Đơn kiện tranh chấp đất đai

Chủ đề   RSS   
  • #408338 02/12/2015

    daophamno1

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/02/2012
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 125
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 1 lần


    Đơn kiện tranh chấp đất đai

    Kính chào luật sư,

    Trong thời gian hôn nhân, chị gái tôi và chồng có mua một mảnh đất nhưng đứng tên chồng (Tiền của cả 2 vợ chồng và vay mượn nhà vợ vẫn chưa trả đủ). Hiện tại, 2 vợ chồng chị đang làm thủ tục ly hôn nhưng chưa được Tòa án giải quyết. Trong khoảng thời gian này, chồng chị gái tôi đã chạy giấy tờ ở xã để để sang tên mảnh đất cho em trai của chồng. Và lấy lý do này (Đất không còn của 2 vợ chồng nữa nên không phải là tài sản đang tranh chấp) để tiếp tục bán đất cho người khác.

    Biết được điều này, chị gái tối đã làm đơn khởi kiện đất đang tranh chấp gửi lên Toàn án nhân dân huyện, Tòa án đã nhận đơn và tiền án phí được 2 tháng, mà đến bây giờ vân không thấy thông tin trả lời. Khi gọi điện hỏi thì được Tòa án trả lời chung chung, kiểu vòng vo, thoái thác.

    Luật sư cho tôi hỏi, trong thời gian bao lâu thì Tòa án có trách nhiệm trả lời đơn khởi kiện của công dân? Và bây giờ nếu không tiếp tục làm đơn ở huyện nữa, thì chị gái tôi có làm đơn lên tỉnh được không? Thủ tục như thế nào? Vì càng để lâu, đất đai sang nhượng cho nhiều người, khó giải quyết và tốn kém chi phí.

    Cảm ơn luật sư rất nhiều.

     
    3287 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #440060   29/10/2016

    menbean
    menbean

    Female
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:10/03/2016
    Tổng số bài viết (13)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 6 lần


    Chào bạn, dựa vào thông tin bạn cung cấp tôi xin có một vài trao đổi như sau:

    Theo Điều 167 Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi năm 2011 quy định về thủ tục nhận đơn khởi kiện:

    Điều 167. Thủ tục nhận đơn khởi kiện

    Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

    1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

    2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

    3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

    Như vậy, trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm trả lời đơn khởi kiện của công dân.

    Điều 179. Thời hạn chuẩn bị xét xử

    1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

    a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

    b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

    Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

    2. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong các quyết định sau đây:

    a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;

    b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

    c) Đình chỉ giải quyết vụ án;

    d) Đưa vụ án ra xét xử.

    3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

     

    Đây là tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 25 BLTTDS do đó  thời hạn là bốn tháng kể từ ngày thụ lý vụ án thì sẽ là thời hạn chuẩn bị xét xử. Đã 2 tháng qua rồi thì bạn cố gắng đợi thêm 2 tháng nữa thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Như vậy bạn sẽ đỡ được chuyện giấy tờ, án phí, công sức và thời gian đã bỏ ra!

     

    Trường hợp bạn nêu ra không thể kiện lên cấp tỉnh được vì chỉ khi có yếu tố nước ngoài thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Theo Điều 33,34 BLTTDS 2011 quy định:

    Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

    1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

    a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

    b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

    c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.

    2. Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

    a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Bộ luật này;

    b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này.

    3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

    Điều 34. Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    1. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:

    a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật này;

    b) yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 Điều 33 của Bộ luật này;

    c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này.

    2. Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

     
    Báo quản trị |  
  • #440069   30/10/2016

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1250)
    Số điểm: 9904
    Cảm ơn: 153
    Được cảm ơn 971 lần
    Moderator

     

    menbean viết:

     

    Đây là tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 25 BLTTDS do đó  thời hạn là bốn tháng kể từ ngày thụ lý vụ án thì sẽ là thời hạn chuẩn bị xét xử. Đã 2 tháng qua rồi thì bạn cố gắng đợi thêm 2 tháng nữa thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Như vậy bạn sẽ đỡ được chuyện giấy tờ, án phí, công sức và thời gian đã bỏ ra!

     

     

    Tòa chưa hề triệu tập tới yêu cầu tự khai hoặc lấy lời khai, chưa hề đo đạc, thẩm định tại chỗ cũng như định giá thửa đất tranh chấp, chưa tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp...v...v.... Tóm lại là chưa có một động thái giải quyết vụ án nào ngoài Thông báo tạm ứng án phí.... vậy nên nội dung "tư vấn" của bạn menbean rằng "cố gắng đợi thêm 2 tháng nữa thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử" theo đúng thời hạn 04 tháng chuẩn bị như Luật định là phi thực tế.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    menbean (30/10/2016)
  • #440068   30/10/2016

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1250)
    Số điểm: 9904
    Cảm ơn: 153
    Được cảm ơn 971 lần
    Moderator

    @daophamno1 : Theo qui định tại điều 33 Luật hôn nhân - Gia đình hiện hành thì Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, bên nào nói đó là tài sản riêng thì phải chứng minh, không chứng minh được phải chấp nhận đó là tài sản chung. Theo dữ liệu bạn cung cấp, tôi cho rằng người chồng gần như không thể chứng minh được quyền sử dụng mảnh đất đó là tài sản riêng của anh ta mặc dù chỉ một mình anh ta đứng tên trên "giấy đỏ". Như vậy, mảnh đất này là tài sản chung của 2 người trong thời kỳ còn tồn tại quan hệ hôn nhân, giờ ly hôn phải được chia theo qui định của Pháp luật hôn nhân - gia đình.

    Vợ chồng chị gái của bạn đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án, đương nhiên vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng con chung và vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng (gồm cả mảnh đất chỉ đứng tên người chồng) khi ly hôn cũng đã được Tòa thụ lý giải quyết, nói cách khác thì đất đó đang có tranh chấp do Tòa án thụ lý giải quyết, nên việc chuyển quyền sử dụng đất đang có tranh chấp đó cho em trai của chồng chị gái bạn là vi phạm điều cấm của Pháp luật qui định tại khoản 4 điều 12 và điểm b khoản 1 điều 188 Luật đất đai hiện hành.

    Bạn nói chị gái của bạn đã khởi kiện "đất đang tranh chấp gởi lên tòa án" nhưng cụ thể chị gái bạn khởi kiện yêu cầu việc gì ? Tôi cần biết rõ điều đó mới có thể tư vấn tiếp.

    Trân trọng.

    Cập nhật bởi TranTamDuc.1973 ngày 30/10/2016 10:14:28 SA
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    menbean (30/10/2016)