DanLuat 2015

Giải đáp giùm những nhận định sau đây

Chủ đề   RSS   
  • #157419 26/12/2011

    quangvu1604

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:28/11/2011
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 280
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Giải đáp giùm những nhận định sau đây

     

    Nhận định sau đây đúng hay sai, hãy giải thích:

     

    1. 1/Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật
    2. 2/Mọi quan hệ xã hội đều là quan hệ pháp luật.
    3. 3/Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật.
    4. 4/trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam bao gồm cả trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm của tổ chức.
    5. 5/Hình phạt tù chung thân và tử hình được áp dụng với mọi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự.

    QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 385/2014/DS-GĐT NGÀY 23/09/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

    TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

    Họp phiên tòa ngày 23/9/2014 tại trụ sở Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

    Nguyên đơn:

    1- Bà Phan Thị Kim, sinh năm 1958;

    2- Ông Nguyễn Văn Hồng, sinh năm 1953;

    Cùng trú tại: 1/1A, ấp Long Chí, xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    3-  Anh Nguyễn Văn Bô, sinh năm 1984; trú tại: số 237, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

    Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh Thúy, sinh năm 1960; trú tại: 69/3c, đường Phạm Văn Chiêu, phường 14, quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Phường - Phó giám đốc Chi nhánh huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền ký ngày 05/7/2010.

    2. Chị Phạm Thị Ngọc Thùy; sinh năm 1988; trú tại: 69/3c, đường Phạm Văn Chiêu, phường 14, quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Chị Lưu Thị Kim Khánh, sinh năm 1988

    4. Anh Nguyễn Văn Bách, sinh năm 1985; cùng trú tại: tổ 2, ấp cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

    5. Chị Phạm Thị Cúc, sinh năm 1985

    6.  Anh Nguyễn Văn Bai, sinh năm 1986; cùng trú tại: Tổ 4, ấp 5, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

    7. Anh Phạm Nguyễn Minh Trúc, sinh năm 1976; trú tại: số 403, ấp Long Chí, xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    8. Chị Phan Thị Phượng, sinh năm 1963; Trú tại: 9/6 ấp Long Hải, xã Trường Tây, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    9. Anh Nguyễn Văn Bô, sinh năm 1984

    10. Chị Nguyễn Thanh Phương Trâm, sinh năm 1983; cùng trú tại: sổ 237, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

    11. Anh Vũ văn Thắng, sinh năm 1975

    12. Chị Nguyễn Thị Chung Thủy, sinh năm 1976; cùng trú tại: số 199, đường Võ Thị Sáu, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

    NHẬN THẤY

    Nguyên đơn bà Phan Thị Kim, ông Nguyễn Văn Hồng trình bày: Năm 2005 và năm 2006 Công ty TNHH Sản xuất-Thương mại-Dịch vụ Kim Hồng do ông, bà làm chủ có thế chấp tài sản vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh số tiền 8,3 tỉ đồng, sau đó có trả và còn nợ lại 6.750.000.000 đồng. Do kinh doanh thua lỗ, không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng. Khoảng tháng 10/2007 ông, bà đến thành phố Hồ Chí Minh tìm nguồn vốn vay để trả nợ. ông, bà không quen biết ai, nhưng bà Lê Thị Thanh Thúy có bộ hồ sơ của Công ty và chủ động đến gặp ông, bà và cho rằng không thể vay được tiền vì Công ty đang nợ tiền và được đưa lên mạng, muốn vay phải sang tên Công ty lại cho bà Thúy và ký nhận nợ khống 9,5 tỉ đồng, bà Thúy có trách nhiệm trả nợ cho Công ty, sau khi trả nợ xong lấy tài sản thế chấp ra và đem về thành phố Hồ Chí Minh thế chấp vay 20 tỉ đồng và thỏa thuận bà Thúy được hưởng hoa hồng 10% trên số tiền vay. Ông Hồng, bà Kim đồng ý. Sau khi thống nhất, ngày 05/3/2008 hai bên ký’Hợp đồng chuyển nhượng nhà máy cán thép và quyền sử dụng đất diện tích 28.145m2” trị giá 30 tỷ đồng, nhưng đến ngày 07/3/2008 ông Hồng, bà Kim mới viết giấy nhận nợ và ngày 07/3/2008 ký nhận nợ tiếp 2,5 tỷ đồng. Tổng cộng 9,5 tỷ đồng.

    Tại hợp đồng “đặt cọc” ngày 07/3/2008 toàn bộ tài sản Công ty và tài sản cá nhân của gia đình ông Hồng, bà Kim, anh Bô trị giá 17 tỷ đồng, cùng thời gian 02 bên ký một “ Biên bản bàn giao nhà, đất, tài sản”. Ngày 10/3/2008 bà Thúy trả được tiền lãi cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành 700.000.000 đồng và kéo dài cho đến tháng 6/2008 bà Thúy thông báo với ông Hồng, bà Kim là không vay được tiền ở thành phố Hồ Chí Minh như đã thỏa thuận, nếu ông Hồng, bà Kim bán Công ty và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà mua lại.

    Ngày 20/6/2008 ông Nguyễn Văn Hồng, bà Phan Thị Kim ký tiếp hợp đồng lần 2, sang nhượng nhà máy cán thép và quyền sử dụng đất, diện tích 28.145m2 cho bà Lê Thị Thanh Thúy, trị giá hợp đồng 17 tỷ đồng và hai bên thỏa thuận bà Thúy có trách nhiệm trả nợ vay cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 6/750.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh, đồng thời trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 20/6/2008 bà Thúy có trách nhiệm trả số tiền còn lại cho ông Hồng, bà Kim. Cùng ngày 20/6/2008 tại nhà ông Nguyễn Văn Hồng, số 1/1A, ấp Long Chí, xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ông Nguyễn Văn Hồng, bà Phan Thị Kim cùng với bà Lê Thị Thanh Thúy ký “ Giấy thỏa thuận trả nợ”. Nội dung giấy thỏa thuận trả nợ, hai bên xác định: Các họp đồng sang nhượng nhà mấy cán thép và chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng đặt cọc; họp đồng chuyển nhượng vốn; các phiếu thu,chi, giấy nhận tiền bên ông Hồng, bà Kim và bà Thúy ký trước đâyy không có giá trị, bên ông Hồng, bà Kim không nhận và không nợ bà Thúy một khoản tiền nào khác. Các loại giấy tờ ký trước đây giữa ông Hồng, bà Kim với bà Thúy nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho và Thúy để tìm nguồn vốn khác cho Công

    ty.

    Đối với 03 phần đất tọa lạc tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, là tài sản cá nhân, không nằm trong tài sản mua bán theo hợp đồng sang nhượng nhà máy cán thép ký ngày 20/6/2008. Vợ chồng ông, bà Hồng- Kim đã sang nhượng 03 phần đất trên để trả một phần nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng.

    Ông Nguyễn Văn Hồng, bà Phan Thị Kim yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đon và bà Lê Thị Thanh Thúy trả lại toàn bộ quyền sở hữu tài sản và các giấy tờ, hồ sơ pháp lý của Công ty; chuyển trả 100% vốn Điều lệ trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Nguyễn Văn Hồng và Phan Thị Kim đứng tên; trả lại toàn bộ nhà máy cán thép, quền sử dụng đất thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn- sản xuất- thương mại- dịch vụ Kim Hong’s như nguyên trạng ban đầu; thanh lý tất cả các họp đồng mua bán, sang nhượng và đặt cọc. Yêu cầu bà Lê Thị Thanh Thúy bồi thường thiệt hại do sử dụng máy móc, thiết bị hao mòn từ khi bà Thúy tiếp nhận cho đến khi giải quyết xong vụ kiện; tiền lợi nhuận từ hoạt động sản xuấtkinh doanh; tiền lãi phát sinh tại Ngân hàng kể từ ngày bà Thúy ký họp đồng sang nhượng nhà máy cán thép ngày 20/6/2008 cho đến khi giải quyết xong vụ kiện. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại 4.190.218.000 đồng.

    Bị đom bà Lê Thị Thanh Thúy không đồng ỷ với yêu cầu của ông Hồng, bà Kinh, bà Thủy trình bày: Công ty trách nhiệm hữu hạn-sản xuất-thưcmg mại-dịch vụ Kim Hong’s, ông Hồng, bà Kim tranh chấp tài sản của bà, được Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3900336833, đăng ký, thay đổi lần thứ 6, ngày 25/10/2008. Toàn bộ tài sản mua bán theo đúng họp đồng đặt cọc ký ngày 07/3/2008, nhưng phía ông Hồng, bà Kim chỉ bàn giao tài sản theo biên bản bàn giao ngày 03/11/2008, chỉ tài sản còn lại gồm 03 phần đất tọa lạc tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh chưa bàn giao theo họp đồng đặt cọc. Hợp đồng mua bán tài sản giữa 2 bên trị giá 17 tỷ đồng, bà đã thanh toán cho ông Hồng, bà Kim được số tiền 10,2 tỷ đồng, trong đó trả trực tiếp cho vợ, chồng ông Hồng số tiền 9,5 tỷ đồng, trả tiền lãi cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 700.000.000 đồng. Bà đã nhận tải sản vợ, chồng ông Hồng bàn giao ngày 03/11/2008, không phải nhận ngày 20/6/2008 như ông Hồng, bà Kim đã trình bày, bà không chấp nhận yêu cầu của ông Hồng, bà Kim. Bà yêu cầu ông Hồng, bà Kim tiếp tục giao cho bà 03 phần đất theo đúng hợp đồng đặt cọc lý ngày 07/3/2008.

    Bà Thúy cho rằng giấy thỏa thuận trả nợ ký ngày 20/6/2008, chữ ký là của bà, mốc dấu đúng là của Công ty, nhưng nội dung giấy thỏa thuận đó là giả mạo do in sao nhiều lần mà có được. Ngày 04/12/2009 và ngày 29/12/2009 bà Thúy và Luật sư Trần Thành, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà có đon kiến nghị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đưa “ Giấy thỏa thuận trả nợ” ký ngày 20/6/2008, “ Giấy cam kết trả nợ” ký ngày 05/12/2008 đi giám định tại Viện khoa học hình sự- Bộ Công An với nội dung như sau: “ Chữ kỷ và đóng dấu trước thời điểm in văn bản hay sau khi in văn bản? Dấu đóng có đúng thời điểm in văn bản không? Giấy ỉn văn bản loại giấy gì? Có cùng thời điểm với giấy ỉn văn bản vào tháng 6/2008? Mặt trước và mặt sau văn bản có in cùng thời điếm không? Co chữ và dãn dòng của văn bản có phủ họp không? Có chèn thêm chữ ở đoạn trổng nào trước đó không? ”

    Sau đó bà Thúy yêu cầu giám định bổ sung những nội dung sau: Giám định lại chữ kỷ của bà Lê Thị Thanh Thủy, dấu của Công ty TNHH SX-TM-DV Kim Hồng’s, mộc dấu tên Lê Thị Thanh Thủy tại 02 văn bản: 01 là “ Giấy thỏa thuận trả nợ”, kỷ ngày 20/6/2008 và 01 “ Giấy cam kết trả nợ”, ký ngày 05/12/2008 có phải của bà Thúy và mộc dấu của Công ty không? Giám định thời điếm ký 02 vãn bản trên có trũng với ngày kỷ không? Giám định CPU của máy vỉ tính tại nhà bà Kim, ông Hồng dùng để đánh văn bản là “ Giấy thỏa thuận trả nợ”, ký ngày

    420/6/2008; Giám định CPU của mảy vi tính tại Công ty TNHH- SX-TM-DV Kim Hong’s dùng đế đánh văn bản là “ Giấy cam kết trả nợ”, kỷ ngày 05/12/2008, cps phải 02 CPU này dùng đế đánh 02 văn bản trên không? Giám định có chèn dòng để in nhiều lần trong văn bản không? Giám định thời gian ký 02 văn bản trên trước khi in hay in xong mới ký? Giảm định loại giấy in có trùng với giấy ỉn của Công ty sử dụng vào tháng 6/2008 và thảng 12/2008 không? Giảm định “ Giấy thỏa thuận trả nợ”, ký ngày 20/6/2008 mặt trước và mặt sau có in cùng ngày không?

    Lời khai của chị Phạm Thị Ngọc Thủy: Chị là con ruột của bà Thúy. Trước đó, mẹ chị bà Lê Thị Thanh Thúy có hợp đồng sang nhượng tài sản và quyền sử dụng đất, đồng thời có nhận chuyển nhượng 95% vốn Điều lệ vói ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim. Khoảng tháng 10/2008 chị ký hợp đồng nhận chuyển nhượng 5% phần vốn còn lại với ông Nguyễn Văn Hồng, số tiền

    500.000.000 đồng, việc giao tiền nhận chuyển nhượng vốn thế nào là do bà Thúy và ông Hồng, bà Kim giải quyết, chị không rõ. Chị thống nhất ý kiến với bà Thúy, không đồng ý với yêu cầu của bà Kim, ông Hồng.

    Người cỏ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập Chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Vãn Phường trình bày: Ngày 26/01/2005 bà Phan Thị Kim và ông Nguyễn Văn Hồng ký hợp đồng tín dụng số 2005/11/00000/96 để vay số tiền 4,6 tỷ đồng, tiếp đến ngày 28/3/2006 bà Kim, ông Hồng tiếp tục ký hợp đồng tín dụng số 2006/11/0000159/HĐTD để vay số tiền 3,7 tỷ đồng. Tổng cộng 8,3 tỷ đồng. Khi vay vốn tại Ngân hàng, ông Hồng, bà Kim thế chấp những giấy tờ sau để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, gồm: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất( GCN-QSDĐ) xây dựng nhà máy cán thép diện tích 20.760m2; 01 GCN- QSDĐ do Nguyễn Văn Bô đứng tên, diện tích 342m2; 01 GCN-QSDĐ diện tích 1.272,8m2; 01 GCN-QSDĐ diện tích 253m2; 01 chứng thư thẩm định giá tháng 01/2006; 01 hóa đơn mua lò luyện thép, trị giá 800.000.000 đồng; 01 hóa đơn lắp đặt trạm biến thế, trị giá 756.797.000 đồng.

    Sau khi vay vốn ông Hồng, bà Kim có trả được một phần nợ vay và tiền lãi cho Ngân hàng, nhưng vẫn còn nợ lại. Từ ngày 26/02/2009 đến ngày 13/5/2009 ông Hồng, bà Kim xin rút 04 GCN-QSDĐ, có diện tích 1.272,8m2, 2.166m2; 1.659m2 và 253m2 để sang nhượng cho người khác được số tiền 368.944.500 đồng trả nợ vay và tiền lãi cho Ngân hàng. Hiện nay ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim còn nợ tiền gốc 6.480.000.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tính đến ngày 20/7/2010 là 3.483.721.800 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 9.963.721.800 đồng. Ông Phường yêu cầu bà Phan Thị Kim và ông Nguyễn Văn Hồng có trách nhiệm trả nợ số tiền trên cho Ngân hàng.

    Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền trình bày: Bà là mẹ của chị Nguyễn Thanh Phương Trâm và anh Nguyễn Văn Bô. Khoảng tháng 5/2009 bà trực tiếp sang nhượng của ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim một diện tích đất rộng 05m, dài hơn 100m, với giá 50.000.000 đồng cho con là chị Trâm, anh Bộ, đất tọa lạc tại ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ngày 02/6/2009 chị Nguyễn Thanh Phương Trâm và anh Nguyễn Văn Bô được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà không đông ý giao diện tích đất đã sang nhượng theo yêu cầu của bà Thúy.

    Chị Phan Thị Phương trình bày: Tháng 5/2009 chị trực tiếp sang nhượng của ông Nguyễn văn Hồng và bà Phan Thị Kim một diện tích đất rộng dài 17m, dài hơn 100m, với giá 150.000.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị không đồng ý giao diện tích đất đã sang nhượng theo yêu cầu của bà Thúy, vì phần đất trên chị sang nhượng hợp pháp và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy theo quy định của pháp luật.

    Anh Phan Nguyễn Minh Trúc trình bày: Tháng 5/2009 mẹ anh bà Nguyễn Ánh Tuyết trực tiếp sang nhượng của ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim một diện tích đất rộng 22m, dài hơn 100m, với giá 200.000.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ngày 02/6/2009 anh được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh không đồng ý giao diện tích đất đã sang nhượng theo yêu cầu của bà Thúy.

    Anh Nguyễn Văn Bai và chị Phan Thị Cúc trình bày: Tháng 5/2009 anh, chị trực tiếp sang nhượng của ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim một diện tích đất rộng 05m, dài hơn 100m, với giá 50.000.000 đồng, đất tọa lạc tại ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tình Tây Ninh. Ngày 02/6/2009 được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh, chị không đồng ý giao diện tích đất đã sang nhượng theo yêu cầu của bà Thúy.

    Anh Vũ Văn Thắng và chị Nguyễn Thị Chung Thủy trình bày: Ngày 12/10/2009 anh, chị có họp đồng đặt cọc sang nhượng với bà Lê Thị Thanh Thúy phần đất có diện tích 7.043m2, mục đích sử dụng vào sản xuất kinh doanh, đất tọa lạc tại ấp Cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngày 31/12/2009 anh, chị ký họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên với bà Thúy, họp đồng được công chứng tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh Tây Ninh, anh chị giao đủ số tiền sang nhượng 1,2 tỷ đồng cho bà Thúy. Ngày 12/4/2010 anh Thắng không yêu cầu Tòa án giải quyết chung trong vụ kiện mà vợ chồng anh chịvới tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vợ chồng anh khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

    Tại bản án dân sự sơ thẩm số 44/2010/DSST ngày 26/8/2010 Tòa án nhân dân huyên Tân Biên quyết định:

    Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Bô.

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thủy và chị Phạm Thị Ngọc Thủy trả lại cho ông Nguyễn Vãn Hồng và bà Phan Thị Kim gồm những tài sản sau( có chứng thư thẩm định photo kèm theo):

    1/ về quyền sử dụng đất: Thửa đất số 1.225, tờ bản đồ sổ 2A, diện tích 20.760m2, được UBND tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ T00928 QSDĐ, ngày 19/8/2004, tứ cận: Đông giáp đường đất; Tây giáp đất Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất, thưcmg mại, dịch vụ Kim Hồng’s; Nam giáp đất ông Dân, bà Kim; Bắc giáp đất ông Sy, ông Ken. Thửa đất sổ 1.808, tờ bản đồ sổ 2A, diện tích 7.043m2, được UBND tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sư dụng đất số T01199 QSDĐ, ngày 28/5/2008, tứ cận: Đông giáp đường đất rộng 05m; Tây giáp đất ông Dân; Nam giáp đường đất rộng 08m; Bắc giáp đất Công ty TNHH Sản xuất-TM-DV Kim Hong’s. Đất tọa lạc tại ấp cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Trên diện tích đất này gồm có các công trình xây dựng; dây chuyền, máy móc thiết bị cán luyện thép.

    2/ Công trình xây dựng gồm: 01 nhà xưởng cán thép; 01 nhà xưởng nấu luyện thép; 02 văn phòng làm việc; 01 nhà bảo vệ; dãy nhà căng tin, gồm có: 01 nhà căng tin, 01 kho, 02 phòng ở, 01 phòng tiếp khác, 01 mái che, 01 nhà ở của công nhân gồm 12 phòng, 01 dãy nhà vệ sinh, gồm 10 phòng, 01 dãy nhà tắm, gồm 05 phòng, 01 mái che, 02 nhà mát, 01 nhà để xe, 03 hồ nước; 01 cổng chỉnh, cổng phụ; hàng rào, sản đả, sân bê tông; 01 mái che phía sau nhà xưởng cán thép; 02 sàn thao tác khu nấu luyện thép.

    3/ Máy móc, thiết bị:

    a/ Dây chuyền luyện cán thép gồm: 02 xe nâng 2,5 tấn hiệu Komatsu; 12 quạt thổi công nghiệp; 02 máy cán thép; các chi tiết mảy cán thép thô; 03 máy cắt sắt thành phẩm; 01 lò nung phôi; 01 hệ thống dây dẫn cấp điện nhà xưởng cán thép.

    b/ Máy móc thiết bị xưởng nấu luyện thép: 01 trạm điện hạ thế 3.000KVA + đường dây điện nhà xưởng nấu luyện thép; 02 lò nung trung tần; 01 mảy phát điện; 01 máy dập sắt phế lỉệu( máy ép thủy lực); 01 hệ thống bơm nước cấp; 02 bồn thép chứa nước, mỗi bồn có khối lượng 12.000 lit; 173 khuôn đức phôi.( trị giá toàn bộ thiết bị, dây chuyền sản xuất nhà máy cán thép và quyền sử dụng đất theo Chứng thư thẩm định giả là 24.248.797.000đ).

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thúy, Phạm Thị Ngọc Thùy trả cho ông Nguyễn Văn Hông và bà Phan Thị Kim bản chính các loại giấy tờ có liên quan như sau: Giấy chứng nhận thẩm duyệt về thiết kế và thiết bị phòng cháy, chữa cháy; giấy chứng nhận đăng ký thuế( mã so thuế) của Công ty; giấy chímg nhận đăng ký mã số xuất nhập khẩu; giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số TOI 199 QSDĐ, thửa sổ 1.808, tờ bản đồ sổ 2A, diện tích 7.043m2, được UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28/5/2008; giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu; 01 mộc dấu tròn Công ty TNHH sản xuất TMDV Kim Hong’s, đãng ký ngày 12/2/2007 tại Phòng Cảnh sát quản lỷ hành chính về trật tự xã hội- Công an Tây Ninh.

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thúy và chị Phạm Thị Ngọc Thùy bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim do sử dụng hao mòn một sổ thiết bị, dây chuyển sản xuất giảm đi theo thẩm định giá tại thời điểm tháng 4/2010 so với thảng 11/2008, giá trị tài sản chênh lệch phải bồi thường như sau: Nhà xưởng nau luyện thép chênh lệch 59.500.000đ; sàn thao tác khu vực nấu luyện 1 chênh lệch 13.475.000; sàn thao tác khu vực nấu luyện 2 chệnh 13.475.000đ; lò nung trung tầm chênh lệch 270.000.OOOđ; trạm hạ thế3.000KVA + đường dây điện nhà xưởng nấu luyện chênh lệch 142.000.000đ; máy phát điện chênh lệch 1.700.000đ; mảy dập sắt phế liệu( Máy ép thủy lực) chênh lệch

    16.000.000d; hệ thống bơm nước cấp chênh lệch 7.192.500đ; khuôn đúc phôi chênh lệch 73.903.200đ. Tổng cộng 597.245.700đ( Năm trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi lăm ngàn, bảy trăm đồng).

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thúy và chị Phạm Thị Ngọc Thủy bồi thường cho ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim tài sản bị thiệt hại như sau: Haỉ(02) nhà mát bị thiệt hại, trị giá 3.493.280đ; phần tường hàng rào bị đỗ, trị giá 19.242.720; phần tường rào bị mứt, trị giá 1.800.000đ; 01 phần mải che phía sau nhà xưởng cán thép bị sụp, trị giá 6.222. OOOđ; 01 chiếc xe nâng hiệu Komatsu, kỷ hiệu PG25L, trị giá 23.215.300đ; 04 cây sau Sam banh, 01 cây Lài, 02 cây Sang sữa, 02 cây hoa Giấy, trị giả 6.100.000đ; nhà để xe phần nền bị lún, trị giá 1.386.000đ. Tổng cộng 61.459.300đ( Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm mười chín ngán, ba trăm đồng). Buộc bà Lê Thị Thanh Thủy và chị Phạm Thị Ngọc Thủy bồi thường hao mòn tài sản 597.245.700đ và thiệt hại tài sản 61.459.300đ. Tổng cộng 658.705.000đ (Sáu trăm lăm mươi tám triệu, bảy trăm lẻ năn ngàn đồng).

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thúy và chị Phạm Thị Ngọc Thùy có trách nhiệm trả nợ tiền lãi cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyệnHòa Thành, tình Tây Ninh số tiền 1.981.926.500đ (Một tỷ, chỉn trăm tám mươi mot triệu, chín trăm hai mươi sáu ngàn, năm trăm đồng).

    Buộc hà Lê Thị Thanh Thúy trả cho anh Nguyễn Văn Bô thửa đất sỗ 142, tờ bản đồ sổ 20, diện tích 342m2, được UBND huyện Tân Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ H00056/3328/04/HĐ-CN, ngày 03/02/2005, tứ cận: Đông và Nam giáp Công ty TNHHSX-Thương mại-DVKim Hong’s; Tây giáp quốc lộ 22B; Bắc giáp đất ông Ken. Đất tọa lạc tại ấp cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

    Kiến nghị Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh thu hồi 02 giấy chứng nhận đăng ký kỉnh doanh Công ty TNHH cỏ 02 thành viên trở lên, trong đó có 01 giấy mang sổ 4502000231, đăng kỷ, thay đổi lần thứ 5, ngày 13/3/2008, do ông Nguyễn Văn Hồng và bà Lê Thị Thanh Thủy đứng tên thành viên góp von; 01 giấy mang số 3900336833, đăng ký, thay đổi lần thứ 6, ngày 25/10/2008, do chị Phạm Thị Ngọc Thủy và bà Lê Thị Thanh Thủy đứng tên thành viên góp von.

    Không chấp nhận ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kìm yêu cầu bà Lê Thị Thanh Thủy bồi thường thiệt hại do sử dụng hao mòn gồm: 01 nhà văn phòng làm việc, trị giả 12.364.800đ; nhà bảo vệ, trị giá 1.452.000đ; 03 hồ chứa nước, trị giả 2.753.355đ; 01 mái che nhà xưởng cán thép, trị giá 5.880.000đ; 02 bồn thép chứa nước, trị giả 5.800.000đ. Tổng cộng 28.250.155đ( Hai mươi tám triệu, hai trăm lãm mươi ngàn, một trăm lăm lăm đồng).

    Ồng Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim chủ Công ty TNHH SX- Thưcmg mạỉ-DVKim Hong’s có trách nhiệm trả cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh sổ tiền vay còn nợ 6.480.000.000đ, theo 02 họp đồng tín dụng sổ 2005/11/0000096/HĐ-TD, ngày 26/01/2005 và hợp đồng tín dụng sổ 2006/11/0000159/HĐ-TD, ngày 28/3/2006, tiền lãi đến ngày 20/6/2008 là 801.795.300đ và 700.000.000d bà Thúy đã nộp thay trước đây, tiền lãi phải trả là 1.501.795.300đ. Tống cộng tiền gốc và tiền lãi 7.981.795.300đ(Bảy tỉ, chỉn trăm tám mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lãm ngàn, ba trăm đồng).

    Đổi với yêu cầu của anh Vũ Văn Thảng và chị Nguyễn Thị Chung Thủy yêu cầu bà Lê Thị Thanh Thúy hoàn trả lại số tiền sang nhượng quyền sử dụng đất( đất xây dụng nhà máy cán thép) 1.200.000.OOOđ và tiền lãi theo quy định của pháp luật, đã giải quyết bằng môt vụ kiện dân sự khác( anh Thắng, chị Thủy khởi kiện yêu cầu anh Thắng, chị Thủy đã giải quyết bằng một quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Chị Lưu Thị Kim Khánh và anh Nguyễn Vãn Bách được quyền quản lý, sử dụng diện tích 615m2, tờ bản đồ số 58, thửa sổ 208 và 211, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ

    9HO 3720/1579/2009/HĐ-CNHL và H03717/1583/2009/HĐ-CNHL, củng ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp đất Phan Thị Cúc dài 119m; Tây giáp đất Nguyên Thanh Phương Trâm dài 119m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giá trị tài sản 100.000.000d. Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Phạm Thị Cúc và anh Nguyễn Văn Bai được quyền quản lý, sử dụng diện tích 605m2, tờ bản đồ sổ 58, thửa số 207 và 210, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp 02 giấy chứng nhận quyển sử dụng đất số HO3721/1580/2009/HĐ-CNHL và H037Ỉ8/Ỉ584/2009/HĐ-CNHL, cung ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp thửa 114,121 dài 119m; Tây giáp đất Lieu Thị Kim Khảnh dài 119m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giá trị tài sản 100.000.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Anh Phạm Minh Trúc được quyền quản lý, sử dụng diện tích 2.462, lm2, tờ bản đồ sổ 58, thửa sổ 206, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03693/Ỉ467/2009/HĐ-CNHL, ngày 27/5/2009, có tứ cận: Đông giáp đất bà Nguyễn Thị Gắng dài 114m; Tây giáp đất ông Xì( hàng nước đá) dài 114m; Nam giáp đất ông Chiến dài 20m; Băc giáp đường 718 dài 22m.Trên đất có 01 cây dừa( có trái), 03 cây ổi, 01 cây trứng cá, 02 cây nhãn, 01 cây dầu( Đường kỉnh 20cm và 50cm). Giá trị toàn bộ tài sản 440.595.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Phan Thị Phượng được quyền quản lý, sử dụng diện tích 1.980m2, tờ bản đồ sổ 58, thửa sổ 138 và 139, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chímg nhận quyền sử dụng đất sổ H03722/158Ỉ/2009/HĐ-CNHL và H03716/1586/2009/HD-CNHL, cũng ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp đất chị Nguyên Thanh Phương Trảm dài 118m; Tây giáp thửa 114 và 122 dài 118m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 17m; Bắc giáp thửa 114 dài 17m. Giá trị tài sản

    340.000.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Nguyễn Thanh Phương Trâm và anh Nguyễn Văn Bô được quyền quản lý, sử dụng diện tích 625m2, tờ bản đồ số 58, thửa sổ 209 và 212, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so HO3723/1582/2009/HĐ-CNHL và H03719/1585/2009/HD-CNHL, cùng ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp đất chị Lưu Thị Kim Khánh dài 119m; Tây giáp đất chị Phan Thị Phương dài 118m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giá trị tài sản 100.000.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Bà Lê Thị Thị Thanh Thúy, chị Phạm Thị Ngọc Thủy có trách nhiệm trả lại cho bà Phan Thị Kim, óng Nguyễn Văn Hồng tiền chi phí thẩm định, chi phí định giả và giám định sổ tiền 46.136.000đ(Bổn mươi sáu trỉêu, một trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

    Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

    Ngày 30/8/2010, bà Lê Thị Thanh Thúy, chị Phạm Thị Ngọc Thùy có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án.

    Ngày 10/9/2010, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh có đơn kháng cáo quá hạn yêu cầu vợ chồng ông Hồng, bà Kim trả cho Ngân hàng số tiền gốc 9.963.721.OOOđ và tiền lãi phát sinh đến khi ông Hồng, bà Kim trả hết nợ vay.

    Tại bản án dân sự phúc thẩm số 115/2011/DS-PT ngày 06/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định: Sửa án sơ thẩm

    Không chấp nhận yêu cầu kháng cảo của bà Lê Thị Thanh Thủy.

    Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Thị Ngọc Thùy.

    Chấp nhận yêu cầu kháng cảo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chỉ nhánh huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Bô.

    Hủy “Hợp đồng sang nhượng nhà máy cản thép “ lập ngày 20/6/2008 tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triên Nông thôn chỉ nhánh huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh giữa bà Phan Thị Kim, ông Nguyễn Văn Hồng với bà Lê Thị Thanh Thúy( có sự chứng nhận của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, đại diện ông Võ Văn Cõi- Giám đốc).

    1, Buộc bà Lê Thị Thanh Thúy và chị Phạm Thị Ngọc Thủy trả lại cho ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim gồm những tài sản sau( có chứng thư thẩm định photo kèm theo):

    -Về quyền sử dụng đất: Thửa đất sổ 1.225, tờ bản đồ số A, diện tích 20.760m2, được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ T00928QSDĐ, ngày 19/8/2004, tứ cận: Đông giáp đường đất; Tây giáp đất Công ty TNHHSX-TMDVKim Hong’s; Nam giáp đất ông Dân, bà Kim; Bẳc giáp đất ông Sy, ông Ken. Thửa đất so 1.808, tờ bản đồ so 2A, diện tích 7.043m2, được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Nnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T01Ỉ99QSDĐ, ngày 28/5/2008, tứ cận: Đông giáp đường đất rộng 05m; Tây giáp đẩt ông Dân; Nam giáp đường đất rộng 08m; Bắc giáp đất Công

    ty TNHH SX-TMDV Kim Hong’s. Đất tọa lạc tại ấp cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Trên diện tích đất này gồm có các công trình xây dựng; dây chuyên, máy móc, thiết bị cán luyện thép.

    -                                            Công trình xây dựng gồm: 01 nhà xưởng cán thép; 01 nhà xưởng nấu luyện thép; 02 vãn phòng làm việc; 01 nhà bảo vệ; dãy nhà căng tin, gồm cỏ: 01 nhà căng tin, 01 kho, 02 phòng ở, 01 phòng tiếp khác, 01 mái che, 01 nhà ở của công nhân gồm 12 phòng, 01 dãy nhà vệ sinh, gồm 10 phòng, 01 dãy nhà tắm, gồm 05 phòng, 01 mải che, 02 nhà mát, 01 nhà để xe, 03 hồ nước; 01 cổng chỉnh, cong phụ; hàng rào, sân đả, sân bê tông; 01 mái che phía sau nhà xưởng cán thép; 02 sàn thao tác khu nấu luyện thép.

    -                                            Máy móc, thiết bị:

    + Dây chuyền luyện cán thép gồm: 02 xe nâng 2,5 tẩn hiệu Komatsu; 12 quạt thỏi công nghiệp; 02 mảy cán thép; các chi tiết máy cán thép thô; 03 máy cắt sắt thành phẩm; 01 lò nung phôi; 01 hệ thống dây dẫn cấp điện nhà xưởng cán thép.

    + Máy móc thiết bị xưởng nấu luyện thép: 01 trạm điện hạ thế 3.000KVA + đường dây điện nhà xưởng nấu luyện thép; 02 lò nung trung tần; 01 mảy phát điện; 01 máy dập sắt phế liệu( máy ép thủy lực); 01 hệ thống bơm nước cấp; 02 bồn thép chứa nước, mỗi bồn có khối lượng 12.000 lit; 173 khuôn đức phôi.( trị giả toàn bộ thiết bị, dây chuyền sản xuất nhà mảy cán thép và quyền sử dụng đất theo Chứng thư thẩm định giá là 24.248.797.000đ).

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thủy, Phạm Thị Ngọc Thủy trả cho ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim bản chính các loại giấy tờ có liên quan như sau: Giấy chứng nhận thẩm duyệt về thiết kế và thiết bị phòng chảy, chữa cháy; giấy chứng nhận đãng kỷ thuế( mã sổ thuế) của Công ty; giấy chứng nhận đãng ký mã sổ xuất nhập khẩu; giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số TOI 199 QSDĐ, thửa sổ 1.808, tờ bản đồ sổ 2A, diện tích 7.043m2, được UBND tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28/5/2008; giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu; 01 mộc dấu tròn Công ty TNHH sản xuất TMDV Kim Hong’s, đãng kỷ ngày 12/2/2007 tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chỉnh về trật tự xã hội- Công an Tây Ninh.

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thủy và chị Phạm Thị Ngọc Thủy bồi thường thiệt hại hợp đồng cho ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim do không thực hiện nghĩa vụ cam kết để lãi phát sinh, tổng cộng là 3.340.631.500đ, ghi nhận đóng lãi

    700.000.000d, còn phải bồi thường 2.640.631.500đ( Hai tỷ, sáu trăm bổn mươi triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng).

    Buộc bà Lê Thị Thanh Thủy trả cho anh Nguyễn Văn Bô thửa đất sổ 142, tờ bản đồ sổ 20, diện tích 342m2, được UBND huyện Tân Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ H00056/3328/04/HĐ-CN, ngày 03/02/2005, tứ cận: Đông và Nam giáp Công ty TNHHSX-Thưcmg mại-DVKim Hong’s; Tây giáp quốc lộ 22B; Bắc giáp đất ông Ken. Đất tọa lạc tại ấp cầu, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

    Kiến nghị Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh thu hồi 02 giấy chứng nhận đăng kỷ kinh doanh Công ty TNHH cổ 02 thành viên trở lên, trong đó có 01 giấy mang sổ 4502000231, đãng ký, thay đổi lần thứ 5, ngày 13/3/2008, do ông Nguyễn Văn Hồng và bà Lê Thị Thanh Thúy đứng tên thành viên góp von; 01 giấy mang sổ 3900336833, đăng kỷ, thay đổi lần thứ 6, ngày 25/10/2008, do chị Phạm Thị Ngọc Thùy và bà Lê Thị Thanh Thủy đứng tên thành viên góp von.

    Không chấp nhận ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim yêu cầu bà Lê Thị Thanh Thủy bồi thường thiệt hại do sử dụng hao mòn gồm: 01 nhà văn phòng làm việc, trị giá 12.364.800đ; nhà bảo vệ, trị giá 1.452.000đ; 03 hồ chứa nước, trị giá 2.753.355đ; 01 mái che nhà xưởng cán thép, trị giá 5.880.000đ; 02 bồn thép chứa nước, trị giá 5.800.000đ. Tổng cộng 28.250.155đ( Hai mươi tám triệu, hai trăm lăm mươi ngàn, một trăm lăm lăm đồng).                                                                                                                                                                                           ^

    Ông Nguyễn Văn Hồng và bà Phan Thị Kim chủ Công ty TNHH SX- Thương mại-DVKim Hong’s có trách nhiệm trả cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh số tiền vay còn nợ 6.480.000.000đ, theo 02 họp đồng tín dụng số 2005/11/0000096/HĐ-TD, ngày 26/01/2005 và hợp đồng tín dụng sổ 2006/11/0000159/HĐ-TD, ngày 28/3/2006, tiền lãi đến ngày 20/6/2008 là 801.795.300đ và 700.OOO.OOOđ bà Thúy đã nộp thay trước đây, tiền lãi phải trả là 1.501.795.300đ. Tong cộng tiền gốc và tiền lãi 7.981.795.300đ (Bẩy tỉ, chín trăm tám mươi mốt triệu, bẩy trăm chín mươi lăm nghìn, ba trăm đồng).

    Đổi với yêu cầu của anh Vũ Văn Thẳng và chị Nguyễn Thị Chung Thủy yêu cầu bà Lê Thị Thanh Thúy hoàn trả lại sổ tiền sang nhượng quyền sử dụng đất( đất xây dựng nhà máy cán thép) 1.200.000. OOOđ và tiền lãi theo quy định của pháp luật, đã giải quyết bằng môt vụ kiện dân sự khác( anh Thắng, chị Thủy khởi kiện yêu cầu anh Thắng, chị Thủy đã giải quyết bằng một quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Chị Lưu Thị Kim Khảnh và anh Nguyễn Văn Bách được quyền quản lý, sử dụng diện tích 615m2, tờ bản đồ số 58, thửa số 208 và 211, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ H03720/1579/2009/HĐ-CNHL và H03717/1583/2009/HĐ-CNHL, cung ngày 02/6/2009, cỏ tứ cận: Đông giáp đất Phan Thị Cúc dài 119m; Tây giáp đất

    Nguyễn Thanh Phương Trâm dài 119m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giá trị tài sản 100.000.000d. Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Phạm Thị Cúc và anh Nguyễn Văn Bai được quyền quản lý, sử dụng diện tích 605m2, tờ bản đồ sổ 58, thửa sổ 207 và 210, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so H03721/1580/2009/HĐ-CNHL và H03718/1584/2009/HD-CNHL, cung ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp thửa 114,121 dài 119m; Tây giáp đất Lưu Thị Kim Khánh dài 119m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giá trị tài sản ỈOO.OOO.OOOđ, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Anh Phan Nguyễn Minh Trúc được quyền quản lý, sử dụng diện tích 2.462, ỉm2, tờ bản đồ số 58, thửa sổ 206, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03693/1467/2009/HĐ- CNHL, ngày 27/5/2009, có tứ cận: Đông giáp đất bà Nguyễn Thị Gắng dài 114m; Tây giáp đất ông Xì( hàng nước đá) dài 114m; Nam giáp đất ông Chiến dài 20m; Bắc giáp đường 718 dài 22m.Trên đất có 01 cây dừa(có trái), 03 cây ổi, 01 cây trứng cá, 02 cây nhãn, 01 cây dầu( Đường kính 20cm và 50cm). Giả trị toàn bộ tài sản 440.595.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Phan Thị Phượng được quyền quản lý, sử dụng diện tích 1.980m, tờ bản đồ sổ 58, thửa số 138 và 139, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ H03722/1581/2009/HĐ-CNHL và H03716/1586/2009/HĐ-CNHL, cùng ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp đất chị Nguyễn Thanh Phương Trâm dài Ỉ18m; Tây giáp thửa 114 và 122 dài 118m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 17m; Bắc giáp thửa 114 dài 17m. Giá trị tài sản

    340.000.                                OOOđ, Đất tọa lạc ẩp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Chị Nguyễn Thanh Phương Trâm và anh Nguyễn Văn Bô được quyền quản lý, sử dụng diện tích 625m2, tờ bản đồ sổ 58, thửa số 209 và 212, được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so HO3723/1582/2009/HĐ-CNHL và H03719/1585/2009/HD-CNHL, củng ngày 02/6/2009, có tứ cận: Đông giáp đất chị Lưu Thị Kim Khánh dài 1 ỉ9m; Tây giáp đât chị Phan Thị Phương dài 118m; Nam giáp đường nhựa 781 dài 05m; Bắc giáp thửa 114 dài 05m. Giả trị tài sản 100.000.000d, Đất tọa lạc ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Bà Lê Thị Thanh Thủy, chị Phạm Thị Ngọc Thùy có trách nhiệm trả lại cho bà Phan Thị Kim, ông Nguyễn Văn Hồng chi phí thẩm định, chỉ phí định giả và

    giảm định sổ tiền 46.136.000đ( Bổn mươi sáu triều, một trăm ba mươi sán ngàn đồng).

    Ngoài ra, tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

    Sau khi xét xử phúc thẩm; Văn Phòng Trung ương Đảng chuyển đơn của đương sự đến yêu cầu Tòa án nhân dân Tối cao xem xét giải quyết.

    Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên có văn bản kiến nghị xem xét lại phần án phí.

    Tại Quyết định số 155/2014/KN-DS ngày 05/5/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định kháng nghị bản án dân sự phúc thấm số 115/2011/DS-PT ngày 06/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyến nhượng quyển sử dụng đát” giữa nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim; anh Nguyễn Văn Bô với bị đơn bà Lê Thị Thanh Thúy; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (12 người).

    Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thấm số 44/2010/DSST ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân huyên Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; giao hồ sơ vụ án cho tòa án nhân dân huyên Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thấm lại theo quy định của pháp luật.

    Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

    Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.

    XÉT THẤY

    Theo hồ sơ vụ án thể hiện ngày 05/3/2008 giữa nguyên đơn bà Phan Thi Kim, ông Nguyễn Văn Hồng và Bị đơn bà Lê Thị Thanh Thúy ký “Hợp đồng chuyển nhượng nhà mảy cán thép” trên thửa đất số 1225 là 20.760m2 và thửa số 1808 là 7.043m2, trị giá 30 tỷ đồng với thỏa thuận sau khi ký hợp đồng, đợt một ngày 07/3/2008 bà Thúy chuyển cho bà Kim, ông Hồng 7 tỷ đồng; đợt hai ngày 10/3/2008 bà Thúy đặt cọc cho bà Kim, ông Hồng 16 tỷ đồng; đợt ba số tiền còn lại bà Thúy có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành (gọi tắt là Chi nhánh Ngân hàng Hòa Thành) để lấy lại toàn bộ giấy tờ mà bà Thúy, ông Hồng đã cầm cố và hoàn tất thủ tục tại phòng công chứng.

    Ngày 07/3/2008, hai bên giữa bà Thúy và vợ chồng ông Hồng, bà Kim ký hợp đồng đặt cọc có công chứng với thỏa thuận Điều 1: Tài sản Công ty gồm nhà và 2 thửa đất nêu trên cùng tài sản cá nhân của gia đình bà Kim gồm 4 thửa đất: thửa 0139 bằng 2.166m2; thửa 0138 bằng 1.659m2; thửa 142 bằng 342m2; thửa số 3 bằng 1.272,8m2. Giá trị toàn bộ tài sản Công ty và tài sản cá nhân là 17 tỷ đồng. Điều 2 quy định lần thứ nhất bà Thúy giao 7 tỷ đồng vào ngày 05/3/2008; lần thứ 2 giao 2,5 tỷ đồng ngay sau khi họp đồng này được Phòng Công chứng ký tên, đóng dấu. Cùng ngày 07/3/2008 ông Kim viết giấy biên nhận có nội dung: đợt 1 ngày 05/3/2008 nhận 7 tỷ đồng, đợt 2 ngày 07/3/2008 nhận 2,5 tỷ đồng. Ngày 10/3/2008 bà Thúy nộp cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh số tiền 700 triệu đồng. Ngày 11/3/2008 ông Hồng ký họp đồng chuyển nhượng vốn 44 triệu đồng và bà Kim chuyển nhượng cho bà Thúy 9,456 tỷ được thanh toán làm 02 lần, đợt 1 thanh toán số tiền 7 tỷ đồng sau khi họp đồng được ký kết, đợt 2 thanh toán số tiền 2,456 tỷ đồng sau khi phía Công ty Kim Hong’s hoàn thành thủ tục hoàn thuế năm 2007. Ngày 13/3/2008, Công ty Kim Hong’s bổ nhiệm bà Thúy làm Giám dóc Công ty. Ngày 18/4/2008 anh Nguyễn Văn Bô có viết giấy mượn 50 triệu đồng của bà Thúy với nội dung hẹn 10 ngày sau trả.

    Ngày 20/6/2008 bà Kim, ông Hồng tiếp tục ký họp đồng sang nhượng nhà máy thép (có sự chứng kiến của ông Võ Văn Cõi là đại diện Chi nhánh Ngân hàng Hòa Thành) với giá là 17 tỷ đồng. Cùng ngày 20/6/2008 bà Thúy có viết giấy thỏa thuận trả nợ với nội dung tóm tắt: các giấy tờ giao dịch giữa vợ chồng bà Kim, ông Hồng trước ngày 20/6/2013 là chỉ để bà Thúy đi vay tiền và được hưởng 10% giá trị vay đều không có giá trị pháp lý. Nay bà Thúy không vay được nên chính thức mua nhà máy thép của vợ chồng ông Hồng, bà Kim với giá 17 tỷ đồng (không bao gồm 04 thửa đất là tài sản cá nhân của gia đình bà Kim). Bà Thúy nhận nhà máy thép để hoạt động trước khi bà Thúy trả lãi và gốc cho Ngân hàng là 6,78 tỷ đồng (trừ 700 triệu đồng bà Thúy đã nộp ngày 10/3/2008). Bà Thúy hẹn 30/11/2008 sẽ trả 1,5 tỷ đồng và cuối năm 2008 trả nốt 8,5 tỷ. Ngoài ra, hai bên thỏa thuận nếu bà Thúy không trả Ngân hàng để Ngân hàng phát mãi nhà máy thép thì bà Thúy phải bồi thường 50% giá trị của họp đồng.

    Tại họp đồng chuyển nhượng vốn số 03/2008/HĐCNV ngày 24/10/2008, ông Hồng chuyển nhượng 5% vốn tương đương với 500 triệu đồng cho chị Phạm Thị Ngọc Thùy (con bà Thúy) với thỏa thuận thanh toán một lần sau khi ký họp đồng này. Ngày 25/10/2008, bà Thúy được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh

    doanh bổ sung lần 6 trong đó bà Thúy có vốn góp 95%, chị Thùy là 5% vốn góp. Tại giấy nhận nợ ngày 28/10/2008, ông Hồng, bà Kim bàn giao tài sản nhà máy thép và đất trên 02 thửa số 1225 với diện tích 20.760m2 và thửa 1080 có diện tích 7.043m2 do Công ty Kim Hong’s đứng chủ quyền cho bà Thúy.

    Ngày 05/12/2008 bà Thúy làm giấy cam kết trả nợ với nội dung ngày 20/6/2008 bà Thúy có mua nhà máy thép có sự chứng kiến của đại diện Ngân hàng với giá 17 tỷ. Bà Thúy có trách nhiệm trả cho Chi nhánh ngân hàng Hòa Thành số tiền 6,750 tỷ đồng, số tiền 10,250 tỷ trừ đi tiền lãi 700 triệu đồng đã nộp cho Ngân hàng ngày 10/3/2008, còn lại 9,55 tỷ đồng hẹn ngày 31/12/2008 sẽ trả hết cho ông Hồng, bà Kim. Theo ông Hồng, bà Kim thì bà Thúy không thực hiện cam kết trên nên sau đó hai bên phát sinh tranh chấp.

    Thấy rằng, theo họp đồng chuyển nhượng nhà máy cán thép ngày 05/3/2008 giữa vợ chồng ông Hồng với bà Thúy giá trị của họp đồng là 30 tỷ và hai bên thỏa thuận phương thức thanh toán: đợt 1 vào ngày 07/3/2008 thì đối tượng của hợp đồng đặt cọc ngoài nhà máy thép và các tài sản khác trên hai thửa đất thì còn có 4 thửa đất khác của cá nhân gia đình ông Hồng nhưng giá của họp đồng chỉ là 17 tỷ đồng. Ngoài ra, về phương thức thanh toán của họp đồng đặt cọc ghi: thanh toán lần thứ nhất, bà Thúy giao 7 tỷ đồng vào ngày 05/3/2008. Lần thứ hai giao 2,5 tỷ đồng ngay sau khi họp đồng này được công chứng ký tên đóng dấu. Tại giấy biên nhận ngày 07/3/2008, ông Hồng bà Kim xác nhận có nhận tiền 02 lần là: ngày 05/3/2008 nhận 7 tỷ đồng. Ngày 07/3/2008 nhận 2,5 tỷ đồng. Đồng thời nếu ông Hồng và bà Kim không nhận tiền sao lại giao nhà máy cán thép và 02 thửa đất cho bà Thúy đứng tên chủ quyền.

    Mặt khác, tại giấy thỏa thuận nhận nợ ngày 20/6/2008 giữa bà Thúy và vợ chồng ông Hồng, bà Kim xác nhận các giấy ký nhận tiền giữa ông Hồng, bà Kim với bà Thúy trước đây không có giá trị pháp lý. Ông Hồng, bà Kim không nhận và không nợ bà Thúy khoản tiền nào khác nhưng thực tế bà Thúy có nộp 700 triệu đồng vào Ngân hàng ngày 10/3/2008.

    Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét, xác định rõ vợ chồng ông Hồng, bà Kim đã nhận 9,5 tỷ đồng của bà Thúy chưa? Mà đã hủy hợp đồng sang nhượng nhà máy cán thép lập ngày 20/6/2008 giữa vợ chồng ông Hồng, bà Kim với bà Thúy là chưa đủ căn cứ.

    Tại Công văn số 262/Thi hành án dân sự ngày 15/9/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên gửi kiến nghị bản án số 115/2011/DSPT ngày06/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh với với lý do Tòa án cấp phúc thẩm tuyên trả lại số tiền 200.000đ án phí phúc thẩm theo biên lai 003789 ngày 09/8/2010 nhưng trong biên lai nêu trên không có số tiền 200.000đ cũng cần được xem xét lại.

    Bởi các lẽ trên;

    Căn cứ vào. khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

    QUYÉT ĐỊNH:

    -                                           Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 155/2014/KN-DS ngày 05/5/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

    -                                           Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 115/2011/DSPT ngày 16/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 44/2010/DSST ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vê vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” “ giữa nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim; anh Nguyễn Văn Bô với bị đơn bà Lê Thị Thanh Thúy; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (12 người).

     
    29721 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #157526   26/12/2011

    BeToan89
    BeToan89
    Top 50
    Male
    Lớp 11

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2010
    Tổng số bài viết (984)
    Số điểm: 15990
    Cảm ơn: 63
    Được cảm ơn 144 lần


    quangvu1604 viết:

     

    Nhận định sau đây đúng hay sai, hãy giải thích:

     

    1. 1/Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật
    2. 2/Mọi quan hệ xã hội đều là quan hệ pháp luật.
    3. 3/Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật.
    4. 4/trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam bao gồm cả trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm của tổ chức.
    5. 5/Hình phạt tù chung thân và tử hình được áp dụng với mọi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự.

    Nhìn thấy chủ đề này không ai trả lời nên làm luôn xem sao.
     Câu 1: sai
    Bởi vì hai loại văn bản trên vấn có đặc thù của nó.
     Văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong thực tiến Là cơ sở để ban hành ra văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính.
     Còn văn bản áp dụng pháp luật có chứa đựng những mệnh lệnh cá biệt, áp dụng một lần trong từng trường hợp cụ thể.
     Câu 2: sai
    Bởi vì quan hệ pháp luật sẽ bằng quan hệ xã hội cộng với các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đó.Nên các quan hệ xã hội mà không được hoặc chưa được pháp luật điều chỉnh thì không thể là quan hệ pháp luật. mà chỉ là quan hệ xã hội thôi.
    Câu 3. cái này tự làm nhé.
    Câu 4 Theo mình cũng sai.
    Bởi vì chủ thể của luật hình sự chỉ là cá nhân chứ không có tổ chức .Nên không có chuyện tổ chức chịu tránh nhiệm hình sự.
    Câu 5. Sai luôn
    Vì không phạt tù chung thân hoặc tử hình với người chưa thành niên phạm tội Khoản 5 điều 69 bộ luật hình sự ).
     
    Chúc bạn học tốt.

    Betoan1989@yahoo.com

    *Khi là chính mình, bạn không có bất cứ điều gì phải sợ.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn BeToan89 vì bài viết hữu ích
    panda128 (27/12/2011)
  • #157646   27/12/2011

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5302)
    Số điểm: 50807
    Cảm ơn: 1840
    Được cảm ơn 3502 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    BeToan89 viết:

    Câu 5. Sai luôn
    Vì không phạt tù chung thân hoặc tử hình với người chưa thành niên phạm tội Khoản 5 điều 69 bộ luật hình sự ).


    @ BeToan89: Nó còn quy định ở cả Điều 35 BLHS nữa em. "Không áp dụng hình phạt tử hình đối với... phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử".

    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
    panda128 (27/12/2011)
  • #157651   27/12/2011

    BeToan89
    BeToan89
    Top 50
    Male
    Lớp 11

    Đăk Lăk, Việt Nam
    Tham gia:24/11/2010
    Tổng số bài viết (984)
    Số điểm: 15990
    Cảm ơn: 63
    Được cảm ơn 144 lần


    Cái đó em biết mà anh, nhưng làm nhận định đúng sai chỉ cần trả lời một trường hợp ngoại lệ là đủ rồi. Ghi nhiều mất thời gian đó anh.

    Thank anh đã góp ý.

    Betoan1989@yahoo.com

    *Khi là chính mình, bạn không có bất cứ điều gì phải sợ.

     
    Báo quản trị |  
  • #158022   29/12/2011

    ngochoang1
    ngochoang1
    Top 500


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/09/2010
    Tổng số bài viết (84)
    Số điểm: 1880
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 2 lần


    câu 4: sai vì theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự
     
    Báo quản trị |  
  • #413471   15/01/2016

    haihery
    haihery

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:06/11/2015
    Tổng số bài viết (11)
    Số điểm: 250
    Cảm ơn: 5
    Được cảm ơn 0 lần


    bạn nào có khả năng giải nốt câu 3 đê

     

     
    Báo quản trị |  
  • #413480   16/01/2016

    nhatnam1260
    nhatnam1260

    Sơ sinh

    Thừa Thiên Huế, Việt Nam
    Tham gia:19/12/2015
    Tổng số bài viết (18)
    Số điểm: 150
    Cảm ơn: 70
    Được cảm ơn 5 lần


    Câu 2: vd 2 người yêu nhau ( ko phải ngoại tình) là 1 loại QHXH nhưng không chịu sự tác động của QPPL. Đâu phải là QHPL
    Câu 4: BLHS hiện hành thì ko có trách nhiệm Pháp nhân. BLHS 2015 sẽ có hiệu lực trong tương lai thì có qđ trách nhiệm PN.

    Thanks a lot BeToan

     
    Báo quản trị |  
  • #441943   18/11/2016

    Sadrose
    Sadrose

    Sơ sinh

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Cho em hỏi ạ: Xác định các bộ phận cấu thành của các quy phạm pháp luật trong điều luật sau:

              Điều 25: bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự( Luật tố tụng dân sự 2015) "Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại cá nhân, có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tớ tụng hoặc bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự. Cơ quan, tổ chức, các nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo."

              Điều 52: Mua lại phần vốn góp (Luật Doanh nghiệp 2014)

         "1. Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành về vấn đề sau đây:

            a/ Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;

            b/ Tổ chức lại công ty;

            c/ Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

    Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua nghị quyết quy định tại khoản này.

           2. Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại Khoản 1 điều này, nếu không thỏa thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

           3. Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại Khoản 2 điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên."

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-