DanLuat 2015

Hiệu lực của các công văn trả lời của các cơ quan nhà nước

Chủ đề   RSS   
  • #163645 07/02/2012

    hasosa
    Top 100
    Male
    Lớp 5

    Quảng Ninh, Việt Nam
    Tham gia:09/03/2010
    Tổng số bài viết (470)
    Số điểm: 6653
    Cảm ơn: 146
    Được cảm ơn 127 lần


    Hiệu lực của các công văn trả lời của các cơ quan nhà nước

     

    Như chúng ta ai cũng biết nhà nước ta có một chính sách là hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, điều này có thể là do các quy định của pháp luật hiện nay đôi lúc còn quá cô đọng gây khó hiểu, khó vận dụng cho các đối tượng liên quan nhất là các doanh nghiệp; chính sách này có thể hiểu nôm na là khi doanh nghiệp gặp vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực nào đó của quá trình kinh doanh... có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước hướng dẫn trả lời để trên cơ sở đó biết cách vận dụng pháp luật cho đúng, các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm trả lời... chính sách này được quy định cụ thể trong Nghị định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp số66/2008/ND-CP... Khi các cơ quan nhà nước trả lời các doanh nghiệp thì cái văn bản trả lời đó thường được gọi là "công văn", như chúng ta thấy khối lượng công văn ngay trên trang web thuvienphapluat này cũng rất lớn và trang web này cũng thiết lập hẳn một mục tìm kiếm công văn riêng... và nội dung các công văn này nếu liên quan đến doanh nghiệp thì thường ở dạng trả lời hướng dẫn pháp luật cho một đối tựơng nào đó đã hỏi, tuy nhiên cái mình thắc mắc là hiệu lực pháp lý của các loại công văn này...
    Trong thực tế mình thấy nhiều người khi tranh cãi hay vận dụng pháp luật về một vấn đề pháp lý nào đó đôi khi hay viện dẫn và áp dụng đến các hướng dẫn từ các công văn có trường hợp tương tự như tình huống mà người đó đang vướng mắc:
    Ví dụ: một doanh nghiệp A đang vướng mắc vấn đề áp dụng pháp luật về lao động như: thế nào là cúp lương của người lao động... khi tra cứu được 1 công văn trả lời của cơ quan X đã trả lời doanh nghiệp Y nào đó có nội dung tương tự về vấn đề cúp lương thì doanh nghiệp A áp dụng theo hướng dẫn này ngay...
     
    - Vấn đề đặt ra là hiệu lực của các loại công văn hướng dẫn này có cần được xem xét đến không?
    - Giả sử công văn hướng dẫn sai thì trách nhiệm của các cơ quan hướng dẫn sai có cần xem xét đến không?
    - Công văn hướng dẫn chỉ có hiệu lực đối với đối tượng được hướng dẫn hay có thể áp dụng tương tự cho các đối tượng khác?

    Mong góp ý, thanks!
    Cập nhật bởi hasosa ngày 07/02/2012 02:46:26 CH

    3 điều làm nên giá trị con người: Siêng năng – Chân thành – Thành đạt

     
    22062 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #163693   07/02/2012

    hanoilawkt
    hanoilawkt
    Top 500
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2009
    Tổng số bài viết (107)
    Số điểm: 1000
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 41 lần


    Theo mình, trường hợp này được hiểu như sau:
    Thứ nhất: Công văn trả lời là dành cho chính đối tượng hỏi cụ thể cho nên nó chỉ có hiệu lực trực tiếp đối với đối tượng hỏi và có giá trị tham khảo giải quyết đối với những đối tượng khác quan tâm. Vì vậy khi đối tượng hỏi đã thực hiện theo công văn trả lời đó thì coi như vụ việc đã hoàn tất. Các đối tượng khác( kể cả cơ quan nhà nước hay tổ chức, cá nhân) chỉ sử dụng mang tính chất tham khảo khi áp dụng mà thôi
    Thứ hai: Công văn này chỉ là hướng dẫn chung( thực tế gần như chưa có trường hợp nào hướng dẫn cụ thể) nên chỉ có giá trị tham khảo, vì vậy nếu doanh nghiệp làm sai thì doanh nghiệp đó vẫn phải chịu trách nhiệm. Đối với các hướng dẫn sai thì chỉ coi đó là căn cứ để doanh nghiệp khiếu nại hoặc bổ sung vào hồ sơ của mình. Thông thường công văn trả lời hay hướng dẫn là của cơ quan cấp trên của cơ quan mà đối tượng đang có liên quan trực tiếp. Nếu công văn trả lời là của cơ quan trực tiếp thì hoàn toàn có thể khiếu kiện theo con đường hành chính, kết quả của tòa sẽ khẳng định ai đúng , ai sai!!!
    Thứ ba: Đối với trường hợp là hướng dẫn: Ngay trong tiêu đề chỉ ghi là hướng dẫn thì cũng rất khó lấy đó là căn cứ để khẳng định là lỗi chủ yếu là sai do hướng dẫn: vì hướng dẫn chỉ là hướng dẫn, không phải là làm thay cho người được hướng dẫn còn thực hiện cụ thể là người được hướng dẫn.
    Thứ tư, chưa có 1 đơn vị nào làm hướng dẫn mà đóng dấu tổ chức, ký tên mình vào, mà hướng dẫn chỉ là văn bản có chữ đơn thuần, nên lúc kiện nhau ra tòa rất khó xác định trách nhiệm của cơ quan hướng dẫn
    Thời gian không có nhiều nên chỉ có đôi dòng trao đổi
    Thân!

    Mr Thinh- Business Consultant

    Mobile: 0936 017 369

    Mail:hanoilawkt@gmail.com

    Chia sẻ và tư vấn miễn phí về những kiến thức pháp luật đã có.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hanoilawkt vì bài viết hữu ích
    hasosa (07/02/2012)
  • #163715   07/02/2012

    hasosa
    hasosa
    Top 100
    Male
    Lớp 5

    Quảng Ninh, Việt Nam
    Tham gia:09/03/2010
    Tổng số bài viết (470)
    Số điểm: 6653
    Cảm ơn: 146
    Được cảm ơn 127 lần


    Đúng là thời gian không có nhiều, mình chỉ phản biện lại điểm thứ tư bạn nêu là không có một cơ quan nào đánh công văn hướng dẫn trả lời lại ký tên đóng dấu của tổ chức mình... vậy mình thử lấy 1 công văn bất kỳ trên trang web này xem họ có ký tên đóng dấu không nhé...

    Kết quả như sau:

    TỔNG CỤC THUẾ
    CỤC THUẾ TP. HỒ CHÍ MINH
    --------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ----------------

    Số:580/CT-TTHT /> V/v: chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

    TP. Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 01 năm 2011

     

    Kính gửi:

    Công ty TNHH Wartsila Việt Nam.
    Đ/chỉ: Phòng 503, Lầu 5, số 37 Tôn Đức Thắng, P.Bến Nghé, Quận 1.
    Mã số thuế: 0301513887. 

    Trả lời văn bản ngày 7/01/2011 của Công ty về chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Cục thuế Thành phố có ý kiến như sau:

    - Tại Khoản 18 Điều 1 Luật số 35/2002/QH10 ngày 2/4/2002 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động năm lao động năm 1994 quy định:

     “Điều 69 được sửa đổi, bổ sung như sau:

     Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không được quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động."

    - Tại mục III Phần C Thông tư số134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp (áp dụng kỳ tính thuế năm 2007-2008) quy định nguyên tắc xác định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý:

    “ Các khoản chi không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định hoặc hoá đơn, chứng từ không hợp pháp.

    - Các khoản chi không liên quan đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.

    - Các khoản chi do nguồn kinh phí khác đài thọ.”

    Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty trong năm 2007 và năm 2008 thuê người lao động làm ngoài giờ quá 200giờ/năm/người là không phù hợp quy định tại Bộ luật Lao động nên khoản chi phí trả cho số giờ làm ngoài giờ vượt quá 200 giờ/năm/người không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN. Khoản chi làm visa xuất cảnh cho nhân viên kỹ thuật ra nước ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nếu có hoá đơn, chứng từ hợp pháp (ghi tên, mã số thuế, địa chỉ Công ty) được tính vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế TNDN.

    Cục Thuế Thành phố thông báo Công ty biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.

     

     

    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - Phòng PC;
    - Phòng KT 2;
    - Lưu (TTHT, HC)
     57-1389/2011 tttg

    TUQ.CỤC TRƯỞNG
    TRƯỞNG PHÒNG TUYÊN TRUYỀN
    HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ




    Trần Thị Lệ Nga

    Cập nhật bởi hasosa ngày 07/02/2012 08:07:26 CH

    3 điều làm nên giá trị con người: Siêng năng – Chân thành – Thành đạt

     
    Báo quản trị |  
  • #163733   07/02/2012

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Chào bạn #0072bc; font-size: 13px;">hasosa,

        - Công văn phúc đáp cho 1 doanh nghiệp về 1 vấn đề gì mà doanh nghiệp thắc mắc là dạng văn bản hành chính cá biệt, chỉ áp dụng cho trường hợp của doanh nghiệp đó thôi.

        - Lưu ý công văn này không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

        - Nếu công văn này hướng dẫn sai thì cơ quan ban hành công văn phải chịu trách nhiệm vì họ là cơ quan quản lý chuyên ngành.

        Thân.

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Maiphuong5 vì bài viết hữu ích
    hasosa (08/02/2012)
  • #163745   07/02/2012

    Im_lawyerx0
    Im_lawyerx0
    Top 75
    Male
    Lớp 4

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/03/2009
    Tổng số bài viết (729)
    Số điểm: 5940
    Cảm ơn: 110
    Được cảm ơn 363 lần



    -Theo tôi, công văn trả lời loại này chỉ có giá trị tham khảo chứ không phải là mệnh lệnh hành chính nên doanh nghiệp không bắt buộc phải thực hiện.

    - Nếu như doanh nghiệp giải quyết vấn đề theo hướng trả lời của công văn (hoặc doanh nghiệp khác có vướng mắc tương tự và dùng công văn đó để tham khảo), nếu có dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại thì trách nhiệm của doanh nghiệp có thể được xem xét giảm nhẹ (hoặc được miễn) và cơ quản quản lý chuyên ngành ban hành công văn đó sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới (hoặc toàn bộ).

    - Dù công văn hướng dẫn sai nhưng chưa gây hậu quả thì chỉ bị xem xét trách nhiệm xử lý kỷ luật trong nội bộ mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý.

    Tiện đây, nhờ mọi người xem giúp căn cứ của đoạn màu vàng trong công văn này của BLĐTBXH với, tôi tìm mãi nhưng chưa thấy căn cứ ở đâu:
    Công văn trả lời viết:
    BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    VÀ XÃ HỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    -*- ---------------------------
    Số:646/LĐTBXH-CSLĐVL Hà nội, ngày 6 tháng 3 năm 2003
    V/v: Thực hiện pháp luật lao động

    Kính gửi: Công ty chế biến XNK Thuỷ sản Bà Rịa – Vũng Tàu

    Trả lời công văn ngày 18/02/2003 của quý Công ty hỏi về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
    1/ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không đúng các quy định tại Điều 37 của Bộ Luật Lao động, vi phạm về thời gian báo trước hoặc điều kiện chấm dứt, thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường các khoản tiền theo quy định của pháp luật.
    2/ Khi người lao động tự ý bỏ việc liên tục từ 5 ngày trở lên mà không có lý do chính đáng, thì người sử dụng lao động gửi văn bản thông báo cho người lao động đến nơi làm việc để xem xét mối quan hệ lao động:
    a) Nếu trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người lao động đến nơi làm việc đề đạt nguyên vọng được tiếp tục làm việc, thì người sử dụng lao động bố trí việc làm cho người lao động và tiến hành xử lý kỷ luật lao động. Trường hợp bị xử lý bằng hình thức sa thải, người lao động được trợ cấp thôi việc.
    b)Nếu quá thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người lao động không đến nơi làm việc và không báo cáo lý do vắng mặt, thì người sử dụng lao động trao đổi, thống nhất với Ban chấp hành công đoàn cơ sở, báo cáo cơ quan quản lý Nhà nước về lao động địa phương biết và xử lý như trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật./.

    Nơi nhận: TL.BỘ TRƯỞNG
    - Như trên; BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
    - Lưu VP, Vụ CSLĐVL Vụ trưởng Vụ Chính sách Lao động và Việc làm

    Nếu theo tôi hiểu, thì tinh thần của đoạn màu vàng là nếu sau khi thông báo lần thứ nhất và người lao động nhận được thông báo, nếu người lao động không đến nơi làm việc và không báo cáo lý do thì xử lý như trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Tuy nhiên, cũng với hành vi bỏ việc của người lao động, theo nghị định 41/CP lại hướng dẫn cách xử lý khác:
    Nghị định 41/CP viết:
    Điều 11.
    1. Việc xem xét, xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo Điều 87 của Bộ Luật lao động được quy định như sau:
    a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động bằng các chứng cứ hoặc người làm chứng (nếu có);
    b) Phải có sự tham gia của đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, trừ trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách bằng miệng;
    c) Đương sự phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân, hoặc người khác bào chữa. Trong trường hợp đương sự là người dưới 15 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ, hoặc người đỡ đầu hợp pháp của đương sự. Nếu người sử dụng lao động đã 3 lần thông báo bằng văn bản mà đương sự vẫn vắng mặt thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định kỷ luật cho đương sự biết.

    Nói chung, theo quy định của nghị định 41/CP thì nếu người lao động bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng không có lý do chính đáng thì bị xem xét kỷ luật theo hình thức sa thải, trình tự tiến hành kỷ luật được thực hiện theo Điều 87, BLLĐ và người sử dụng lao động phải thông báo 3 lần cho người lao động.

    Đời người ngắn hay dài há do ý muốn. Đã biết như thế mà còn tham sống, há không phải là u mê. Đã biết như thế, mà còn sợ chết há không phải là tuổi trẻ lưu lạc tha hương đến nỗi quên cả đường về. Đã biết như thế người chết đi có khi lại hối hận là từng tham sống cũng nên - Trang Tử

    Dịch nghĩa:

    Sống chắc gì đã sướng mà chết chắc gì đã khổ. Sống chết thật ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn. Khi chết đi chính là tỉnh mộng. Không chừng sau khi chết, lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn. Sao không chết sớm hơn. Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.

     
    Báo quản trị |  
  • #163859   08/02/2012

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Chào Im_lawyerx0,

        Tôi nghĩ Mục 2b Công văn 646 của BLĐTBXH không dựa trên bất cứ cơ sở pháp lý nào về pháp luật lao động, mà chỉ là một hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp, mở rộng từ các quy định hiện hữu.

        Tuy nhiên, xét kỹ thì thấy hướng dẫn tại Mục 2b Công văn 646 này còn lấn cấn so với quy định của BLLĐ.

        1. Cần phân biệt rõ 2 thuật ngữ: “xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải” và “xử lý trong trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật”. Công văn 646 bị vướng ở điểm này.

        - Khi NLĐ tự ý bỏ việc 05 ngày liên tục, thì NSDLĐ căn cứ Khoản 1c Điều 11 Nghị định 41/CP: “… Nếu người sử dụng lao động đã 3 lần thông báo bằng văn bản mà đương sự vẫn vắng mặt thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định kỷ luật cho đương sự biết” để xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải theo quy định tại Khoản 1c Điều 85 BLLĐ là đúng quy định. Điều này quá rõ ràng.

        - Trong khi đó, Công văn 646 lại hướng dẫn “xử lý như trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật”.

        Tôi không tìm thấy quy định xử lý trong trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Chỉ suy luận rằng: lúc đó, NSDLĐ ra quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ do NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, và áp dụng trợ cấp thôi việc và yêu cầu bồi thường theo quy định tại Khoản 2 và 3 Điều 41 BLLĐ thôi.

        2. Sự khác nhau giữa 2 hình thức xử lý này là: sa thải thì NSDLĐ phải trợ cấp thôi việc (nếu có) còn cách kia thì không.

        3. Khác nữa: sa thải thì doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ thủ tục, quy trình về kỷ luật lao động còn cách kia thì đơn giản hơn.    

        Có lẽ BLĐTBXH muốn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhưng lại vô tình hướng dẫn khác với luật.

        Vài dòng trao đổi.

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Maiphuong5 vì bài viết hữu ích
    hasosa (08/02/2012)
  • #163873   08/02/2012

    nvdcyah
    nvdcyah
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/01/2012
    Tổng số bài viết (201)
    Số điểm: 1515
    Cảm ơn: 21
    Được cảm ơn 104 lần


    Để trả lời câu hỏi này cần lòng vòng con tằm nó nhả ra tơ…một chút.


    1/ Trước hết cần phân biệt văn bản pháp quy và văn bản hành chính:

    Văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    Văn bản quản lý hành chính

    Là những văn bản do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ quản lý hành chính nhà nước giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và công dân


    2/ Có những loại văn bản hành chính nào?

    Gồm các loại sau:

    • - Văn bản cá biệt: thường dùng trong nội bộ cơ quan quản lý nhà nước (chỗ này bác maiphuong5 hơi nhầm)
    • - Văn bản hành chính thông thường: thường gọi là công văn, đây chính là loại ta đang bàn
    • - Văn bản kỹ thuật
    • - Văn bản chuyên ngành
    • - Văn bản khác, ngoài những loại trên


    3/ Luận về giá trị của Công văn:

    Công văn mà chúng ta đang bàn chính là văn bản quản lý hành chính điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức, ở đây là doanh nghiệp.

    Trên thực tế, công văn thường mang nội dung giải thích, hướng dẫn thực thi các văn bản quy phạm pháp luật; thông báo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước cho tổ chức thực hiện v.v... Có thể thấy rõ ngay là cơ quan quản lý nhà nước KHÔNG CÓ THẨM QUYỀN giải thích luật (thường thì hướng dẫn là hệ quả của giải thích và thường là luật không rõ thì mới cần hướng dẫn cho nên có thể coi hướng dẫn về bản chất cũng là giải thích mà thôi) và do đó nó có giá trị pháp lý hạn chế, chủ yếu là ràng buộc đối tượng ban hành và thi hành.

    Công văn có tính chất CÁ BIỆT hóa ở chỗ chỉ có giá trị áp dụng trong quan hệ giữa cơ quan ra văn bản và đối tượng nhận văn bản mà thôi, không có giá trị áp dụng chung cho mọi quan hệ. Nói cách khác, nó chỉ có ý nghĩa tham khảo mà không mặc nhiên được áp dụng với quan hệ tương tự.


    Ý nghĩa rút ra ở đây là chúng ta đừng nên chủ quan mà nghĩ rằng chỗ này chỗ kia việc cũng thế thì xử lý cũng thế mà có ngày hỏng việc.

    Cập nhật bởi nvdcyah ngày 08/02/2012 12:19:16 CH Cập nhật bởi nvdcyah ngày 08/02/2012 12:17:46 CH sửa lại khoảng cách dòng cho gọn hơn
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nvdcyah vì bài viết hữu ích
    hasosa (08/02/2012)
  • #164488   10/02/2012

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


     

        Cám ơn nvdcyah đã có trao đổi và bạn đã phân loại rất đầy đủ và chi tiết. Tôi công nhận dùng chữ “cá biệt” là không chính xác. Tiện thể tôi cũng có một số ý kiến trao đổi để hiểu rõ và đầy đủ hơn hệ thống văn bản của nước ta.

        Theo tôi, căn cứ các quy định về công tác văn thư, cũng như các tài liệu khác, văn bản được chia thành các loại sau:

        1. Văn bản quy phạm pháp luật: Bạn đã nói đầy đủ rồi.

        2. Văn bản hành chính: như bạn đã định nghĩa. Văn bản hành chính sẽ bao gồm 2 loại:

        - Văn bản hành chính cá biệt: Là những quyết định quản lý được các cơ quan có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước ban hành trên cơ sở những quy định chung và quyết định quy phạm của cơ quan cấp trên hoặc của cơ quan mình nhằm giải quyết các công việc có hiệu quả.

        - Văn bản hành chính thông thường: Là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, ghi chép trong cơ quan.

        Các văn bản hành chính như sau: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ bản cam kết, bản thỏa thuận, giấy chứng nhận, giấy ủy quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công.

        3. Văn bản chuyên ngành

        4. Văn bản của tổ chức chính trị - xã hội

        5. Văn bản kỹ thuật (loại này tôi chưa tìm ra quy định ở đâu???)

        Như vậy, bạn nói “văn bản cá biệt: thường dùng trong nội bộ cơ quan quản lý nhà nước”, tôi e cũng chưa hoàn toàn chính xác. Phải hiểu như định nghĩa ở trên, tức là nó sẽ chỉ là Nghị quyết hoặc Quyết định nói chung, nhưng không phải chỉ dùng trong nội bộ cơ quan quản lý nhà nước. Còn các loại văn bản hành chính khác (kể cả Công văn các loại) sẽ được xếp vào loại văn bản hành chính thông thường.

        Mong nhận được hồi âm.
    Cập nhật bởi Maiphuong5 ngày 10/02/2012 06:01:43 CH sửa font chữ

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Maiphuong5 vì bài viết hữu ích
    Im_lawyerx0 (13/02/2012)
  • #164610   11/02/2012

    nvdcyah
    nvdcyah
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/01/2012
    Tổng số bài viết (201)
    Số điểm: 1515
    Cảm ơn: 21
    Được cảm ơn 104 lần


    Đúng là ra câu đối dễ mà đối câu đối mới khó. Do câu hỏi của bác maiphuong5, tôi đi tìm tài liệu tham khảo mệt khờ mà tiếc là cũng chưa tìm thấy câu trả lời thỏa đáng.


    Với những gì có trong tay xin được trình bày lại vấn đề này như sau:


    1/ Căn cứ pháp lý quy định về văn bản:
    Hầu như không có gì khác ngoài 2 nghị định

    Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư

    Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP

    Đối với văn bản hành chính, tôi KHÔNG THẤY CÓ thêm văn bản hướng dẫn chi tiết nào trong đó có các diễn giải, định nghĩa hay phân loại văn bản một cách cụ thể, rõ ràng.


    2/ Các hình thức văn bản:
    Theo 2 nghị định trên, về hình thức văn bản có các loại sau:

    Điều 4. Hình thức văn bản Các hình thức văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức bao gồm:

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật này.

    2. Văn bản hành chính: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công”.

    3. Văn bản chuyên ngành Các hình thức văn bản chuyên ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành quy định sau khi thoả thuận thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ;

    4. Văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Các hình thức văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định. 


    Một vài nhận xét:

    •            a/ Như vậy là một cách chính thống, chỉ những gì quy định tại điều 4.2 nói trên mới được gọi là văn bản hành chính.
    •            b/ Ngoài tên gọi liệt kê tại điều 4.2 nói trên, không thấy có văn bản pháp quy nào khác đưa ra định nghĩa, diễn giải, phân loại cụ thể về từng loại văn bản hành chính.

    Do đó, những gì chúng ta đọc được đâu đó hoặc trao đổi với nhau ở đây đều là những ý kiến phi chính thống mà thôi!  Phải nói rõ điều này trước khi tiếp tục bàn luận thêm về những vấn đề ta đang quan tâm.


    3/ Văn bản cá biệt là gì?

    Thuật ngữ này được rút ra từ khoản 2 Điều 3 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành VBQPPL (có nghĩa là từ 1 nghị định quy định về loại văn bản khác, không phải về văn bản hành chính): 

    “ văn bản cá biệt để phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt; văn bản cá biệt có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính hoặc để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và các văn bản cá biệt khác để giải quyết vụ việc cụ thể đối với đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này”.

    Theo định nghĩa trên, có thể hiểu về bản chất, nhìn chung văn bản cá biệt là loại văn bản để “chỉ đạo, điều hành hành chính” với những vấn đề cụ thể nhất định, là văn bản “để giải quyết vụ việc cụ thể đối với đối tượng cụ thể” . Không phải là chỉ khi có ghi tên loại là cá biệt kiểu như Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), thì mới là văn bản cá biệt. Nói thêm là trong dân gian còn thấy có các biểu mẫu quyết định tách nhỏ ra là cá biệt trực tiếp và cá biệt gián tiếp, thật là sáng tạo!


    4/ Công văn là gì?

    •              a/ Là văn bản hành chính dạng văn bản cá biệt.  
    •             b/ Không có quy định rõ ràng, cụ thể về khái niệm, về phạm vi áp dụng, hiệu lực…do đó dường như áp dụng ít nhiều theo…tập quán!  Mặc dù vậy, rải rác có các quy định về hình thức văn bản, thẩm quyền, lưu trữ…mà từ đó có thể …suy luận ra công văn là cái gì, sử dụng ra sao!


    Nói tóm lại, đây là vấn đề tưởng vậy mà không phải vậy.

    Chính phủ cần phải có quy định rõ ràng về vấn đề này nếu muốn cải cách hành chính, chuẩn hóa họat động hành chính, thực hiện chính phủ điện tử…

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nvdcyah vì bài viết hữu ích
    Im_lawyerx0 (13/02/2012)
  • #164616   11/02/2012

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17654
    Cảm ơn: 1491
    Được cảm ơn 1480 lần


    Xin chào #0072bc; font-size: 13px;">nvdcyah,

        Cám ơn bạn đã trao đổi nhiệt tình.

        Đúng là tìm tòi các quy định rõ ràng về văn bản hành chính là rất khó. Chắc bên ngành học quản lý hành chính phân biệt chính xác hơn.

        Vì chỉ tìm hiểu tương đối để hệ thống hóa kiến thức, nên chỉ biết đến đó. Tôi vẫn giữ quan điểm như hiểu biết trong bài trình bày trước và cũng không muốn tạo thêm rối rắm vì vấn đề cũng không cần phải chính xác tuyệt đối.

        À, xin nói nhỏ là Nghị định 161/2005/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 24/2009/NĐ-CP.
     
        Thân.

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Maiphuong5 vì bài viết hữu ích
    nvdcyah (11/02/2012)
  • #164622   11/02/2012

    nvdcyah
    nvdcyah
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/01/2012
    Tổng số bài viết (201)
    Số điểm: 1515
    Cảm ơn: 21
    Được cảm ơn 104 lần


    @maiphuong5

    - cảm ơn nói nhỏ của bác về nghị định thay thế

    - mách nhỏ lại bác tôi đã xem qua một số tài liệu, giáo trình của ngành học quản lý hành chính và thấy rằng mỗi ông một kiểu bác ạ! Thêm nữa, cho dù có nhiều tài liệu đọc rất ổn nhưng đó KHÔNG PHẢI là những khái niệm chính thống, có cơ sở pháp lý, đó mới là vấn đề.
     
    Nếu bác quan tâm có thể đọc thêm tài liệu này :http://www.scribd.com/doc/55771267/6/Phan-lo%E1%BA%A1i-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n

    Tài liệu này phân loại như sau:

    Văn bản hành chính thông thường

    Văn bản hành chính thông thường là loại văn bản do cơ quan có thẩmquyền ban hành nhưng không có đầy dủ những yếu tố của một văn bản quy phạm pháp luật, nhằm giải quyết các vụ việc cụ thể với đối tượng cụ thể.

    Văn bản hành chính thông thường gồm:

    • Công văn
    • Thông báo
    • Biên bản
    • Thông cáo
    • Công điện...

     

    Văn bản cá biệt

    Văn bản cá biệt là loại văn bản chứa đựng những quy tắc xử sự riêng,thuộc thẩm quyền của từng cơ quan nhằm giải quyết một sự việc, một cánhân, một tổ chức cụ thể trong phạm vi không gian, thời gian nhất định.

    Văn bản cá biệt gồm:

    • Quyết định nâng lương
    • Quyết định bổ nhiệm
    • Quyết định điều động
    • Quyết định khen thưởng, kỷ luật
    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính...
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nvdcyah vì bài viết hữu ích
    Maiphuong5 (11/02/2012)
  • #164833   13/02/2012

    hanoilawkt
    hanoilawkt
    Top 500
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2009
    Tổng số bài viết (107)
    Số điểm: 1000
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 41 lần


    Cảm ơn cả nhà. Nhưng trong phạm vi câu hỏi tôi cho rằng cách trả lời đã ra rộng quá vấn đề rồi, nhìn lại câu hỏi đầu tiên( là 1 giọt nước) thì bây h câu trả lời rộng quá( là 1 cái ao rồi)

    Hihi

    Mr Thinh- Business Consultant

    Mobile: 0936 017 369

    Mail:hanoilawkt@gmail.com

    Chia sẻ và tư vấn miễn phí về những kiến thức pháp luật đã có.

     
    Báo quản trị |  
  • #164865   13/02/2012

    nvdcyah
    nvdcyah
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/01/2012
    Tổng số bài viết (201)
    Số điểm: 1515
    Cảm ơn: 21
    Được cảm ơn 104 lần


    @#0072bc;">hanoilawkt

    Để nhìn nhận vấn đề một cách tòan diện thì phải nhìn rộng, nhìn xa, tránh thấy cây mà không thấy rừng bạn ạ. Mỗi câu hỏi đặt ra là một dịp để chúng ta kiểm tra lại hiểu biết, củng cố/hệ thống hóa lại kiến thức về lĩnh vực liên quan chứ không còn bó hẹp vào việc trả lời những câu hỏi cụ thể nữa, tôi cho là rất tốt.

    Bạn đọc lại trao đổi sẽ thấy, bây giờ câu trả lời đã khác với lúc đầu rồi đấy. Giọt nước của bạn không lơ lửng trong không trung mà nó nằm trong cái ao!  
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nvdcyah vì bài viết hữu ích
    Maiphuong5 (13/02/2012)
  • #231693   07/12/2012

    kodenluotchu
    kodenluotchu

    Sơ sinh

    Lai Châu, Việt Nam
    Tham gia:19/10/2011
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    mặc dù các bác nói là để nhìn thấy rừng. là để củng cố lại hiểu biết. Nhưng vấn đề ở đây là cái quái quỷ gì vậy chính là trả lời 3 câu hỏi của chủ đề tài

    Tôi xin đưa ra câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất và thứ 3 như sau

    Đối với câu hỏi thứ nhất,  Vấn đề đặt ra là hiệu lực của các loại công văn hướng dẫn này có cần được xem xét đến không? Xin trả lời là hiện nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về vấn đề này. Và trên thực tế các văn bản hành chính ở các cấp ủy ban nhân dân và hội đồng nhân dân có nhiều trường hợp không quy định về hiệu lực về thời gian của văn bản.Đối với câu hỏi thứ 2 Công văn hướng dẫn chỉ có hiệu lực đối với đối tượng được hướng dẫn hay có thể áp dụng tương tự cho các đối tượng khác? Xin thưa là không vì nếu nó có thể áp dụng tương tự thì tức là có chứa quy phạm rồi và nếu chứa quy phạm thì không phải là văn bản hành chính nữa.

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-