Đất đai đứng tên 2 vợ chồng khi chuyển nhượng có cần chữ ký của các con không?

Chủ đề   RSS   
  • #551554 11/07/2020

    thephuong.it

    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:11/07/2020
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 1 lần


    Đất đai đứng tên 2 vợ chồng khi chuyển nhượng có cần chữ ký của các con không?

    Xin chào Danluat
    Mình có một vấn đề cần tham khảo với Luật sư

    Trường hợp sổ đỏ đất đai đứng tên 2 vợ chồng, nhưng khi chuyển nhượng cho người khác. Ra văn phòng vông chứng hoặc tổ 1 cửa, có cần phải có sự đồng ý hoặc chữ ký của các con trong gia đình không (lớn hơn 18 tuổi).

    Xin cảm ơn

     
    482 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn thephuong.it vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (13/07/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #551824   15/07/2020

    Theo thông tin được cung cấp thì sổ đỏ đất đai đứng tên hai vợ chồng. Các con chỉ là người sống chung trên mảnh đất đó. Do đó, vấn đề này được xác định là đất cấp cho hai vợ chồng chứ không phải là đất cấp cho hộ gia đình. Việc chuyển nhượng tài sản của hai vợ chồng cho người thứ ba thì không liên quan đến việc các con có đồng ý hay không. Vì đây là tài sản hợp pháp của hai vợ chồng nên hai vợ chồng có toàn quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản đó.

    Căn cứ pháp lý như sau: (Áp dụng Bộ luật dân sự 2015)

    Điều 158 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền sở hữu:

    Điều 158. Quyền sở hữu

    Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”

    Điều 160 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:

    Điều 160. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

    1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

    Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

    2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

    3. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.”

    Khoản 2 Điều 221 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Căn cứ xác lập quyền sở hữu:

    Điều 221. Căn cứ xác lập quyền sở hữu

    Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:

    [...]

    2. Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác”

    Áp dụng vào những quy định trên, hai vợ chồng được quyền chuyển nhượng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác theo quy định của pháp luật hiện hành mà những người trong gia đình không có quyền can thiệp hay cần có sự đồng ý trong việc này.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Hongngoc53 vì bài viết hữu ích
    thephuong.it (17/07/2020)
  • #551875   15/07/2020

    phamthiloan20081998
    phamthiloan20081998

    Female
    Sơ sinh

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2020
    Tổng số bài viết (22)
    Số điểm: 140
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Đối với vấn đề chuyển nhượng đất của hai vợ chồng. Theo dữ kiện bạn cung cấp, được biết hai vợ chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có thông tin chủ sở hữu nào khác đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó có căn cứ xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Những người con được xác định là người sống chung trên mảnh đất, và theo quy định của pháp luật hiện hành, họ không có quyền đối với tài sản này. Đây là tài sản chung của vợ chồng, được cấp cho hai vợ chồng, trường hợp này khác với quyền sử dụng đất của hộ gia đình (các thành viên trong gia đình). 

    Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là quyền của vợ chồng, cơ sở pháp lý là các quy định về quyền tài sản của chủ sở hữu theo Bộ luật Dân sự. Các con không phải là chủ sở hữu quyền sử dụng đất nên hoàn toàn không cần xem xét đến ý kiến chấp thuận hay không chấp thuận của người con. Việc chuyển nhượng sẽ hợp pháp nếu tuân thủ quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tuyệt nhiên không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của các con.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn phamthiloan20081998 vì bài viết hữu ích
    thephuong.it (17/07/2020)