Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

Chủ đề   RSS   
  • #56198 08/07/2010

    thuanhm

    Mầm

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 795
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất

    Chào luật sư!
    Tôi có một vấn đề thắc mắc  như sau:
    Hiện tại anh trai tôi là giám đốc công ty, là người đại diện theo pháp luật của công ty. Công ty anh trai tôi muốn mở rộng quy mô kinh doanh và có nhu cầu vay vốn ngân hàng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc quyền sở dụng và sở hữu hợp pháp của anh trai tôi. Theo bộ luật dân sự, tại điều 144, "người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác". 
    Phía Ngân hàng đã xác lập hợp đồng thế chấp 2 bên (giữa anh tôi và Ngân hàng). Sau đó, làm thủ tục đăng ký thế chấp thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không chấp nhận vì trong hợp đồng không có chữ ký của Bên vay vốn(Công ty của anh tôi).
    Vậy tôi xin hỏi luật sư trong trường hợp này nên xử lý thế nào?
     

    Cập nhật bởi Mai_Y_Nguyen ngày 04/09/2010 09:54:53 AM
     
    80741 | Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn thuanhm vì bài viết hữu ích
    yeuluatqn (09/09/2015) LENGHIEP (05/12/2013)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

4 Trang 1234>
Thảo luận
  • #56273   09/07/2010

    LS_TheMinh
    LS_TheMinh
    Top 500
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:14/04/2008
    Tổng số bài viết (127)
    Số điểm: 691
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 9 lần


    Chào bạn Trong trường hợp này, công ty ký hợp đồng vay với Ngân hàng còn anh trai của bạn dùng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của mình để bảo lãnh cho khỏan vay của công ty. Công ty phải cử người khác đại diện công ty để ký hợp đồng vay. Yêu cầu của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là đúng Trân trọng Luật sư Trương Thế Minh 0909097070 minh@luatsuminh.com www.luatsuminh.com

    Luật sư Trương Thế Minh

    Di động 0909097070

    Email: minh@luatsuminh.com

    www.luatsuminh.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LS_TheMinh vì bài viết hữu ích
    CharlesChuong (19/07/2014)
  • #56306   10/07/2010

    thuanhm
    thuanhm

    Mầm

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2008
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 795
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Công ty của anh trai tôi là công ty TNHH một thành viên. Nên không có người thứ hai làm người đại diện của công ty.

    Phía ngân hàng định làm hợp đồng thế chấp hai bên: Bên A là ngân hàng, bên B là anh tôi. Còn công chứng chứng thực sẽ xác nhận thêm là bên vay vốn là công ty. Như vậy có được không
     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn thuanhm vì bài viết hữu ích
    CharlesChuong (19/07/2014)
  • #58123   17/08/2010

    VIETMX672
    VIETMX672

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:01/06/2010
    Tổng số bài viết (4)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Điều này có vẻ không khả thi khi Công ty của anh bạn thuanhm là Công ty TNHH một thành viên hoặc doanh nghiệp tư nhân. Vấn đề này có thể giải quyết như sau: Khi ký hợp đồng thế chấp, tiêu đề của hợp đồng chỉ nên ghi "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất", bạn đừng ghi "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba", vì ở trường hợp đầu thì chỉ hai bên ký là người có quyền sử dụng đất (anh bạn) và ngân hàng ký, trong nội dung sẽ thể hiện rõ là dùng giá trị quyền SDĐ và TS gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Cty XYZ (do anh bạn làm Giám đốc và là người  đại diện theo pháp luật) (hiện nay các Ngân hàng đang làm theo cách này); còn trường hợp thứ hai thì không hợp lệ vì cả ba bên đều phải ký (anh bạn, đại diện của Cty và Ngân hàng), mà trong một số trường hợp Giám đốc doanh nghiệp không muốn ủy quyền cho người khác ký hợp đồng vay vốn (rủi ro rất cao). Và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không chấp nhận anh bạn ký trên cùng một văn bản hai lần với hai tư cách khác nhau.
    Chúc bạn thành công.
     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn VIETMX672 vì bài viết hữu ích
    CharlesChuong (19/07/2014) HVAmbitions-Law (26/10/2015)
  • #91275   28/03/2011

    chaulevan
    chaulevan
    Top 75
    Lớp 8

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:26/02/2009
    Tổng số bài viết (761)
    Số điểm: 11323
    Cảm ơn: 342
    Được cảm ơn 592 lần


    Chào LS và các bạn,
    Mình thấy trên thực tế các ngân hàng cũng thường làm theo cách mà bạn VIETMX672 nói. Song mình không đồng ý với cách làm này vì mình thấy cách này cũng vẫn tiềm ẩn rủi ro về mặt pháp lý cho ngân hàng.

    Theo Điều 342 - Bộ luật dân sự thì:

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) #c00000;">dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.
    Như vậy, khi doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng mà dùng tài sản thế chấp thì tài sản thế chấp buộc phải là tài sản của doanh nghiệp mới có giá trị về mặt pháp lý. Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp. Nên hợp đồng thế chấp trong trường hợp này có thể bị vô hiệu.

    Cập nhật bởi BachThanhDC ngày 28/03/2011 01:31:45 PM

    CV

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn chaulevan vì bài viết hữu ích
    phuongland (08/12/2014) CharlesChuong (19/07/2014) pvoilthanhhoa (15/09/2015)
  • #92728   04/04/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    chaulevan viết:

    Chào LS và các bạn,
    Mình thấy trên thực tế các ngân hàng cũng thường làm theo cách mà bạn VIETMX672 nói. Song mình không đồng ý với cách làm này vì mình thấy cách này cũng vẫn tiềm ẩn rủi ro về mặt pháp lý cho ngân hàng.

    Theo Điều 342 - Bộ luật dân sự thì:

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) #c00000; font-size: 13px;">dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.
    Như vậy, khi doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng mà dùng tài sản thế chấp thì tài sản thế chấp buộc phải là tài sản của doanh nghiệp mới có giá trị về mặt pháp lý. Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp. Nên hợp đồng thế chấp trong trường hợp này có thể bị vô hiệu.


    Lập luận này không hợp lý lắm!! Thức chất đây là một hình thức bảo lãnh bằng tài sản cụ thể

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #95121   15/04/2011

    hiyatuongda
    hiyatuongda
    Top 100
    Male
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2010
    Tổng số bài viết (689)
    Số điểm: 13555
    Cảm ơn: 605
    Được cảm ơn 539 lần


    Chào bạn anhtt007

    Theo mình thì chị chaulevan đã lập luận đúng.

    Thứ nhất, mình đồng ý với chị chaulevan rằng hợp đồng thế chấp trong trường hợp ghi tên HĐ là "Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất" mà nội dung lại là thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác. HĐ này có thể bị vô hiệu vì trái bản chất của việc thế chấp. Ở đây chỉ nói là có thể chứ ko chắc chắn tùy theo đánh giá của thẩm phán (nếu có khởi kiện), và nếu như HĐ vô hiệu thì rủi ro xảy ra đối với NH là không tránh khỏi.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 NĐ 163

    1. Bên bảo đảmbên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp

    Khoản 1 Điều 4 NĐ 163

    1. Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch.

    Nếu HĐ nếu như trên mà người vay là Công ty còn người thế chấp bảo đảm khoản vay là cá nhân khác (Giám Đốc). Vậy điều này đã trái với quy định của PL rồi đúng không bạn?

    Trường hợp, GĐ đúng ra bảo đảm khoản vay cho Công ty thiết nghĩ tên HĐ sẽ là "HĐ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm khoản vay cho người thứ 3" và hiện nhiên HĐ phải cho 3 bên ký tên.

    Như vậy, sẽ tránh được rủi ro như chị chaulevan đã nêu, bởi lẽ, vẫn đảm bảo được tinh thần của việc thế chấp là dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ đứng ra bảo lãnh cho khoản vay của người thứ 3).Tuy nhiên, trường hợp này thì sẽ gặp rắc rối là người thế chấp và người vay là 1 như đã phân tích ở trên.

    Thứ hai, mình ko cho rằng trường hợp nêu trên là 1 hình thức bảo lãnh. Nó chỉ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên bảo lãnh, chứ không phải là hình thức bảo lãnh bằng vật cụ thể.

    Tức là GĐ đứng ra thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình đối với bên kia (nghĩa vụ này là nghĩa vụ bảo lãnh của GĐ phát sinh từ HĐ BL với bên được bảo lãnh là Công ty).

    Do BL có nhiều loại nên hình thức bảo lãnh rất đa dạng và phong phú, mình có thể có ví dụ đối với BL Ngân hành đi thì hình thức của BL này có thể là: Phát hành thư BL, xác nhận BL; Ký xác nhận BL trên các hối phiếu; ...

    Thân,

    Clear Thinking!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hiyatuongda vì bài viết hữu ích
    phuongland (08/12/2014)
  • #95444   16/04/2011

    hoadainhan1
    hoadainhan1
    Top 100
    Lớp 2

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:08/03/2011
    Tổng số bài viết (586)
    Số điểm: 3773
    Cảm ơn: 25
    Được cảm ơn 190 lần


    Chào các bạn,
    Trường hợp trên thật là phức tạp ! Thật ra cũng có một cách khả thi để giải quyết trường hợp trên. Mình xin bổ sung như sau: Nếu là Cty TNHH một thành viên thì giữa công ty này với Ngân hàng làm riêng một Hợp đồng vay, còn điều khoản bảo đảm khoản vay kia có thể sẽ được thỏa thuận do hai bên (đíng kèm thêm hợp đồng thế chấp nữa là xong, Hợp đồng thứ hai này cũng do hai bên ký giữa người đứng tên trong Sổ đỏ với ngân hàng ký, sau đó đến đăng ký tại Phòng Tài Nguyên môi trường là ổn).

    Luật sư Nguyễn Hòa, thuộc Văn phòng luật sư NGUYỄN HÒA. ĐT 0903376602

    Địa chỉ: 276 đường Lê Duẩn, Phường Đập Đá, Thị xã An Nhơn, T. Bình Định

    Điện thoại : 0903376602

    Email: luatsuhoa@yahoo.com.vn

    Luật sư sẽ sẵn sàng trực tiếp nhận hồ sơ vụ việc để trợ giúp pháp lý trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.

    Hân hạnh được phục vụ hài lòng quý khách.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn hoadainhan1 vì bài viết hữu ích
    dgiangthu (18/12/2015) HVAmbitions-Law (26/10/2015)
  • #103403   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


     Bạn hiyatuongda viết: 

    "Thứ hai, mình ko cho rằng trường hợp nêu trên là 1 hình thức bảo lãnh. Nó chỉ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên bảo lãnh, chứ không phải là hình thức bảo lãnh bằng vật cụ thể".

    Mâu thuẫn nhé bạn:bạn nói nó không phải là một hình thức bảo lãnh thế mà bạn vẫn dùng các thuật ngữ như:"nghĩa vụ bảo lãnh""bên bảo lãnh" vậy nó là cái gì? Luật nào điều chỉnh?
    Ở đây mình chỉ đề cập đến các quy định của pháp luật dân sự về bảo lãnh thôi, và có thể có hai hình thức bảo lãnh: bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản của bên bảo lãnh hoặc chỉ đưa ra một tài sản cụ thể để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh, cụ thể tại:
    Điều 44 Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh

     

     

    Các bên có thể thoả thuận về việc xác lập giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan."(NĐ 163)

    Ý nghĩa của hình thức bảo lãnh bằng một tài sản cụ thể là gì?(Bảo lãnh theo pháp luật dân sự không phải bảo lãnh ngân hàng theo Luật CTCTD):Đó là giới hạn trách nhiệm của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh khi đưa ra tài sản cụ thể để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình thì chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản đó. Nếu ngân hàng xử lý tài sản mà không thu hồi đủ nợ thì không có quyền yêu cầu bên bảo lãnh  tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bằng các tài sản khác của bên bảo lãnh.

    Ở đây mình chỉ đề cập đến trường hợp cụ thể nêu trên, còn trong thực tế tùy thuộc vào thỏa thuận giữa Bên bảo lãnh và Bên nhận bảo lãnh thôi.

    Quay lại với trường hợp nêu trên, bạn chaulevan viết:"Như vậy, khi doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng mà dùng tài sản thế chấp thì tài sản thế chấp buộc phải là tài sản của doanh nghiệp mới có giá trị về mặt pháp lý. Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp. Nên hợp đồng thế chấp trong trường hợp này có thể bị vô hiệu".

    Chắc bạn hiyatuongda không hiểu ý của bạn chaulevan rùi,lập luận của bạn chaulevan có thể làm người đọc hiểu là: "Khi một doanh nghiệp vay vốn tại NH. Việc dùng tài sản của bên thứ ba để thế chấp cho doanh nghiệp vay là không đúng theo quy định của việc thế chấp vì đó không phải là tài sản của doanh nghiệp"

    Lập luận này không có giá trị, thực chất bên thứ ba ở đây là bên bảo lãnh và theo quy định Điều 44 thì bên bảo lãnh được quyền xác lập các giao dịch bảo đảm như thế chấp chẳng hạn, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho doanh nghiệp mà chẵng ăn nhập gì đến "tinh thần của việc thế chấp".

    Còn việc thể hiện trên Hợp đồng thế chấp như thế nào thì mình không có ý kiến. Qua công việc mình thấy phòng công chứng  ở nhiều tỉnh thành vẫn chấp nhận: chủ tài sản đồng thời là người đại điện theo pháp luật của cty vừa kỳ tên ở BÊN THẾ CHẤP và cả BÊN VAY trên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba!!

    Thân!!!

    Cập nhật bởi QuyetQuyen945 ngày 18/05/2011 10:36:58 SA

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #103430   18/05/2011

    tranthibichvan_tax06
    tranthibichvan_tax06
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:31/08/2010
    Tổng số bài viết (3405)
    Số điểm: 82389
    Cảm ơn: 1341
    Được cảm ơn 2744 lần


    Thông tư Liên tịch số 04 /2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền sử dụng đất :

     

    I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    1. Phạm vi điều chỉnh

    1.1. Thông tư này hướng dẫn việc công chứng của Phòng Công chứng và chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với các hợp đồng, văn bản sau đây:

    a) Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất;#ffff00;"> hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba mà Luật Đất đai gọi là bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất (#ffffff; color: #ff0000;">gọi là hợp đồng #00b0f0;">thế chấp quyền sử dụng đất#ffffff;">); hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất; di chúc để thừa kế quyền sử dụng đất, văn bản phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, văn bản nhận thừa kế quyền sử dụng đất trong trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất (sau đây gọi là hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất);

    Mặt khác, theo Điều 342 Bộ Luật Dân Sự về thế chấp tài sản  :

    Ðiều 342. Thế chấp tài sản

    1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp)#ff0000;"> dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

    Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

    => Như vậy, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng thế chấp chỉ có 2 bên : #ff0000;">BÊN THẾ CHẤP và BÊN NHẬN THẾ CHẤP. Không có sự tham gia của bên thứ 3 ở đây.


    Lập luận của chaulevan & sự đồng tình của hiya là đúng với tinh thần của Điều 342 - BLDS bởi chủ thể tham gia và tài sản thế chấp phải là tài sản thuộc sở hữu của mình(của cty). #ffc000;">Bạn anhtt007 xem lại chỗ này.ok?





    Cung cấp dịch vụ Đào tạo kế toán trưởng, dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ Setup hệ thống kế toán cho DN

    Dịch vụ soát xét hóa đơn, chứng từ, sổ sách trước khi Quyết toán thuế.

    Liên hệ: Ms Vân 0969.790.185/ Zalo: 0969.790.185/ Skype:van_kttc

     
    Báo quản trị |  
  • #103453   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    Hi! có vẻ như tranthibichvan_tax06 chưa hiểu ý mình rồi, cũng có thể trong quá trình viết bài mình trích dẫn chưa chi tiết, ở đây mình không bình luận toàn cục bài viết mà mình chỉ đề cập đến một đoạn nhỏ thôi,mình cũng #ff0000;">không có ý kiến là chủ thể tham gia ký kết hợp đồng gồm những ai, và ký như thế nào để có thể đăng ký được giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký QSDĐ!!
    Sau đây mình trình bày lại:
    Trong bài viết của chaulevan có đoạn
    "Như vậy, khi doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng mà dùng tài sản thế chấp thì tài sản thế chấp #ff0000;">#ff0000; font-size: 13px;">buộc phải là tài sản của doanh nghiệp mới có giá trị về mặt pháp lý. #ff0000;">Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp. Nên hợp đồng thế chấp trong trường hợp này có thể bị vô hiệu".
    Đoạn này theo sự hiểu biết đơn giản nhất của anhtt007 thì ý của ban chaulevan là:
    "Khi một doanh nghiệp vay vốn tại NH. Việc dùng tài sản của bên thứ ba để thế chấp cho doanh nghiệp vay là không đúng theo quy định của việc thế chấp vì #ff0000;">đó không phải là tài sản của doanh nghiệp"
    Một ví dụ đơn giản để chứng minh cho lập luận này là ko hợp lý: Doanh nghiệp A muốn vay vốn tại ACB (mình đang làm ở đây, PR tí!!). Một trong các điều kiện của ACB là phải có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất. DN A không có tài sản trên, nên Bà B là mẹ của Ông C (người đại diện theo pháp luật của DN A) dùng tài sản là quyền sử dụng đất của mình đứng ra thế chấp cho doanh nghiệp A vay vốn. Về thủ tục: #0c0c0c;">ACB sẽ lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba (mà Luật Đất đai gọi là bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo Thông tư 04/2006) thực hiện công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng này=> #ff0000;">Việc thế chấp này không có giá trị pháp lý??!!!!! #0c0c0c;">vì lập luận của chaulevan là "Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp". #0c0c0c;">hi hi hi nếu thế thì có bao nhiêu doanh nghiệp tại Việt Nam được tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng nhỉ??????????????!!!!!!!!!!!
    #0c0c0c;">Vậy thì chúng ta phải sửa Điều 44 Nghị định 163, Sửa tiếp Thông tư 04/2006 liên quan đến cụm từ "#ff0000;">hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba" #0c0c0c;">vì #ff0000;">"#0c0c0c; font-size: 13px;">Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp".

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #103458   18/05/2011

    tranthibichvan_tax06
    tranthibichvan_tax06
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:31/08/2010
    Tổng số bài viết (3405)
    Số điểm: 82389
    Cảm ơn: 1341
    Được cảm ơn 2744 lần


    Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp".

    Đúng vậy! Vì đã nói tới hợp đồng thế chấp là chỉ có hai chủ thể tham gia trong hợp đồng thế chấp tức Bên Thế Chấp và Bên Nhận Thế Chấp.

    Tôi hiểu và rất biết, hiện nay hầu hết các Ngân hàng đều cho các DN vay thế chấp TS (TS  ko thuộc sở hữu của mình) nhưng bên trong nội dung hợp đồng thì là được thiết lập, ký kết bởi 3 bên chứ không phải 2 bên. Nếu 2 bên cũng không đúng vì TS thế chấp ko phải là TS thuộc sở hữu của cty.

    Nếu Hợp Đồng thế chấp được thiết lập bởi 3 chủ thể tham gia trong ví dụ của bạn thì sai với Quy định của Điều 342 Bộ Luật DS.

    Vì vậy, đã trái với quy định PL thì khi có tranh chấp tại Toà Án, Hợp Đồng Thế Chấp TS này vô hiệu.

    Vấn đề bạn ví dụ về ACB nhưng bạn chưa đưa ra được cơ sở pháp lý khi thiết lập hợp đồng thế chấp ts này?
    Cập nhật bởi tranthibichvan_tax06 ngày 18/05/2011 01:50:40 CH

    Cung cấp dịch vụ Đào tạo kế toán trưởng, dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ Setup hệ thống kế toán cho DN

    Dịch vụ soát xét hóa đơn, chứng từ, sổ sách trước khi Quyết toán thuế.

    Liên hệ: Ms Vân 0969.790.185/ Zalo: 0969.790.185/ Skype:van_kttc

     
    Báo quản trị |  
  • #103479   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    Hi hi!! Không có cơ sở pháp lý để tuyên bố hợp đồng vô hiệu bạn à!! cũng có thể chúng ta hiểu sai tinh thần của Điều 342 đấy
    Như bạn nói Điều 342 Bộ luật dân sự: "Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp)#0c0c0c;"> dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để #ff0000;">bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp"
    Phân tích cho thấy:
    Thứ nhất: dùng tài sản thuộc sở hữu của mình thì không có gì bàn cải rồi, cần bổ sung thêm là đối với DN nhà nước thì có thể dùng tài sản thuộc quyền sử dụng, quản lý của doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm nghĩa vụ
    Thứ hai: phân tích rõ cụm từ #ff0000;">"bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia-bên nhận thế chấp"  #0c0c0c;">nghĩa vụ dân sự ở đây có thể hiểu đơn giản là nghĩa vụ trả nợ vay => chúng ta dễ dàng nhận thấy luật ko quy định rõ ràng nghĩa vụ dân sự ở đây là #ff0000;">nghĩa vụ dân sự của chính bên thế chấp hay là #ff0000;">nghĩa vụ dân sự của bên thứ ba mà bên thế chấp dùng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba đó(còn gọi là bảo lãnh)!!
    Điều 44 Nghị định 163 đã làm rõ quy định này: 

     

     

    "Điều 44 Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh

     

    Các bên có thể thoả thuận về việc xác lập giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan"

     

    Ví dụ: Như ví dụ trên, bà C và ACB thỏa thuận về việc Bà C sẽ bảo lãnh cho DN A vay tại ACB thông qua việc xác lập giao dịch bảo đảm là Thế chấp quyền sử dụng đất của bà C để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay của DN A tại ACB.

    Đố ông Thẩm phán nào dám tuyên bố hợp đồng này vô hiệu, hi hi hi!!!
    Xem lại đi bạn nhé!!!

     

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #103483   18/05/2011

    tranthibichvan_tax06
    tranthibichvan_tax06
    Top 25
    Female
    Dân Luật bậc 1

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:31/08/2010
    Tổng số bài viết (3405)
    Số điểm: 82389
    Cảm ơn: 1341
    Được cảm ơn 2744 lần


    "Điều 44 Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh

     

    Các bên có thể thoả thuận về việc xác lập giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan"


    Trích dẫn Điều 44 cũng như ví dụ của bạn, tớ thấy bạn thiên về Bảo Lãnh mất rồi. mà theo Điều 361 B
    #0000ff;">ộ luật dân sự 2005 quy định: “bảo lãnh là việc người thứ ba ( sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiên nghĩa vụ của mình.”


    #ff0000;">Thế chấp nó khác với bảo lãnh và cũng khác với cầm cố(tiện thể nhắc tới cầm cố chứ
    ko liên quan)

    Bạn nhầm giữa hai thằng này với nhau mất rồi.Hiii.


    Cung cấp dịch vụ Đào tạo kế toán trưởng, dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ Setup hệ thống kế toán cho DN

    Dịch vụ soát xét hóa đơn, chứng từ, sổ sách trước khi Quyết toán thuế.

    Liên hệ: Ms Vân 0969.790.185/ Zalo: 0969.790.185/ Skype:van_kttc

     
    Báo quản trị |  
  • #103496   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    Hi hi hi !! Sao mà nhầm được!!!
    Mình thấy phân tích Điều 342 cũng đã làm sáng tỏ vấn đề!!
    Không cần đề cấp đến Điều 44 Nghị định 163: Nhưng vẫn nói thêm
    Có 02 hình thức bảo lãnh:
    + Người bảo lãnh không đưa ra một tài sản nào do dó người bảo lãnh có thể phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
    + Người bảo lãnh đưa ra một tài sản cụ thể và chị chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản đó, trong trường hợp này Người bảo lãnh sẽ xác lập với ACB một giao dịch bảo đảm khác là thế chấp!!
    Đó là cơ sở pháp lý cho việc ba bên ký tên trên Hợp đồng thế chấp
    Không phải tự nhiên mà hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay vẫn áp dụng Hợp đồng thế chấp 03 bên đâu bạn àh!!! Cũng không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các Phòng công chứng đều công chứng đối với các hợp đồng này!!! Càng không phải ngẫu nhiên mà từ trước đến giờ trong hoạt động xử lý nợ của mình ACB chẳng khi nào bị tòa án tuyên bố vô hiệu vì loại Hợp đồng này?
    =>Hay là từ hồi trước đến giờ các ngân hàng thương mại áp dụng sai luật ta? hay là các công chứng viêc không nắm vững pháp luật?cũng có thể phải giám đốc thẩm lại một loạt các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án đây!!!
    hi hi hi!!!

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #103500   18/05/2011

    Im_lawyerx0
    Im_lawyerx0
    Top 75
    Male
    Lớp 4

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/03/2009
    Tổng số bài viết (729)
    Số điểm: 5940
    Cảm ơn: 110
    Được cảm ơn 374 lần


    Theo tôi, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng thì tên gọi của hợp đồng không có ý nghĩa nhiều lắm, nó chỉ giúp cho việc xác định được nội dung của hợp đồng một cách dễ dàng hơn mà thôi. Khi xem xét một hợp đồng, cái mà chúng ta cần quan tâm đến đó là nội dụng và mục đích được thể hiện trong hợp đồng đó.

    VD: Hợp đồng có tên gọi là hợp đồng thế chấp nhà nhưng nội dung của nó lại là mua bán hàng hóa thì mọi người không thể lấy lý do rằng, nội dung của hợp đồng khác với tên gọi của hợp đồng, vì vậy nó vô hiệu.

    Hợp đồng là một loại hành vi pháp lý thể hiện sự thống nhất ý chí giữa các bên giao kết, và nội dung của hợp đồng mới thể hiện sự thống nhất ý chí đó, chứ đâu phải tên gọi của hợp đồng đó.

    hiyatuongda viết:
    Trường hợp, GĐ đúng ra bảo đảm khoản vay cho Công ty thiết nghĩ tên HĐ sẽ là "HĐ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm khoản vay cho người thứ 3" và hiện nhiên HĐ phải cho 3 bên ký tên.


    Theo tôi, bạn hiyatuongda đặt ra cái tên này khá hợp lý, bao quát được những nội dung của hợp đồng này. Và đây có thể coi là hợp đồng hỗn hợp của hợp đồng thế chấphợp đồng bảo lãnh. Luật pháp không hề cấm hợp đồng hỗn hợp (tất nhiên trong luật không có thuật ngữ này), nhưng hoàn toàn có thể áp dụng các quy định pháp luật về hợp đồng thế chấp và hợp đồng bảo lãnh một cách riêng rẽ đối với mỗi phần liên quan trong hợp đồng này !

    Có một vài điểm tôi vẫn lăn tăn, nhưng cứ viết để mọi người góp ý !

    Đời người ngắn hay dài há do ý muốn. Đã biết như thế mà còn tham sống, há không phải là u mê. Đã biết như thế, mà còn sợ chết há không phải là tuổi trẻ lưu lạc tha hương đến nỗi quên cả đường về. Đã biết như thế người chết đi có khi lại hối hận là từng tham sống cũng nên - Trang Tử

    Dịch nghĩa:

    Sống chắc gì đã sướng mà chết chắc gì đã khổ. Sống chết thật ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn. Khi chết đi chính là tỉnh mộng. Không chừng sau khi chết, lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn. Sao không chết sớm hơn. Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.

     
    Báo quản trị |  
  • #103505   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    "Thứ nhất: dùng tài sản thuộc sở hữu của mình thì không có gì bàn cải rồi, cần bổ sung thêm là đối với DN nhà nước thì có thể dùng tài sản thuộc quyền sử dụng, quản lý của doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm nghĩa vụ
    Thứ hai: phân tích rõ cụm từ
    "bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia-bên nhận thế chấp"  nghĩa vụ dân sự ở đây có thể hiểu đơn giản là nghĩa vụ trả nợ vay => chúng ta dễ dàng nhận thấy luật ko quy định rõ ràng nghĩa vụ dân sự ở đây là #ff0000;">nghĩa vụ dân sự của chính bên thế chấp hay là #ff0000;">nghĩa vụ dân sự của bên thứ ba mà bên thế chấp dùng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba đó(còn gọi là bảo lãnh)!!"

    Như đã phân tích: Luật ko quy định một cách chính xác "nghĩa vụ dân sự" là nghĩa vụ dân sự của chính bên thế chấp hay nghĩa vụ dân sự của bên thứ ba (chúng ta không cần đề cập đến bảo lãnh cũng hiểu)
    => người áp dụng hoàn toàn có quyền hiểu đó là nghĩa vụ dân sự của Ông A, Ông B, Ông C,......hay một Ông nào khác mà không phải là Ông thế chấp
    =>Việc người thứ ba ký tên trên hợp đồng thế chấp là hoàn toàn hợp lý!! he he he.

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
  • #103540   18/05/2011

    Im_lawyerx0
    Im_lawyerx0
    Top 75
    Male
    Lớp 4

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/03/2009
    Tổng số bài viết (729)
    Số điểm: 5940
    Cảm ơn: 110
    Được cảm ơn 374 lần


    Tôi nghĩ, trong hợp đồng thế chấp chỉ nên hiểu nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ dân sự của bên thế chấp. Nếu bạn mở rộng ra thêm cả nghĩa vụ dân sự với người thứ ba thì về bản chất nó lại bao gồm cả bảo lãnh mất rồi.Bạn cứ giữ quan điểm đó, tôi không hiểu khi ra thực tế bạn có thuyết phục được HĐXX hay không? Tôi cũng chưa bao giờ nghe ai nói rằng nghĩa vụ dân sự trong biện pháp bảo đảm thế chấp bao gồm nghĩa vụ dân sự của bên thế chấp và người thứ ba. Tuy rằng luật có nhiều quy định không rõ ràng, nhưng khi chưa được hướng dẫn rõ ràng thì cần tuân theo cách hiểu mà đa số đều hiểu như vậy !

    Về tình huống trên, theo tôi sẽ có 3 hợp đồng được xác lậphợp đồng vay tài sản giữa ngân hàng và công ty X (hợp đồng 1), hợp đồng bảo lãnh giữa ông A (giám đốc công ty X) với ngân hàng đảm bảo cho nghĩa  vụ trả nợ của công ty X (hợp đồng 2)hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của ông A với ngân hàng cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình (hợp đồng 3).

    Theo tôi, trong tình huống này, giữa hợp đồng số 1 và hợp đồng số 2 thì hợp đồng số 1 là hợp đồng chính, hợp đồng số 2 là hợp đồng phụ (cơ sở xác lập của nó là hợp đồng số 1, đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bên được bảo lãnh là công ty X); giữa hợp đồng số 2 và hợp đồng số 3 thì hợp đồng số 2 là hợp đồng chính;hợp đồng số 3 là hợp đồng phụ (cơ sở xác lập của nó là hợp đồng số 2, chính là để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên thế chấp là ông A, do đó, nó hoàn toàn không vi phạm tinh thần của điều 342, BLDS 2005). Vậy chúng ta có thể ghép hợp đồng số 2 và hợp đồng số 3 vào một hợp đồng hay không, đây là vấn đề mà chúng ta đang tranh luận. Nếu mọi người đều không phải đối về mối quan hệ của các hợp đồng mà tôi phân tích, thì hoàn toàn có thể làm đuợc việc này:

    BLDS 2005 viết:
    Điều 362. Hình thức bảo lãnh
    Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.


    Như vậy luật cho phép chúng ta tách riêng hợp đồng số 1 và hợp đồng số 2 thành 2 hợp đồng riêng.

    Hợp đồng số 3 là hợp đồng phụ đối với hợp đồng số 2 và ngược lại.Theo quy định của pháp luật:

    BLDS 2005 viết:
    Điều 343. Hình thức thế chấp tài sản
    Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.


    Hợp đồng số 3 (hợp đồng phụ) có thể được ghi trong hợp đồng số 2 (hợp đồng chính). Theo tôi, hợp đồng mà ngân hàng, ông A và công ty X ký kết, bản chất của nó chính là loại hợp đồng này (hợp đồng bảo lãnh + hợp đồng thế chấp)

    Đời người ngắn hay dài há do ý muốn. Đã biết như thế mà còn tham sống, há không phải là u mê. Đã biết như thế, mà còn sợ chết há không phải là tuổi trẻ lưu lạc tha hương đến nỗi quên cả đường về. Đã biết như thế người chết đi có khi lại hối hận là từng tham sống cũng nên - Trang Tử

    Dịch nghĩa:

    Sống chắc gì đã sướng mà chết chắc gì đã khổ. Sống chết thật ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn. Khi chết đi chính là tỉnh mộng. Không chừng sau khi chết, lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn. Sao không chết sớm hơn. Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn Im_lawyerx0 vì bài viết hữu ích
    chaulevan (20/05/2011) pcbay (29/04/2016)
  • #103918   20/05/2011

    chaulevan
    chaulevan
    Top 75
    Lớp 8

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:26/02/2009
    Tổng số bài viết (761)
    Số điểm: 11323
    Cảm ơn: 342
    Được cảm ơn 592 lần


    Chào bạn I'm lawyerx0,
    Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của bạn trong vấn đề trên.
    Theo tôi, nếu ngân hàng không ký kết hợp đồng bảo lãnh với bên thứ ba mà lại chỉ làm hợp đồng thế chấp bất động sản với bên thứ ba thì chắc chắn là sẽ yếu về mặt pháp lý theo những lập luận mà các bạn hiayatuongda và bạn tranthibichvan đã phân tích ở trên.
    Cái gì đã tồn tại trên thực tế chưa chắc đã đúng và hoàn hảo!

    CV

     
    Báo quản trị |  
  • #103555   18/05/2011

    anhtt007
    anhtt007
    Top 500
    Male


    Cần Thơ, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2011
    Tổng số bài viết (121)
    Số điểm: 1732
    Cảm ơn: 38
    Được cảm ơn 106 lần


    He he !! Việc bên bảo lãnh thực hiện thế chấp(một hình thức của giao dịch bảo đảm)tài sản là quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay (mà không phải nghĩa vụ dân sự của bên bảo lãnh) theo điều 44 Nghị định 163 là hình thức nào?he he he
    #ff0000; font-size: 13px;">"Nếu dùng tài sản của bên thứ ba thì không đúng theo tinh thần của việc thế chấp".
    Chấp nhận lập luận này đồng nghĩa loại bỏ một trong các hình thức giao dịch bảo đảm mà các bên được xác lập để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định Điều 44 là #ff0000;">thế chấp.
    Chấp nhận lập luận này đồng nghĩa với việc các ngân hàng, phòng công chứng sử dụng/chứng nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba bấy lâu nay là sai ráo chọi hết!!!

    Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn!!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn anhtt007 vì bài viết hữu ích
    silly_boy (09/10/2013)
  • #103563   18/05/2011

    Im_lawyerx0
    Im_lawyerx0
    Top 75
    Male
    Lớp 4

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:27/03/2009
    Tổng số bài viết (729)
    Số điểm: 5940
    Cảm ơn: 110
    Được cảm ơn 374 lần


    anhtt007 viết:
    He he !! Việc bên bảo lãnh thực hiện thế chấp(một hình thức của giao dịch bảo đảm)tài sản là quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay (mà không phải nghĩa vụ dân sự của bên bảo lãnh) theo điều 44 Nghị định 163 là hình thức nào?he he he


    Hình như bạn cố tình cắt đi nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng bảo lãnh (hợp đồng số 2) mà tôi phân tích. Nếu theo như bạn nói, hợp đồng bảo lãnh không làm phát sinh nghĩa vụ gì đối với bên bảo lãnh ??

    Có thể hiểu đơn giản thế này: nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm bởi hợp đồng bảo lãnh > hợp đồng bảo lãnh phát sinh nghĩa vụ dân sự của bên bảo lãnh là nghĩa vụ thực hiện việc bảo lãnh cho  khoản nợ> nghĩa vụ thực hiện việc bảo lãnh lại được đảm bảo bởi hợp đồng thế chấp tài sản trong đó bên thế chấp chính là bên bảo lãnh. !

    Đời người ngắn hay dài há do ý muốn. Đã biết như thế mà còn tham sống, há không phải là u mê. Đã biết như thế, mà còn sợ chết há không phải là tuổi trẻ lưu lạc tha hương đến nỗi quên cả đường về. Đã biết như thế người chết đi có khi lại hối hận là từng tham sống cũng nên - Trang Tử

    Dịch nghĩa:

    Sống chắc gì đã sướng mà chết chắc gì đã khổ. Sống chết thật ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn. Khi chết đi chính là tỉnh mộng. Không chừng sau khi chết, lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn. Sao không chết sớm hơn. Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.

     
    Báo quản trị |