoan

    Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam thì:

    - Bị can, bị cáo sẽ bị tạm giam;

    - Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

    Thời hạn áp dụng

    Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định. Riêng thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

    Người có thẩm quyền

    Tùy giai đoạn của vụ án mà người có thẩm quyền giải quyết việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh sẽ có sự khác biệt:

    - Giai đoạn điều tra: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Đối với trường hợp này thì quyết định bảo lĩnh phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.

    - Giai đoạn truy tố: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp.

    - Giai đoạn xét xử: Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

     

     

     
    1456 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn lanbkd vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (01/10/2019)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #529896   30/09/2019

    thuylinh2311
    thuylinh2311
    Top 50
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2017
    Tổng số bài viết (920)
    Số điểm: 9181
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 129 lần


    Tại ngoại là là hình thức áp dụng đối với đối tượng đang có quyết định điều tra của cơ quan Điều tra nhưng không bị tạm giam. Về mặt pháp lý, việc bị can, bị cáo được tại ngoại thông quan thủ tục bảo lĩnh được quy định tại Điều 121 Bộ Luật bố tụng hình sự năm 2015, còn hay được gọi là bảo lãnh tại ngoại.
     
    Trong quá trình điều tra mà được tại ngoại không có nghĩa là bị can, bị cáo không còn có tội nữa và vẫn phải đến Tòa án và Cơ quan điều tra khi có lệnh triệu tập để phối hợp giải quyết vụ án, sau đó, khi có bản án quyết định của Tòa nếu người đó bị tuyên có tội thì vẫn phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật.
     
    Báo quản trị |