giúp em trường hợp này...

Chủ đề   RSS   
  • #290862 11/10/2013

    kenx00

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/10/2013
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    giúp em trường hợp này...

    Gửi các anh/chị luật sư.

    Tình huống này thì mình giải quyết thế nào :

    Ông B có giấy giấy chừng nhận quyền sơ hữu nhà năm 1992...

    Ông B bán cho Bà H có hợp đồng công chứng năm 1995

    Năm 1997 Bà H sáng nước ngoài định cư nên đã cho căn nhà trên cho cha mình là ông N...( có giấy tờ pháp lý )

    Năm 2007 ông N chết..

    Năm 2012 Ông H Con trai ông N xin cấp giấy chứng nhận mới ...

    có được hay ko...? và trình tự như thế nào...

    Em cảm ơn trước...

     
    2722 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #290877   11/10/2013

    tonphong
    tonphong
    Top 500
    Male
    Mầm

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:22/09/2012
    Tổng số bài viết (109)
    Số điểm: 920
    Cảm ơn: 12
    Được cảm ơn 55 lần


    theo như bạn nói thì bà H và ông H la hai chị em, trong trường hợp này theo luật quy định về di sản thừa kế khi ông N qua đời mà không để lại di chúc thì cả ông H và H lại rơi vào hàng thừa kế thứ nhất, trong trường hợp này ông H cần liên lạc với bà H để cùng khai nhận di sản thừa kế hoặc không nhận di sản thừa kế

    sau khi đã nhận di san thừa kế xong thì ông H đã có thể xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. trình tụ thủ tục được quy định như sau tại Điều 135 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định: 


    1. Hộ gia đình, cá nhân nộp tại UBND xã, thị trấn nơi có đất 1 bộ hồ sơ gồm có: 

    a) Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

    b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có). 

    c) Văn bản ủy quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có). 

    2. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau: 

    a) UBND xã, thị trấn có trách nhiệm thẩm tra, xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận 
    quyền sử dụng đất về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất; trường hợp người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thẩm tra, xác nhận về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt; công bố công khai danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trụ sở UBND xã, thị trấn trong thời gian 15 ngày; xem xét các ý kiến đóng góp đối với các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gửi hồ sơ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng TN&MT. 

    b) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ghi ý kiến đối với trường hợp không đủ điều kiện; trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; gửi hồ sơ những trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính đến phòng TN&MT. 

    c) Phòng TNMT có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trình UBND cùng cấp quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất. 

    d) Thời gian thực hiện các công việc quy định tại các điểm a, b và c khoản này không quá 55 ngày làm việc (không kể thời gian công bố công khai danh sách các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thời gian người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính) kể từ ngày UBND xã, thị trấn nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

    3. Đối với trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trang trại thì trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải thực hiện rà soát hiện trạng sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Nghị định này. 

     

     
    Báo quản trị |