Dọc đường kiện cáo...

Chủ đề   RSS   
  • #555620 25/08/2020

    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Dọc đường kiện cáo...

    Tôi mở chủ đề này với mục đích cùng các bạn kể lại những vấn đề đã gặp trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết các vụ án cũng như giải quyết các vụ khiếu nại.

    VỀ VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 408 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 :

    A được cấp GCNQSD thửa 01 và QSH căn nhà gắn liền. A ký hợp đồng nhận cọc của C 850 triệu để đảm bảo cho việc trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đặt cọc hai bên phải giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 theo giá không đổi là 05 tỷ đồng. Do A không thực hiện cam kết này nên phát sinh tranh chấp. Tòa sơ thẩm tuyên buộc A phải trả cho C 850 triệu tiền cọc và phải chịu phạt cọc 850 triệu, tổng cộng 1,7 tỷ đồng. Thế nhưng, Tòa phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì “có đối tượng không thể thực hiện được từ lúc giao kết” theo điều 408 BLDS và A chỉ phải trả cho C 850 triệu tiền đã nhận chứ không bị phạt cọc ! Lý luận của Tòa phúc thẩm là “trên thửa 01 có căn nhà, do đó hai bên chỉ thỏa thuận giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 là đã có đối tượng không thể thực hiện được từ lúc giao kết vì nhà và đất là một khối thống nhất không thể tách rời”.
     
    Thoáng nghe có vẻ hợp lý, nhưng phân tích kỹ sẽ thấy đây là một sự nhầm lẫn. Hợp đồng đặt cọc có 02 đối tượng, đối tượng 1 là số tiền cọc 850 triệu và đối tượng 2 là công việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa 01. Đối tượng 1 C đã đặt cọc 850 triệu cho A, đối tượng 2 chỉ cần A ra Văn phòng/Phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa 01 là thực hiện xong, như vậy không có đối tượng nào không thể thực hiện được từ lúc giao kết hợp đồng đặt cọc. Tòa phúc thẩm đã nhầm lẫn đối tượng của hợp đồng đặt cọc (đã có và đang tranh chấp) với đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (chưa có). Hơn nữa, về mặt vật lý thì nhà và đất có thể không thể tách rời nhưng về mặt pháp lý thì hoàn toàn có thể tách rời bởi pháp luật hiện tại cho phép người có QSDĐ và người có QSH nhà gắn liền không bắt buộc phải là một.
     

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    2834 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    NguyensoaiD36 (25/05/2021) ThanhLongLS (25/08/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

2 Trang 12>
Thảo luận
  • #559014   29/09/2020

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    RÚT YÊU CẦU HAY TIẾP TỤC KIỆN ?

    Anh A chở thuê thuốc lá JET nhập lậu từ Đức Hòa - Long An xuống Chợ Lớn, bị Chủ tịch UBND Huyện B ra Quyết định xử phạt 30 triệu đồng (QĐ 01), anh A nhận QĐ này vào ngày 01/4/2019. Không đồng ý, anh A khởi kiện yêu cầu hủy QĐ 01, Tòa thụ lý ngày 05/01/2020 chưa đưa ra xét xử thì ngày 15/2/2020 Chủ tịch UBND Huyện B ra Quyết định số 02 thu hồi QĐ 01. Tòa vận động Anh A rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện vì đối tượng khởi kiện (QĐ 01) không còn. Anh A không am hiểu pháp luật nên đã đến một số Công ty/Văn phòng Luật có tư vấn miễn phí để nhờ tư vấn cách nào tối ưu nhất. Tại VP Luật sư X anh A được tư vấn là nên rút yêu cầu khởi kiện như Tòa vận động, Công ty Luật Y cũng có lời khuyên tương tự nhưng VP Luật sư Z lại tư vấn là không rút yêu cầu mà cứ tiếp tục kiện để Tòa đưa ra xét xử.

    Tất nhiên tổ chức hành nghề Luật sư nào cũng có lập luận để chứng minh cho nội dung tư vấn của mình là tối ưu, nhưng theo các bạn, rút yêu cầu khởi kiện hay tiếp tục kiện sẽ tối ưu hơn ?

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (29/09/2020)
  • #564527   07/12/2020

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Trường hợp 1 : rút yêu cầu Tòa sẽ đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự tiết kiệm được thì giờ, công sức và tiền bạc do không phải tiếp tục đeo đuổi vụ kiện. Tuy nhiên, có thể đương sự phải đối mặt với tình huống một thời gian sau, cơ quan hành chính Nhà nước tiếp tục ban hành Quyết định hành chính mới, có nội dung cơ bản như Quyết định cũ đã bị chính Cơ quan này thu hồi, chỉ khác số hiệu và ngày tháng ban hành, lúc đó đương sự cũ lại phải tiếp tục hành trình kiện cáo từ đầu, dĩ nhiên sẽ bị mất thì giờ, công sức và tiền bạc.

    Trường hợp 2 : không rút mà vẫn tiếp tục kiện thì Tòa phải xem xét tính hợp pháp của QĐ số 01 để tuyên án. Nếu Tòa nhận định QĐ số 01 trái pháp luật và tuyên hủy, khả năng Bản án sơ thẩm có hiệu lực rất cao vì không có kháng cáo, kháng nghị (người khởi kiện không kháng cáo vì đã được chấp nhận yêu cầu, người bị kiện đã tự thu hồi QĐ số 01 của mình nên cũng không có lý do gì để kháng cáo, thực tế QĐ số 01 đã được thu hồi nên Viện kiểm sát cũng không kháng nghị). Như vậy, nội dung, hình thức trái pháp luật của QĐ số 01 đã được Bản án có hiệu lực ghi nhận và tuyên hủy, do đó Bản án này có tác dụng "răn đe" cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiếp tục ban hành QĐ hành chính có nội dung tương tự, nghĩa là hạn chế tối đa tình huống bị ban hành Quyết định hành chính mới, có nội dung cơ bản như Quyết định cũ đã bị thu hồi, chỉ khác số hiệu và ngày tháng ban hành.

    Với phân tích như trên, tôi nghĩ nên chọn trường hợp 2 sẽ có lợi hơn cho người khởi kiện.

    Trân trọng.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (07/12/2020)
  • #564775   14/12/2020

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


     

    TranTamDuc.1973 viết:

     

    Trường hợp 2 : không rút mà vẫn tiếp tục kiện thì Tòa phải xem xét tính hợp pháp của QĐ số 01 để tuyên án. Nếu Tòa nhận định QĐ số 01 trái pháp luật và tuyên hủy, khả năng Bản án sơ thẩm có hiệu lực rất cao vì không có kháng cáo, kháng nghị (người khởi kiện không kháng cáo vì đã được chấp nhận yêu cầu, người bị kiện đã tự thu hồi QĐ số 01 của mình nên cũng không có lý do gì để kháng cáo, thực tế QĐ số 01 đã được thu hồi nên Viện kiểm sát cũng không kháng nghị). Như vậy, nội dung, hình thức trái pháp luật của QĐ số 01 đã được Bản án có hiệu lực ghi nhận và tuyên hủy, do đó Bản án này có tác dụng "răn đe" cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiếp tục ban hành QĐ hành chính có nội dung tương tự, nghĩa là hạn chế tối đa tình huống bị ban hành Quyết định hành chính mới, có nội dung cơ bản như Quyết định cũ đã bị thu hồi, chỉ khác số hiệu và ngày tháng ban hành.

    Với phân tích như trên, tôi nghĩ nên chọn trường hợp 2 sẽ có lợi hơn cho người khởi kiện.

    Trân trọng.

     

     

    Tôi đồng ý với bạn TranTamDuc.1973.
    Cách 2 rất hay: Rãnh đi kiện, khỏi cần buôn bán. "Răn đe" cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền là rất tốt. Tuy nhiên, người làm ăn thì họ sợ là sẽ bị "răn đe" lại thì tốn tiền luật sư nữa.

     

     

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 14/12/2020 10:06:51 CH
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (15/12/2020) TranTamDuc.1973 (15/12/2020)
  • #564755   14/12/2020

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 

    Điều 157 BLDS 2015 qui định :

    "Điều 157. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
     
    1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
     
    a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
     
    b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
     
    c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
     
    2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này."
     
    Chúng ta thấy tại điểm b khoản 1 điều 157 nêu trên có một chữ vừa thừa vừa gây tranh cãi. Đó là chữ "XONG" ! Ví dụ, A nợ B số tiền 01 tỷ đồng nên nghĩa vụ của A là trả 01 tỷ đồng cho B, nếu lấy đơn vị tính là triệu thì từ 1 triệu, 2 triệu ..... cho tới 999 triệu đều là  01 phần nghĩa vụ của A, cho nên Luật qui định như vậy nhưng không qui định rõ "một phần nghĩa vụ" là bao nhiêu thì rất khó để đồng thuận về việc A đã "thực hiện xong" một phần nghĩa vụ, bởi A trả 01 triệu và nói đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ cũng đúng mà B nói A phải trả 100 triệu mới là thực hiện xong một phần nghĩa vụ cũng không sai. Chỉ cần bỏ chữ "XONG" này đi là không còn tranh cãi.
     
    Tương tự, ở điểm C cũng thừa chữ "TỰ", chúng ta đều biết, thường hòa giải thành đều có sự tác động của bên thứ ba (Tòa án, Hòa giải viên, UBND cấp xã, người có uy tín trong dòng họ ...v...v....), Luật qui định như vậy dẫn tới sự vô lý và phi thực tiễn là trường hợp các bên hòa giải thành do có sự tác động của bên thứ ba thì không được bắt đầu lại thời hiệu ?! Thiết nghĩ, chữ "TỰ" này cũng cần bỏ đi.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (14/12/2020) NguyensoaiD36 (25/05/2021)
  • #564776   14/12/2020

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


    [quote=TranTamDuc.1973]

    BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 

    Điều 157 BLDS 2015 qui định :

    "Điều 157. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
     
    1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
     
    a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
     
    b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
     
    c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
     
    2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này."
     
    Chúng ta thấy tại điểm b khoản 1 điều 157 nêu trên có một chữ vừa thừa vừa gây tranh cãi. Đó là chữ "XONG" ! Ví dụ, A nợ B số tiền 01 tỷ đồng nên nghĩa vụ của A là trả 01 tỷ đồng cho B, nếu lấy đơn vị tính là triệu thì từ 1 triệu, 2 triệu ..... cho tới 999 triệu đều là  01 phần nghĩa vụ của A, cho nên Luật qui định như vậy nhưng không qui định rõ "một phần nghĩa vụ" là bao nhiêu thì rất khó để đồng thuận về việc A đã "thực hiện xong" một phần nghĩa vụ, bởi A trả 01 triệu và nói đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ cũng đúng mà B nói A phải trả 100 triệu mới là thực hiện xong một phần nghĩa vụ cũng không sai. Chỉ cần bỏ chữ "XONG" này đi là không còn tranh cãi.

    Nhận định này không thuyết phục: Nếu chưa thực hiện "xong" thì căn cứ vào đâu để biết là thực hiện "một phần". Ví dụ: ra ngân hàng chuyển tiền mà viết sai số tài khoản thì có tính là đã thực hiện 1 phần? Chỉ cần xong 1 đồng là sẽ tính lại thời hiệu.
     
    Tương tự, ở điểm C cũng thừa chữ "TỰ", chúng ta đều biết, thường hòa giải thành đều có sự tác động của bên thứ ba (Tòa án, Hòa giải viên, UBND cấp xã, người có uy tín trong dòng họ ...v...v....), Luật qui định như vậy dẫn tới sự vô lý và phi thực tiễn là trường hợp các bên hòa giải thành do có sự tác động của bên thứ ba thì không được bắt đầu lại thời hiệu ?! Thiết nghĩ, chữ "TỰ" này cũng cần bỏ đi.

    Kết quả tự hòa giải là bình thường và xảy ra rất nhiều trong thực tế trong gia đình, lối xóm cùng nhau hoặc chỉ cần một người có uy tín khuyên nhủ là được; kể cà khi 2 bên thương lượng và "tự hòa giải" tranh chấp thì cũng được: người cho vay đồng ý không tính lãi và bên vay hứa trả trong 1 tháng. Do bên vay không thực hiện nên bên cho vay kiện và thời hiệu tính lại.
    Bỏ chữ "tự" thì trường hợp này thời hiệu hết?
    Nếu có bên thứ ba trung gian hòa giải thành thì xem như "Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;"

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 14/12/2020 10:15:30 CH
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (15/12/2020) TranTamDuc.1973 (15/12/2020)
  • #564774   14/12/2020

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


     

    TranTamDuc.1973 viết:

     

    Tôi mở chủ đề này với mục đích cùng các bạn kể lại những vấn đề đã gặp trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết các vụ án cũng như giải quyết các vụ khiếu nại.

    VỀ VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 408 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 :

    A được cấp GCNQSD thửa 01 và QSH căn nhà gắn liền. A ký hợp đồng nhận cọc của C 850 triệu để đảm bảo cho việc trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đặt cọc hai bên phải giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 theo giá không đổi là 05 tỷ đồng. Do A không thực hiện cam kết này nên phát sinh tranh chấp. Tòa sơ thẩm tuyên buộc A phải trả cho C 850 triệu tiền cọc và phải chịu phạt cọc 850 triệu, tổng cộng 1,7 tỷ đồng. Thế nhưng, Tòa phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì “có đối tượng không thể thực hiện được từ lúc giao kết” theo điều 408 BLDS và A chỉ phải trả cho C 850 triệu tiền đã nhận chứ không bị phạt cọc ! Lý luận của Tòa phúc thẩm là “trên thửa 01 có căn nhà, do đó hai bên chỉ thỏa thuận giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 là đã có đối tượng không thể thực hiện được từ lúc giao kết vì nhà và đất là một khối thống nhất không thể tách rời”.
     
    Thoáng nghe có vẻ hợp lý, nhưng phân tích kỹ sẽ thấy đây là một sự nhầm lẫn. Hợp đồng đặt cọc có 02 đối tượng, đối tượng 1 là số tiền cọc 850 triệu và đối tượng 2 là công việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa 01. Đối tượng 1 C đã đặt cọc 850 triệu cho A, đối tượng 2 chỉ cần A ra Văn phòng/Phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa 01 là thực hiện xong, như vậy không có đối tượng nào không thể thực hiện được từ lúc giao kết hợp đồng đặt cọc. Tòa phúc thẩm đã nhầm lẫn đối tượng của hợp đồng đặt cọc (đã có và đang tranh chấp) với đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (chưa có). Hơn nữa, về mặt vật lý thì nhà và đất có thể không thể tách rời nhưng về mặt pháp lý thì hoàn toàn có thể tách rời bởi pháp luật hiện tại cho phép người có QSDĐ và người có QSH nhà gắn liền không bắt buộc phải là một.
     

     

    Tôi đồng ý với bạn TranTamDuc.1973: "Hơn nữa, về mặt vật lý thì nhà và đất có thể không thể tách rời nhưng về mặt pháp lý thì hoàn toàn có thể tách rời bởi pháp luật hiện tại cho phép người có QSDĐ và người có QSH nhà gắn liền không bắt buộc phải là một."
    Do đó, Tòa nên buộc ông A phải ký hợp đồng chyển nhượng đất cho ông C; đồng thời cho phép ông A được bán nhà cho bạn 
    TranTamDuc.1973.

    Do nhà bạn TranTamDuc.1973 không có lối đi riêng nên cần buộc ông C sau khi mua thửa đất 5 tỷ thì phải chừa lối đi riêng cho bạn TranTamDuc.1973 đi.

     

     
    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 14/12/2020 10:10:56 CH
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (15/12/2020) TranTamDuc.1973 (15/12/2020)
  • #564791   15/12/2020

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Tôi nói Qui định gây tranh cãi là vậy đó. Người nói "biết một phần là bao nhiêu mà thực hiện xong", người khác phản biện "chưa thực hiện xong thì căn cứ vào đâu để biết là thực hiện một phần". Cho nên chỉ cần bỏ chữ "xong" đi, qui định chỉ còn "Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện" là hết tranh cãi.

    "Chỉ cần xong 1 đồng là sẽ tính lại thời hiệu" là quan điểm cá nhân chứ không phải qui định của Pháp luật. Mục đích của tôi muốn đề cập vấn đề các nhà làm Luật nên cố gắng xây dựng Luật cho rõ ràng, dễ hiểu và chỉ hiểu 01 nghĩa duy nhất chứ không gây tranh cãi, tôi không nhằm mục đích phân tích quan điểm cá nhân nên không bàn sâu hơn về quan điểm này.

    Tương tự là chuyện bỏ chữ "TỰ", quan điểm cho rằng "Nếu có bên thứ ba trung gian hòa giải thành thì xem như "Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện" là phiến diện và sai lầm trong nhiều trường hợp. Ví dụ A kiện B đòi 50 triệu, tại buổi hòa giải ở Tòa, ý kiến của B : "A không có giấy nợ của tôi nên tôi không nợ và không trả", tự thấy mình bất lợi do chỉ cho vay tiền bằng nói miệng, giờ bên vay phủ nhận nên A có ý kiến "tôi với B là bạn thân, tin tưởng nhau nên chỉ cho vay bằng nói miệng mà giờ B nói vậy thì đành thôi, tôi chấp nhận theo ý kiến của B". Hòa giải thành đó, nhưng đâu có xem như "Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện" được.

    Điểm a và điểm c khoản 1 điều 157 BLDS 2015 hoàn toàn khác nhau, phải khác nhau thì các nhà làm Luật mới phân ra làm 02 điểm tách biệt.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (15/12/2020)
  • #566113   04/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    SUY NGẪM....
     
    Đọc hồ sơ vụ án, thấy rằng ở Biên bản hòa giải của UBND Xã, Ông K khẳng định ông chỉ bán thửa đất 272 cho vợ chồng ông A, bà Ph bằng giấy tay ngày 11/5/1995 chứ không bán cho ông H, chữ ký tên ông trong giấy tay bán thửa 272 cho ông H ngày 20/3/1995 là chữ ký giả mạo. Thế nhưng, khi tới Tòa án Huyện thì trong các Biên bản lấy lời khai, ông K lại khai rằng năm 1995 ông chỉ bán thửa 272 cho ông H chứ không bán cho vợ chồng ông A, bà Ph ! Và, Bản án sơ thẩm đã “tự lý giải” việc này như sau:  "sở dĩ hòa giải tại UBND xã ông K có ý kiến chỉ bán giấy tay thửa 272 cho vợ chồng ông A, bà Ph chứ không bán cho ông H là vì trước khi tới UBND xã ông K đã được ông A và con trai mời uống rượu nên khi tới UBND xã làm việc ông đã không còn tỉnh táo", đối với yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết tên ông K tại giấy tay bán đất ngày 20/3/1995 cho ông H thì Bản án sơ thẩm nhận định : "nay ông K khẳng định ý chí của ông là muốn bán thửa đất 272 cho ông H chứ không bán cho vợ chồng ông A, bà Ph do đó không cần thiết phải giám định....". Thế là Bản án sơ thẩm tuyên công nhận thửa 272 thuộc Quyền sử dụng của ông H, buộc vợ chồng ông A, bà Ph phải tháo dỡ căn nhà xây dựng trên thửa 272 để giao thửa đất đó cho ông H, không hề xem xét tới việc thực tế vợ chồng ông A, bà Ph đã xây dựng căn nhà trên thửa 272 và trực tiếp quản lý, sử dụng thửa 272 đã hơn 10 năm ngay trước mắt ông H mà ông H không có bất kỳ phản ứng nào, cũng không hề đả động tới công sức giữ gìn, tôn tạo của vợ chồng ông A, bà Ph đối với thửa 272 trong ngần ấy thời gian.
     
    Trực tiếp gặp ông K (người dân tộc Ê đê) để tìm hiểu lý do tại sao ông thay đổi ý kiến như vậy, ông khẳng định trước sau ông chỉ nói đúng sự thật là ông chỉ bán đất cho vợ chồng ông A, bà Ph nhưng không hiểu tại sao lại thành ra như vậy. Tuy nhiên Ông nhớ có một lần Thẩm phán và Thư ký tìm tới tận nhà ông, kêu ông ký vào mấy tờ giấy trắng rồi cho ông 20.000 đồng. Ông nói thêm, với ông thì giấy trắng hay có chữ cũng như nhau, bởi ông chỉ biết ký mỗi chữ tên ông, còn lại "những con chữ khác thì tao mù đặc".
     
    Đúng là chuyện đáng suy ngẫm.... nhưng chưa hết, còn một chuyện đáng suy ngẫm nữa là trong vụ án này, vợ chồng ông A, bà Ph được một Luật sư rất nổi tiếng trong khu vực (nghe đồn trong cả Huyện miền núi ấy, hễ ai có việc cần Luật sư đều được giới thiệu đến vị Luật sư này) làm người đại diện theo ủy quyền có thù lao nhưng ngoài 1 cái Đơn đề nghị Giám định chữ ký của ông K không được chấp nhận rồi cũng bỏ qua, không khiếu nại hay có động thái nào khác, còn lại không tìm thấy "dấu ấn" nào thêm của vị Luật sư này, thậm chí vị Luật sư còn bỏ mặc khách hàng khi Tòa lấy lời khai, đặc biệt cũng không có bản Luận cứ bảo vệ cho khách hàng trong hồ sơ vụ án.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    NguyensoaiD36 (25/05/2021)
  • #566201   05/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    HÒA GIẢI
     
    Hòa giải tranh chấp, dù là hòa giải ở đâu, theo Luật nào cũng rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, việc hòa giải thành hay bại, phụ thuộc rất nhiều vào người có thẩm quyền chủ trì hòa giải. Nếu bỏ mặc việc hòa giải cho các bên đương sự, xem đó chỉ như một thủ tục thì không thành là rất cao, còn tận tâm hòa giải, sẵn sàng giải thích Luật cũng như phân tích thiệt, hơn cho các bên đương sự thường sẽ có kết quả tốt đẹp là hòa giải thành.
     
    Bà T có căn nhà trị giá 10 tỷ, nhưng do si tình, tháng 3/2018 bà đã bán nó cho ông K với giá 5 tỷ để lấy tiền cùng người yêu đi xây hạnh phúc ở vùng đất khác. Ông K thanh toán ngay 3 tỷ, được nhận bản chính GCN đi sang tên cho mình và đã thế chấp vay Ngân hàng 4 tỷ. Tranh chấp phát sinh khi bà T không thể giao nhà cho ông K bởi vấp phải sự phản đối gay gắt của Cha, Mẹ và Anh, Chị, Em vì nhà bà T nằm trong khu vực nhà của cả gia đình, sử dụng sân chung và lối đi chung. Tất nhiên trong bối cảnh đó, ông T không thanh toán nốt 2 tỷ còn lại.
     
    Bảo vệ bà T, tôi kiên nhẫn hòa giải với ông K, phân tích cho ông hiểu rằng hợp đồng mua bán nhà đất giấy tay giữa ông và bà T là vi phạm điều cấm của Luật nên khả năng bị tuyên vô hiệu là rất cao, vi phạm điều cấm vì hai bên thỏa thuận bà T phải xây căn nhà cấp 4 trên lộ giới và hành lang bảo vệ kênh thoát nước phía trước căn nhà hiện hữu để bán gộp với giá 5 tỷ. Còn hợp đồng công chứng khả năng bị vô hiệu cũng không thấp do là Hợp đồng giả tạo nhằm che dấu cho Hợp đồng thật là Hợp đồng viết tay. Cẩn thận ghi lại các điều luật có liên quan để ông K về nhà tự nghiên cứu.
     
    Thời gian trôi qua, ông K từ thái độ gay gắt, quyết liệt ban đầu đã dần trở nên ôn hòa. Đúng thời điểm, tôi đưa ra ý kiến hòa giải theo hai cách, một ông K làm thủ tục sang tên nhà đất lại cho bà T, bà T sẽ hoàn cho ông số tiền 03 tỷ đã nhận và tự nguyện hỗ trợ thêm 1,5 tỷ, còn hai là ông K phải thanh toán 02 tỷ còn lại cộng thêm 3 tỷ, tổng cộng là 5 tỷ cho bà T thì bà T sẽ giao nhà. Cuối cùng hai bên thỏa thuận bà T giao nhà cho ông K sau khi ông K thanh toán cho bà T tổng cộng 4,9 tỷ, vậy là hòa giải thành và hai bên cam kết sẽ thực hiện xong trước tết Nguyên đán 2021.
     
    Có người cho rằng thỏa thuận như vậy là bà T bị thiệt, tôi chỉ mĩm cười, nhã nhặn kêu họ tính lại cho kỹ và lưu ý phải xem xét toàn diện vụ việc, đặc biệt là tình tiết ông K đã sang tên và thế chấp vay Ngân hàng, cũng đừng bỏ qua án phí và phí thi hành án cùng nhiều chi phí cần thiết khác nếu tiếp tục vụ án.
     
    Đầu năm mới, hòa giải thành mở màn hy vọng sẽ may mắn cho cả năm.
     

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (06/01/2021) hungmaiusa (06/01/2021)
  • #566482   12/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Nếu để Tòa xử thì sẽ có 2 tình huống xảy ra, một là Tòa bác yêu cầu khởi kiện, chấp nhận yêu cầu phản tố, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng, mua bán nhà đất có hiệu lực và buộc bà T phải giao nhà đất cho ông K, trường hợp này thì bà T thua "trắng tay". Hai là Tòa bác yêu cầu phản tố, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên Hợp đồng chuyển nhượng, mua bán nhà đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu. Cách giải quyết hậu quả như sau :

    - Buộc ông K phải trả nhà đất lại cho bà T

    - Buộc bà T phải thanh toán cho ông K số tiền 3 tỷ đã nhận + 1,5 tỷ bồi thường thiệt hại, tổng cộng là 4,5 tỷ. 

    - Buộc bà T phải chịu án phí đối với 4,5 tỷ mà bà có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông K là 117.000.000 đồng.

    * Cách tính thiệt hại :

    - Giá nhà đất theo kết quả định giá của Tòa : 10 tỷ đồng (giả sử định giá đúng giá thị trường năm 2018)

    - Giá nhà đất thể hiện trên hợp đồng : 05 tỷ

    - Thiệt hại : 10 tỷ - 05 tỷ = 05 tỷ.

    => Do hai bên cùng có lỗi như nhau nên mỗi bên phải chịu thiệt hại 1/2, tức mỗi bên phải chịu thiệt hại 2,5 tỷ.

    => Nhưng do ông K chỉ mới thanh toán 03 tỷ nên bà T chỉ phải bồi thường thiệt hại cho ông K là 03 tỷ x 2,5 tỷ : 05 tỷ = 1,5 tỷ.

    => Tổng cộng bà T phải chi ra là 4,5 tỷ + 117.000.000 đồng = 4.617.000.000 đồng để nhận về nhà đất có giá trị tạm tính là 10 tỷ => bà T bán được ngay nhà đất với giá tạm tính 10 tỷ thì bà sẽ có lợi : 10 tỷ - 4.617.000.000 đồng = 5.383.000.000 đồng => so với kết quả hòa giải, tổng cộng bà T nhận về chỉ có 4,9 tỷ => bà T bị thiệt : 5.383.000.000 đồng - 4.900.000.000 đồng = 483.000.000 đồng.

    Nhưng (đời vẫn thường có những cái nhưng "chết người" !), 10 tỷ là giá của đầu năm 2018, còn hiện nay do ảnh hưởng của dịch cúm Vũ Hán, thị trường nhà đất gần như bị đứng chựng, dù giảm giá sâu vẫn chưa chắc có người mua ở những vị trí, cung đường không đắc địa. Hơn nữa, bà T không có 4,617 tỷ để thanh toán ngay cho ông K, nếu đi vay bên ngoài để trả món này thì tiền lãi rất cao, trong khi không có gì đảm bảo trong khoảng thời gian 1, 2 tháng bà ta sẽ bán được nhà đất với giá 10 tỷ, chưa kể Tòa cũng tuyên hai bên phải thực hiện nghĩa vụ cùng lúc, nếu ông K có đơn yêu cầu thi hành án mà bà T chưa có tiền thì bà T phải chịu lãi suất tính ra là 10%/năm. Tóm lại, bài toán này nếu tính sai thì bà T không phải chỉ thiệt hại 483 triệu mà sẽ bị thiệt hại nhiều hơn nhiều, mới hay tưởng thiệt hại nhưng không thiệt hại là vậy.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (12/01/2021)
  • #566874   26/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    LẠI HÒA GIẢI 

    Năm 2000 hộ bà T được cấp GCN 3 thửa đất 1,2, 3 do bà T đại diện đứng tên. Bà T ký hợp đồng chuyển nhượng thửa số 1 cho bà Th vào ngày 11/10/2010 và được chứng thực tại UBND xã, ngày hôm sau, tức ngày 12/10/2010 các thành viên còn lại trong Hộ mới đến UBND xã làm Giấy ủy quyền cho bà T chuyển nhượng thửa số 1. Giá chuyển nhượng 540 triệu, bà Th đã thanh toán 508 triệu, còn 32 triệu, bên bà T đã giao bản chính GCN cho bên bà Th làm thủ tục sang tên. Sau khi tách sổ thửa 01 cho mình, bà Th không trả bản chính GCN còn 2 thửa 2, 3 cho bà T mà lại thế chấp GCN đó cho bà V để vay 1,5 tỷ đồng, đồng thời cũng không trả nốt 32 triệu cho bên bà T nhưng đã chuyển nhượng thửa 01 cho ông R và ông R đã sang tên, chuyển quyền thửa 01 cho mình.

    Tranh chấp phát sinh, bên bà T khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/10/2010 do đất cấp cho Hộ mà chỉ 1 mình bà T ký tên, ngày hôm sau thành viên trong hộ mới làm giấy ủy quyền cho bà T chuyển nhượng thửa này, đồng thời yêu cầu hủy Hợp đồng do bà Th chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tới nay vẫn còn nợ 32 triệu đồng. Bên bà T cũng yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng bà Th chuyển nhượng thửa 01 cho ông R với lý do đất đang có tranh chấp mà chuyển nhượng. Bên cạnh đó bên bà T yêu cầu hủy các GCN đã cấp cho bên nhận chuyển nhượng theo các Hợp đồng nêu trên.

    Vụ án kéo dài từ 2012 tới nay, theo được 02 năm thì bà Th làm ăn thất bại đã bỏ đi đâu không ai biết, riêng bà V theo sự động viên, giải thích của Tòa đã giao trả bản chính GCN 2 thửa 2 và 3 cho bà T. Năm 2020 bà T mất, trong những người con kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà có ông B là Cử nhân Luật nên ông rất tự tin bên ông sẽ thắng kiện, tức bên ông sẽ được nhận lại thửa 01 và chỉ phải trả lại cho bên kia 508 triệu đã nhận. Niềm tin lớn tới nổi ông từ chối tất cả lời đề nghị hòa giải, thương lượng của bên ông R là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mặc dù Tòa cũng nhiều lần đề nghị nên hòa giải, thương lượng.

    CÒN TIẾP

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
  • #567052   29/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Diễn biến vụ việc như vậy, thấy rằng ngày 11/10/2010 UBND xã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 khi bà T không được các thành viên khác trong hộ ủy quyền là sai, tuy nhiên, khi biết việc đó, chẳng những các thành viên trong hộ không phản đối, khiếu nại mà còn ký giấy ủy quyền vào ngày 12/10/2010, coi như họ đồng ý việc bà T chuyển nhượng thửa 01 nên Hợp đồng này không bị vô hiệu theo qui định tại khoản 1 điều 145 BLDS 2005, tương ứng khoản 1 điều 142 BLDS 2015.

    Bà Th tới nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán 32 triệu là đã chậm thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên BLDS 2005 không qui định bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền được quyền hủy hợp đồng, việc này có qui định tại điều 424 BLDS 2015 nhưng hợp đồng ký kết năm 2010 thì phải áp dụng BLDS 2005. Như vậy khả năng Tòa tuyên hủy Hợp đồng gần như không có mà Tòa chỉ buộc bà Th phải thanh toán 32 triệu còn nợ cộng với lãi suất theo qui định trong thời hạn khoảng 10 năm, lấy số tròn 10%/năm thì tổng cộng bà Th phải thanh toán cho bà T là 32 triệu gốc + 32 triệu lãi trong 10 năm = 64 triệu.

    Do Hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 giữa bà T và bà Th không bị hủy nên Hợp đồng chuyển nhượng thửa 01 giữa bà Th và ông R cũng có hiệu lực, các GCN có sau khi nhận chuyển nhượng cũng vì vậy mà không bị hủy.

    Điều đặc biệt cần quan tâm là bà Th hiện đã không còn tài sản và bỏ đi đâu không ai biết nên sẽ rất khó khăn trong việc thi hành án, nói thực tế là vô vọng, đây là một điển hình của "thắng mà thua". Trong khi đó phía ông R do muốn được yên ổn sử dụng đất đã chủ động đề nghị hòa giải bằng cách ông sẽ tự nguyện giao cho phía bà T số tiền 200 triệu đồng, đổi lại phía bà T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Vấn đề là phải thuyết phục được ông B - một Cử nhân Luật nhưng hiểu Pháp luật chưa được toàn diện và còn hay suy diễn nội dung căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho mình chứ không theo đúng tinh thần Luật -  thấy rằng chấp nhận theo đề nghị của phía ông R là có lợi cho phía bà T. Cuối cùng, tôi cũng đã thuyết phục được ông B, vụ án đã khép lại trong sự thở phào nhẹ nhõm của nhiều người.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (29/01/2021)
  • #567302   30/01/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    TÂM LINH CÓ THẬT ?

    Bà Tư mất để lại căn nhà 10 tỷ. Khi các con của Bà rục rịch chia thừa kế thì người con gái thứ 5 đưa ra GCN nhà đất đã sang tên mình từ hồi bà Tư còn sống kèm theo Hợp đồng tặng cho được công chứng. Những người con còn lại, nhất là người con trai trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà và phụng dưỡng bà Tư chưng hửng, họ khẳng định không hề nghe bà Tư nói gì về việc tặng cho này và họ khẳng định có gì đó mờ ám chứ không thể nào bà Tư có 8 người con mà lại tặng cho mỗi mình người con gái thứ 5 đã có gia đình riêng từ lâu, có nhà cửa đồ sộ, giàu sang nhất trong các con của bà. 

    Ngày Tòa mở phiên xét xử đã cận kề mà vẫn chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ nào có thể lật ngược vấn đề, vị Luật sư ghé qua nhà an ủi người con trai vì khả năng thua kiện đã rõ nét. Xin phép gia chủ, ông thắp 3 nén nhang trên bàn thờ bà Tư và lâm râm khấn nguyện nếu sự thật có gì khuất tất thì mong bà phù hộ tìm ra tài liệu, chứng cứ. Dù người con trai của bà Tư khẳng định đã tìm hết và giao tất cả giấy tờ có liên quan cho Luật sư nhưng Luật sư vẫn đề nghị gia chủ cho ông được vào phòng riêng của bà Tư lúc sinh thời để trực tiếp tìm kiếm lần cuối.

    Ngoài hộc tủ chất đầy những hóa đơn, chứng từ mua bán tủ, bàn, ghế ...trước 30/4/1975 (thời điểm đó bà Tư là chủ một cơ sở mộc ở khu vực Ngô Gia Tự ngày nay), còn lại các hộc tủ khác chỉ lèo tèo vài ba mảnh giấy nội dung không có gì liên quan. Như có một sự thôi thúc vô hình nào đó, vị Luật sư quyết định xem xét toàn bộ số hóa đơn, chứng từ xưa cũ, đầy bụi bặm và mùi ẩm mốc, vào lúc hy vọng của ông chuẩn bị tắt ngấm vì cái tủ sắp trống rỗng mà không tìm thấy gì thì có một mảnh giấy học trò được ép nhựa rơi ra, đó là Giấy viết tay của người con gái thứ 5 cam kết rằng Hợp đồng tặng cho nhưng thực chất bà ta chỉ đứng tên dùm bà Tư để khi bà Tư mất thì bà ta bán nhà chia cho tất cả các anh chị em, riêng người con trai xưa nay phụng dưỡng bà Tư được 2 phần và nếu người con trai này có khả năng thì đưa tiền cho anh chị em để được sở hữu căn nhà. Giấy cam kết có chứng thực chữ ký của Chủ tịch UBND Phường.

    Sự thật được phơi bày, bà Tư do không tin tưởng con dâu bằng con gái thứ 5 (vừa giàu có lại vừa là Cán bộ Nhà nước) nên làm vậy để đảm bảo sau khi bà mất các con của bà đều có phần, cũng may là Bà biết yêu cầu cô con gái "rượu" viết Bản cam kết và bà lanh trí giấu bản cam kết này trong đống giấy tờ cũ rích mà không phải ai cũng muốn đụng vào (gia chủ kể lại, sau khi bà Tư mất, người con gái thứ 5 mấy lần vô phòng riêng của bà Tư để "sắp xếp lại", rất may là bà ấy không tìm thấy Bản cam kết !), nếu không thì người bà tin tưởng nhất sẽ chính là người phụ lòng tin của bà một cách trắng trợn, phũ phàng nhất.

    Cập nhật bởi TranTamDuc.1973 ngày 30/01/2021 02:58:13 CH

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ntdieu (30/01/2021)
  • #567579   01/02/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    TÂM LINH CÓ THẬT ?

    Theo lời kể thì phiên tòa hôm ấy khiến vợ chồng ông rất sợ hãi, chỉ ôm nhau khóc, không nói được gì. Thấy vậy Thư ký đưa cho xấp giấy trắng và nói “ông bà ký tên vô rồi về, Tòa sẽ triệu tập tới làm việc sau chứ bữa nay xúc động thế này không làm việc được”, hai vợ chồng vội vã ký tên theo hướng dẫn của Thư ký rồi nhanh chóng rời khỏi Tòa.

    Một thời gian sau, họ nhận được Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa, theo đó họ thỏa thuận chia thừa kế cho mấy người em một phần nhà đất của mình quản lý, sử dụng và đứng tên GCN trên cơ sở tặng cho hợp pháp của người Cha từ lúc ông còn sống. Kinh ngạc vì chưa bao giờ thỏa thuận như vậy, họ cuống cuồng chạy hỏi và khiếu nại khắp nơi nhưng đều được phản hồi là không có cơ sở giải quyết. Ngày bị cưỡng chế ông chồng tẩm xăng tự thiêu, để lại thư tuyệt mệnh rằng ông lấy cái chết để kêu oan, mong các cấp có thẩm quyền xem xét lại vụ án để giải oan cho ông.

    Thời đó Biên bản phiên tòa còn viết tay và do phải viết nhanh mới kịp diễn biến phiên tòa nên văn vẻ không được trau chuốt nhưng Biên bản phiên tòa của họ chữ viết đẹp và câu cú chuẩn tới từng chữ, từng dấu chấm câu. Tuy nhiên, không thể căn cứ chữ viết đẹp và trình bày mạch lạc mà kết luận Biên bản giả. Tìm mãi nhưng không ra tài liệu, chứng cứ để được Giám đốc thẩm.

    Trong sự tuyệt vọng, Con của họ nhờ một vị Luật sư khác xem lại toàn bộ hồ sơ vụ án. Trong diễn biến vụ việc như vậy, với sự thành tâm và theo phép lịch sự vị Luật sư thắp cho ông nén nhang, cầu nguyện ông nếu thật sự bị oan thì phù hộ tìm ra chứng cứ. Trao đổi với gia đình rất lâu để tìm hiểu sự việc dẫn tới chuyện Bố ông – người để lại di sản - là người đào hoa, gia đình mang 03 cuốn Album hình ảnh toàn bộ đám tang của ông ấy cho vị Luật sư xem. Vị Luật sư phát hiện có một thanh niên khoảng 18, 20 tuổi mặc tang phục dành cho con trai của người quá cố trong những tấm ảnh có mặt đầy đủ các đương sự trong vụ án, hỏi ra thì đó là “con rơi” của người chết, mẹ cậu ta không được thừa nhận nhưng cậu ta từ nhỏ đã được “mẹ cả, mẹ thứ” và các anh chị em “dòng cả, dòng thứ” thừa nhận cho nên khi người Cha chung mất, cậu ta mới được có mặt trong tang phục của con trai.

    Đó là tình tiết mới làm thay đổi nội dung cơ bản của vụ án, bởi trong Quyết định thỏa thuận chia thừa kế kia đã bỏ sót người con này của người để lại di sản. Vụ án đã được Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết định tái thẩm.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ntdieu (01/02/2021) ThanhLongLS (01/02/2021)
  • #567599   02/02/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Hợp đồng ủy quyền là Hợp đồng dân sự nên phải tuân thủ qui định đối với Hợp đồng dân sự. Luật không cấm bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền nhưng Luật qui định muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền phải tuân thủ điều 569 BLDS 2015. Khi bên ủy quyền thực hiện đúng qui định tại điều 569 BLDS 2015 thì đại diện theo ủy quyền của bên nhận ủy quyền sẽ chấm dứt theo qui định tại điểm d khoản 3 điều 140 BLDS 2015, lúc đó bên từng ủy quyền mới được tự xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từng ủy quyền.

    Khi các bên còn tồn tại một hợp đồng dân sự có hiệu lực mà 1 bên làm trái với thỏa thuận trong hợp đồng thì không cần phải dân Luật cũng biết vậy là sai. Ví dụ, A ủy quyền cho B bán căn nhà của mình, hợp đồng ủy quyền có hiệu lực và đang tồn tại, bổng dưng A tự bán căn nhà đó mà không làm thủ tục theo qui định để chấm dứt hợp pháp hợp đồng ủy quyền với B trước thì rõ ràng hành vi tự bán nhà của A đã vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng ủy quyền.

    Tại TP. Hồ Chí Minh, dù tới bất kỳ Phòng/Văn phòng công chứng và gặp bất cứ Công chứng viên nào để công chứng hợp đồng ủy quyền xác lập, thực hiện Hợp đồng mua bán nhà hoặc chuyển nhượng QSDĐ... thì nhà, đất đó sẽ cập nhật vào danh sách đã có giao dịch, từ đó chỉ người được ủy quyền mới được ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng có công chứng, chủ sở hữu nhà, chủ sử dụng đất nếu không hủy hợp đồng ủy quyền trước thì không được ký hợp đồng mua bán nhà hay chuyển nhượng QSDĐ có công chứng. Tôi đồng ý và rất tâm đắc với trình tự, thủ tục này của các Phòng/Văn phòng công chứng vì nó vừa hợp pháp theo qui định tại điểm d khoản 3 điều 140 và điều 569 BLDS 2015 lại vừa ngăn chặn được kẻ gian muốn có 1 căn nhà, 1 thửa đất mà bán, chuyển nhượng nhiều lần.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (02/02/2021)
  • #568108   25/02/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Đầu năm rảnh rỗi, lướt web đọc được bài báo này thấy có nhiều điều cần suy ngẫm  :  http://cand.com.vn/dieu-tra-theo-don-ban-doc/Tham-phan-chong-lenh-cua-Chanh-an-528158/ :

     

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (26/02/2021)
  • #568138   26/02/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC MÀ BÀI BÁO ĐỀ CẬP :

    Ngày 01/10/2018 bà Thu bán nhà và đất 184 cho bà Tuyến bằng hợp đồng có công chứng. Ngày 02/10/2018 bà Tuyến nhận nhà, đất dọn vô ở và tới Chi nhánh nộp hồ sơ sang tên được nhận và hẹn ngày 18/10/2018 đến lấy kết quả. Ngày 18/10/2018 bà Tuyến tới nhận kết quả thì bị trả hồ sơ, không sang tên được do ngày 08/10/2018 bà Thúy đã kiện bà Thu tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa 2 người, đồng thời yêu cầu và được Tòa án (Thẩm phán Nga) ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hình thức cấm chuyển dịch quyền đối với nhà, đất 184.

    Bà Tuyến khiếu nại QĐ cấm chuyển dịch quyền của Thẩm phán Nga, Chánh án căn cứ khoản 1 điều 22 Luật nhà ở qui định hợp đồng bán nhà ở đã có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng, tức quyền sở hữu nhà ở 184 đã không còn của bà Thu mà chuyển cho bà Tuyến từ ngày 01/10/2018 nên Thẩm phán Nga cấm chuyển dịch nhà 184 đã thuộc quyền sở hữu của bà Tuyến là sai, phải hủy QĐ cấm chuyển dịch nhưng Thẩm phán Nga không đồng ý hủy.

    Tóm lại, vấn đề pháp lý của câu chuyện này là quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà, đất 184 còn của bà Thu hay đã thuộc bà Tuyến ? Nếu còn của bà Thu thì Thẩm phán Nga đúng, nếu đã chuyển cho bà Tuyến thì Chánh án đúng. Chánh án đã viện dẫn khoản 1 điều 22 Luật nhà ở để chứng minh mình đúng, còn Thẩm phán Nga có hay không có căn cứ để “chống lệnh” Chánh án ? Đó chính là vấn đề cần trả lời.

    Vụ việc này tuy không phổ biến ngoài thực tế nhưng cũng đã nhiều lần xảy ra và chắc chắn sẽ còn xảy ra và thường thì thiệt hại nhiều nhất thuộc về người nhận chuyển nhượng nhà, đất 

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (26/02/2021)
  • #568583   01/03/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    Theo qui định thì nhà và QSDĐ là hai đối tượng khác nhau, được điều chỉnh bởi 2 Luật khác nhau, nhà do Luật nhà ở điều chỉnh, QSDĐ do Luật đất đai điều chỉnh. Khoản 1 điều 122 Luật nhà ở (tác giả bài báo ghi nhầm là điều 22) qui định Hợp đồng mua bán nhà ở có hiệu lực từ thời điểm được công chứng nhưng Khoản 3 điều 188 Luật đất đai qui định thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là khi bên nhận chuyển nhượng đã đăng ký sang tên cho mình.

    Tuy nhiên, thực tế hầu hết nhà và QSDĐ là một khối thống nhất, do đó hầu hết Hợp đồng mua bán nhà đồng thời cũng là Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Trường hợp bài báo nêu chính là Hợp đồng vừa mua bán nhà, vừa chuyển nhượng QSDĐ, cho nên căn cứ vào các qui định nêu trên thì Quyền sỡ hữu nhà đã được chuyển cho bà Tuyến từ ngày 01/10/2018 nhưng QSDĐ thì vẫn còn của bà Thu do bà Tuyến chưa đăng ký sang tên cho mình được !

    Như vậy, đúng Luật thì phần nhà không được cấm chuyển dịch để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bà Thu vì nhà đã thuộc quyền sở hữu của bà Tuyến nhưng QSDĐ thì vẫn cấm chuyển dịch được vì còn là tài sản của bà Thu, nghĩa là Chánh án và Thẩm phán Nga mỗi người đều có cái đúng và đều có cái sai nhưng Thẩm phán đúng nhiều hơn vì giá trị QSDĐ luôn luôn cao hơn giá trị nhà. Chính vì có căn cứ khá vững chắc nên Thẩm phán mới "chống lệnh" Chánh án.

    Nguyên nhân của sự xung đột, mâu thuẫn này, như đã nói là do nhà và đất hầu hết đều gắn liền thành một khối nhưng Luật nhà ở và Luật đất đai lại không qui định thống nhất về thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng mua bán nhà và Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Tòa án các tỉnh còn "chệch choạc" khi giải quyết, riêng Tòa án TPHCM có tập huấn thống nhất trường hợp này thì toàn bộ Hợp đồng được xem là có hiệu lực khi bên nhận chuyển nhượng đã đăng bộ sang tên cho mình.

     

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (01/03/2021)
  • #568918   11/03/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    "THẰNG NẦY NÈ"
     
    Hoà giải ngoài Tòa án, tui hỏi Bị đơn "ông bà nói mình không nhận một cắc nào, sao ký tên vào Hợp đồng đặt cọc, ghi rõ đã nhận cọc 330 triệu, còn đưa bản chính GCN nhà đất cho Nguyên đơn cất giữ làm tin ? Ông bà có biết ký tên như vậy thì phải chịu trách nhiệm đối với số tiền cọc 330 triệu hay không ?" thì người phụ nữ đưa tay chỉ thẳng vào người đàn ông đối diện "tại tụi tui tin tưởng thằng nầy nè".
     
    Nạn nhân gồm chồng sinh năm 1973 và vợ sinh 1974, còn "thằng này nè" sinh 1968. "Thằng này nè" từ Nam Định vào miền nam mở một Công ty TNHH kinh doanh theo danh thiếp là từ thi công cầu đường cho tới nhận làm hồ sơ  nhà đất... Giám đốc -"thằng nầy nè" - quen biết nên hay nhờ vợ chồng khổ chủ đi vay tiền dùm để đưa cho "thằng nầy nè" làm vốn nhưng giấy tờ nợ nần thì khổ chủ đứng tên. "Thằng nầy nè" còn khiến cô con gái 19 tuổi của khổ chủ si mê, dính chặt như sam, vậy là "thằng nầy nè" trở thành con rễ của khổ chủ, dù ở tuổi 54, ở ngoài quê có khi "thằng nầy nè" đã có đầy đủ vợ, con và cháu. 
     
    Câu chuyện "THẰNG NẦY NÈ" xưa như trái đất với người này nhưng vẫn mới mẻ với người khác, cho nên trong xã hội, lai rai đó đây vẫn xuất hiện "THẰNG NẦY NÈ".

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (11/03/2021)
  • #569399   26/03/2021

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1321)
    Số điểm: 10314
    Cảm ơn: 171
    Được cảm ơn 1064 lần
    Moderator

    QUYỀN ĐƯỢC XEM BIÊN BẢN PHIÊN TÒA :

    Khoản 4 điều 236 BLTTDS 2015 qui định : "4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận"

    Khoản 4 điều 166 LTTHC qui định : "4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận."

    Điểm khác nhau giữa Tố tụng dân sự và Tố tụng hành chính về quyền được xem Biên bản phiên tòa là Tố tụng dân sự qui định phải "xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa", còn Tố tụng hành chính không qui định thời điểm xem Biên bản phiên tòa.

    Có nhiều người xem nhẹ quyền này và nhiều khi vì vậy mà phải trả giá. Trong một phiên tòa có rất nhiều tình tiết diễn ra rất nhanh, muốn theo kịp bắt buộc thư ký phiên tòa phải ghi tắt và trong bối cảnh đó sơ sót là điều không thể tránh khỏi, vì vậy phải đọc Biên bản phiên tòa để nếu phát hiện Thư ký ghi sai hoặc bỏ sót ý kiến của mình thì kịp thời sửa đổi, bổ sung cho đúng. Toàn bộ diễn biến phiên tòa được ghi lại bằng Biên bản phiên tòa, gồm cả nội dung tranh luận của các bên mà kết quả tranh luận tại tòa là cơ sở quan trọng để Tòa ra phán quyết. Cho nên đừng xem nhẹ việc xem Biên bản phiên tòa, nếu không kịp thời sửa đổi, bổ sung ý kiến của mình cho đúng với ý chí thì coi chừng tự mình hại mình mà không thể kêu oan.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THƯỢNG - 0907 829 557

    231/3A đường Chiến Lược, KP 18, Phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TPHCM

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (26/03/2021)