DanLuat 2015

hậu quả pháp lí khi hợp đồng bị vô hiệu

Chủ đề   RSS   
  • #272467 29/06/2013

    lamlecao

    Chồi

    Trà Vinh, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2013
    Tổng số bài viết (40)
    Số điểm: 1046
    Cảm ơn: 27
    Được cảm ơn 0 lần


    hậu quả pháp lí khi hợp đồng bị vô hiệu

    kính thưa luật sư ! hậu quả của việc hợp đồng tín dụng ( vay vốn ngân hàng ) bị vô hiệu , hoặc hợp đồng thế chấp bị vô hiệu . Trong một bản án dân sự của tòa tối cao hủy hợp đồng thế chấp , nhưng không phán quyết về việcha65u quả pháp lí của nó  ( ví dụ theo bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng nếu bị vô hiệu thì hai bên sẽ trả lại cho nhau những gì đã nhận . vậy thì hợp đồng thế chấp bị vô hiệu có nghĩa là : Ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khách hàng , khách hàng sẻ trả lại cho ngân hàng số tiền đã vay ban đầu mà không có lãi phát sinh . Vậy trong trường hợp này sẽ phải xử lí như thế nào ? Hoặc hợp đồng tín dụng bị vô hiệu thì hợp đồng thế chấp có bị vô hiệu không ?

        Rất mong sự giúp đỡ của luật sư                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

    Cập nhật bởi KhacDuy25 ngày 29/06/2013 09:18:30 CH chỉnh hình thức trình bày
     
    18636 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #272477   29/06/2013

    ngocloan1990
    ngocloan1990
    Top 150
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:20/06/2013
    Tổng số bài viết (486)
    Số điểm: 3699
    Cảm ơn: 237
    Được cảm ơn 226 lần


    Chào bạn !

    bạn viết :

    "Trong một bản án dân sự của tòa tối cao hủy hợp đồng thế chấp , nhưng không phán quyết về việc hậu quả pháp lí của nó"

    Nếu hợp đồng thế chấp bị hủy, thường là do thiếu (hoặc sai) chủ thể ký HĐ hoặc do người nhận UQ tự bảo lãnh cho mình, thì ngân hàng phải trả lại giấy chứng nhận cho người chủ sở hửu.

    Hơp đồng thế chấp bị hủy thì xem như vay không có thế chấp

    trân trọng !

    Cập nhật bởi ngocloan1990 ngày 29/06/2013 07:25:05 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #272582   29/06/2013

    hoada921
    hoada921
    Top 500
    Male
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/04/2011
    Tổng số bài viết (79)
    Số điểm: 641
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 43 lần


    Tôi hiểu rằng bạn đang có 2 nội dung cần giải đáp:

    1. Hợp đồng thế chấp (HDTC) vô hiệu thì hợp đồng tín dụng có vô hiệu? và

    2. Hợp đồng tín dụng (HDTD) vô hiệu thì hậu quả pháp lý của hợp đồng này và HĐTC ra sao?

    Vấn đề thứ nhất, HĐTC vô hiệu.

    Về bản chất, việc thiết lập hợp đồng thế chấp là để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay trong HĐTD. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên cho vay (Ngân hàng) nhận tài sản thế chấp của bên vay (khách hàng), nghĩa vụ trả nợ (gồm đầy đủ gốc, lãi và cả bồi thường thiệt hại (nếu có) của bên vay - đã tồn tại từ trước khi giao dịch này được ký kết) của bên vay (khách hàng) được đảm bảo khả năng thực hiện trên thực tế.

    "Điều 319 BLDS - Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

    1. Nghĩa vụ dân sự có thể được bảo đảm 1 phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại."

    Như vậy, theo phân tích như trên thì hậu quả pháp lý của HDTC vô hiệu theo nguyên tắc chung: "các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu" là: Ngân hàng trả lại tài sản thế chấp - GCNQSDĐ cho khách hàng, nghĩa vụ trả nợ của khách hàng chỉ mất đi khả năng thực hiện nhưng thực tế vẫn phải thực hiện như đã thỏa thuận trong HĐTD, nghĩa là vẫn phải trả cả gốc, lãi phát sinh. Vấn đề hóc búa nhất là dành cho phía ngân hàng, họ không thể phát mại được tài sản thế chấp để thanh toán cho khoản nợ.

    Nhầm lẫn của bạn trong thắc mắc đã nêu cũng chính là ở đây, nghĩa vụ trả gốc, lãi của khách hàng đã tồn tại trước khi hợp đồng thế chấp được thiết lập, nên dẫu có vô hiệu, khách hàng vay vẫn phải trả đủ gốc và lãi như đã thỏa thuận, tình trạng không lãi không phải là tình trạng ban đầu của giao dịch thế chấp được xác lập.

    1 minh chứng cho thực tiễn này đã được dẫn ra và bình luận trong cuốn "Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" của tác giả Đỗ Văn Đại, cụ thể như sau:

    "Tóm tắt bản án số 30 (bản án số 112/2007/DSPT ngày 21/05/2007 của TAND Tp Hà Nội):
    Vào ngày 13/06/2006, ông Cầm có cho vợ chồng anh Tuấn vay 400.000.000 đồng có thế chấp là căn nhà thuộc quyền sở hữu của vợ chồng anh Tuấn. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc trả nợ, ông Cầm và vợ chồng anh Tuấn còn lập ra một hợp đồng mua bán nhà và một giấy ủy quyền. Theo hợp đồng mua bán nhà thì vợ chồng anh Tuấn bán cho ông Cầm căn nhà thuộc quyền sở hữu của vợ chồng anh Tuấn với giá 400.000.000 đồng. Theo giấy ủy quyền thì vợ chồng anh Tuấn ủy quyền cho ông Cầm được toàn quyền mua bán, sang tên căn nhà. Tòa án đã xác định việc thế chấp không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và chưa được đăng ký giao dịch bảo đảm nên vô hiệu. Ngoài ra, Tòa án cũng xác định hợp đồng mua bán và ủy quyền là giả tạo nên cũng vô hiệu. Tuy vậy, Tòa án công nhận việc vay nợ giữa ông Cầm và vợ chồng anh Tuấn và buộc vợ chồng anh Tuấn phải trả nợ gốc và lãi phù hợp với quy định của pháp luật.

    Ý nghĩa bản án số 30: Sự vô hiệu của hợp đồng thế chấp (hợp đồng phụ) không đương nhiên làm vô hiệu hợp đồng cho vay (hợp đồng chính) (khẳng định quy định tại Khoản 3 Điều 410 BLDS 2005)."
     

    Vấn đề thứ 2, HĐTD vô hiệu

    Cũng như bạn đã nói, Điều 137 BLDS quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

    Như vậy, nếu theo nguyên tắc chung này, đối với HĐTD, nếu HĐ vô hiệu toàn bộ theo quy định của pháp luật, bên vay phải trả lại tiền vay không lãi cho bên cho vay (đúng với tính chất "tình trạng ban đầu" của tài sản vay - tất nhiên tình trạng ban đầu này được hiểu 1 cách tương đối về giá trị, mà không phải về trạng thái tồn tại nguyên gốc của tài sản vay - nôm na là chính những tờ tiền được nhận, đúng số seri...).

    Thực trạng này tương tự như các giao dịch cho vay đồng ngoại tệ, giao dịch bị tuyên vô hiệu và bên cho vay chỉ nhận lại được tiền gốc, không lãi. Minh chứng như 1 vụ việc được đăng tải ngày 29/8/2012 trên trang phapluattp.vn như sau:

    "...Tháng 10-2007, bà T. cho bà C. vay một số tiền Việt Nam đồng cùng 15.000 USD với lãi suất 2%/tháng. Sau một thời gian, bà C. không có khả năng trả nợ nên bị bà T. khởi kiện yêu cầu phải trả cả gốc lẫn lãi.

    Giữa năm 2011, TAND tỉnh Khánh Hòa xử sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của bà T., tuyên buộc bà C. phải trả gốc lẫn lãi cả hai khoản vay bằng tiền Việt Nam đồng và USD nói trên. Sau đó, VKSND tỉnh này đã kháng nghị theo hướng tuyên hợp đồng vay mượn trên vô hiệu phần liên quan đến ngoại tệ vì vi phạm điều cấm của pháp luật.

    ...Mới đây, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Khánh Hòa, sửa án sơ thẩm trong một vụ đòi nợ theo hướng bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 15.000 USD đã vay. Tòa còn tuyên tịch thu sung công gần 60 triệu đồng tiền lãi mà nguyên đơn đã nhận của bị đơn cho khoản vay ngoại tệ này."

    Bên cạnh đó, tác giả cũng nhận định thêm:

    "- Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ chứ không làm hợp đồng phụ vô hiệu. Chấm dứt và vô hiệu là hai khái niệm khác nhau: vô hiệu buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu còn chấm dứt chỉ triệt tiêu hợp đồng trong tương lai, các bên không phải khôi phục lại tình trạng ban đầu.

    -Sự vô hiệu của hợp đồng chính không làm chấm dứt các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự."

    (Ở đây, hợp đồng chính là HĐTD, hợp đồng phụ là HĐTC).

    Để hiểu rõ hơn quan điểm này, bạn tham khảo thêm Điều 15 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm:

    “Điều 15 Quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm:
    1- Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được đảm bảo thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

    2-Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

    3- Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

    4- Giao dịch bảo đảm bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    5. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.”

    Theo đó, khẳng định lại 1 lần nữa, HĐTD vô hiệu không đương nhiên kéo theo HĐTC vô hiệu, thậm chí, tài sản thế chấp có thể được đem ra xử lý để đảm bảo thanh toán nghĩa vụ trả gốc đã vay.

    --

    Đôi lời như trên.

    “Tôi không có sự thông minh đặc biệt nào, tôi chỉ tò mò một cách đam mê.”

    _Albert Einstein_

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hoada921 vì bài viết hữu ích
    lamlecao (01/07/2013) muoiot (20/09/2016)