Đất ruộng tại Hà Nội

Chủ đề   RSS   
  • #456863 10/06/2017

    Thuhang198509

    Sơ sinh

    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:10/06/2017
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Đất ruộng tại Hà Nội

    Chào Luật Sư ,

    Luật sư cho em hỏi gia đình em quê ở Hà Tây (Hà Nội ) ,năm 1989 gia đình em sống ở ngoài Hà Nội và được cấp ruộng cho 5 thành viên trong gia đình (Bố ,mẹ ,3 chị em ) .Năm 1992 bố em chết gia đình di cư vào miền nam sống ,tuy nhiên phần ruộng vẫn còn và hiện tại ông bà đang giữ .Vừa qua ngoài bắc có chính sách dồn điền đổi thửa ,đến nay nhà nước đang cấp sổ đỏ cho đất ruộng nhưng gia đình em không có ngoài đó nên vẫn đề sổ đó không cấp được .Ông bà bảo viết giấy ủy quyền cho ông bà để ông bà làm dùm nhưng em không muốn ủy quyền vì từ trước đến nay ông bà vốn dĩ đã không muốn trả lại đất ruộng cho gd em .Lúc trước sổ ruộng của gd em chung với ông bà 

    Thưa luật sư :

    1. Có cách nào để cho em lấy lại đất ruộng của mình để bán không ? vì gia đình em không còn khẩu ở ngoài quê .

     
    3187 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #457174   13/06/2017

    Theo tôi nghĩ Bạn nên viết giấy ủy quyền để ông bà của bạn thay mặt gia đình bạn liên hệ đến các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bạn. (đây là việc ông bà của bạn đăng ký cấp giấy chứng nhận giúp gia đình bạn chứ không phải họ đi đăng ký quyền sở hữu cho họ.) Hoặc gia đình bạn có thể tự liên hệ cơ quan có thẩm quyền nơi có đất để thực hiện thủ tục đăng ký cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với những loại giấy tờ, quyết định giao đất.... đã được cấp trước đây để chứng minh nguồn gốc sử dụng đất của gia đình bạn làm cơ sở cho việc xét duyệt công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.

     
    Báo quản trị |  
  • #457185   13/06/2017

    Lan2007
    Lan2007

    Female
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/04/2014
    Tổng số bài viết (46)
    Số điểm: 839
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 20 lần


    Chào bạn, dựa vào thông tin mà bạn cung cấp tôi xin được góp ý như sau:

    Để thực hiện việc bán đất trước hết gia đình bạn cần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó.

    Mảnh đất ruộng của gia đình bạn mà ông bà bạn đang quản lý đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 100 Luật Đất đai 2013:

    Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

    1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

    a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

    d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

    e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

    g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

    Gia đình bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho ông bà bạn hoặc tự mình thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSDĐ.

    Thủ tục cấp GCNQSDĐ như sau:

    1.      Chuẩn bị 01 bộ hồ sơ gồm: Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK của Nghị định 43/2014; văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có),  một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 như trên;

    2.      Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

    Hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nếu có nhu cầu.

    3.      Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa khi cần thiết; Nhận kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

     

    Mong rằng với những góp ý của tôi, bạn đã giải đáp được thắc mắc của mình. Trường hợp bạn có nhu cầu tư vấn thêm hoặc cần trợ giúp thực hiện các thủ tục cần thiết, vui lòng liên hệ tới chúng tôi để được trợ giúp.

     

    Trân trọng./.

    NGUYỄN THỊ HƯƠNG - CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM (www.vietkimlaw.com)

    M: 043.212.3044 - E: m5.vietkimlaw@gmail.com

    01658.243.874

    Ad: Tầng 5, SHB Building, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, Hà Nội.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Lan2007 vì bài viết hữu ích
    clevietkimlaw3 (16/06/2017)
  • #458263   21/06/2017

    Thuhang198509
    Thuhang198509

    Sơ sinh

    Bình Dương, Việt Nam
    Tham gia:10/06/2017
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 95
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Thưa luật sư .

    Bên công ty em có một trường hợp nghỉ thai sản 6 tháng ,đang trong thời gian thai sản NLD viết đơn báo trước 30 ngày theo HDLD có thời hạn .Vậy nếu công ty không giải quyết cho nghỉ việc có đúng không ?vì bạn này đang trong thời gian thai sản mà viêt đơn nghỉ việc .

     
    Báo quản trị |  
  • #458295   21/06/2017

    Lan2007
    Lan2007

    Female
    Mầm

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:21/04/2014
    Tổng số bài viết (46)
    Số điểm: 839
    Cảm ơn: 10
    Được cảm ơn 20 lần


    Chào bạn, đối với trường hợp của bạn tôi xin được góp ý như sau: 

    Theo quy định của Bộ luật lao động 2012:

    Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
     
    1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:
     
    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
     
    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
     
    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
     
    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;
     
    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
     
    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
     
    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
     
    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
     
    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;
     
    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;
     
    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
     
    3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
     
    Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
     
    1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
     
    2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
     
    3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

    Theo đó, đối với HĐLĐ không xác định thời hạn thì NLĐ có thể chấm dứt HĐ bất cứ lúc nào nhưng phải tuân thủ thời hạn báo trước là 45 ngày, còn đối với các loại HĐLĐ còn lại phải tuân thủ các căn cứ tại khoản 1 Điều 37 trên.

    Trường hợp đang nghỉ thai sản, NLĐ viết đơn xin nghỉ việc mà tuân thủ các điều khoản trên, thì vẫn là đơn phương chấm dứt HĐ đúng luật. Công ty phải thực hiện giải quyết quyền lợi cho NLĐ.

    Trân trọng./.

     

     

     

     

    NGUYỄN THỊ HƯƠNG - CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM (www.vietkimlaw.com)

    M: 043.212.3044 - E: m5.vietkimlaw@gmail.com

    01658.243.874

    Ad: Tầng 5, SHB Building, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, Hà Nội.

     
    Báo quản trị |