Gia hạn sử dụng đất nông nghiệp khi đang có tranh chấp

Chủ đề   RSS   
  • #541372 18/03/2020

    Gia hạn sử dụng đất nông nghiệp khi đang có tranh chấp

    Kính chào luật sư.

    Xin Luật sư tư vấn cho tôi một việc như sau:

    Tôi đang xử lý vụ tranh chấp đất đai giữa ông Nguyên và ông Hơn, đất nông nghiệp đã có bìa đỏ, thời hạn sử dụng đến năm 2020. Bìa mang tên ông Nguyên. Trước đây ông Nguyên cho ông Hơn thuê để trồng lúa, thời hạn chỉ ghi là hết khoán (hết hạn). nay đã hết hạn sử dụng ông Hơn không trả lại đất nên xảy ra tranh chấp. Nay ông Nguyên cầm bìa đỏ để xin gia hạn sử dụng đất thì có được không.

    Cảm ơn luật sư!

     

     
    1774 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn binhchi111 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (19/03/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #541412   18/03/2020

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1747)
    Số điểm: 10021
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 970 lần
    Lawyer

    Vụ việc tranh chấp đất đai giữa ông Nguyên và ông Hơn mà đất nông nghiệp đã có bìa đỏ, thời hạn sử dụng đến năm 2020. Sổ đỏ mang tên ông Nguyên khi trước đây ông Nguyên cho ông Hơn thuê để trồng lúa, thời hạn chỉ ghi là hết khoán (hết hạn). nay đã hết hạn sử dụng ông Hơn không trả lại đất nên xảy ra tranh chấp. Nay ông Nguyên cầm bìa đỏ để xin gia hạn sử dụng đất thì xảy ra tranh chấp

    Theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 29/9/2017, việc Đăng ký biến động , cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Sổ đỏ) sẽ bị tạm dừng nếu xét thấy mảng đất đó đang có tranh chấp. Tuy nhiên, thời điểm này vẫn chưa có quy định cụ thể thế nào là “đất đang có tranh chấp”, vì vậy, các bên tranh chấp lợi dụng việc làm đơn từ để ngăn chặn việc cấp Giấy chứng nhận. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền của người dân trong việc hoàn thiện các thủ tục kê khai, cấp Sổ đỏ. Cơ quan Nhà nước cũng lúng túng, không có giải pháp cụ thể.

    Tuy nhiên, tại Điểm đ Khoản 11, Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT (bổ sung Điều 11a Thông tư 24/2014/TT-BTNMT) quy định trường hợp từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau:

    “đ) Khi nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là đối tượng phải thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự hoặc văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án; khi nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;”

    Theo quy định này, người làm đơn đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải cung cấp kèm theo văn bản thụ lý của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo bổ sung. Trong đó, văn bản thụ lý là:

    1/ Thông báo thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai của UBND quận/huyện đối với trường hợp đất đai không có giấy tờ và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

    2/ Thông báo thụ lý vụ án của TAND đối với tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án.

    Như vậy, nếu muốn ngăn chặn việc cơ quan Nhà nước đăng ký biến động cấp Giấy chứng nhận cho gia đình ông Nguyên với lý do đất đang có tranh chấp thì ông Hơn phải cung cấp được các văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông. Trong trường hợp quá thời hạn quy định mà gia đình ông N không cung cấp được một trong các tài liệu trên thì Văn phòng đăng ký đất đai vẫn phải đăng ký cấp Sổ đỏ cho gia đình ông Nguyên theo đúng quy trình pháp luật.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (19/03/2020) binhchi111 (26/03/2020)
  • #541426   18/03/2020

    Kính chào luật sư!

    Tôi có vấn đề xin được hỏi luật sư

    Mảnh đất và ngôi nhà bố tôi đang ở là do ông bà để lại. Ngày trước do đất đai rộng lên ông bà mới đăng ký một nửa mảnh đất đó tên người anh để đỡ tiền thuế nhà đất( Nhưng người anh này không có hộ khẩu và cũng không sống ở địa phương). Bây giờ con cái của người anh đó về đòi lại đất với nhà. vậy gia đình tôi phải làm những thủ tục gì? Mong luật sư giúp đỡ

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn havanhoi81 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/03/2020)
  • #541744   24/03/2020

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1747)
    Số điểm: 10021
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 970 lần
    Lawyer

    Về mặt pháp lý, mảnh đất trên đã được đăng ký một nửa mảnh đất đó mang tên người anh tức là đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người anh đó nên được công nhận là chủ sử dụng đất hợp pháp. Trong trường hợp người anh không muốn cho ở nữa thì người anh hoàn toàn có thể đòi lại mảnh đất nói trên.

    Do đất đã có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định như sau:

    “1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;”

    Trước hết hai bên có thể thỏa thuận với người đang ở về việc trả lại đất, nếu không được, có thể nhờ sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền, theo đó hòa giải tại địa phương là thủ tục đầu tiên.

    Trong trường hợp việc hòa giải tranh chấp đất đai tại xã không thành thì có thể viết đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

    Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (24/03/2020)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 0978 99 4377

Website: https://myskincare.vn ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.