Đang chờ UBND TỈNH giải quyết khiếu nại thì UBND TP ban hành quyết định cưỡng chế

Chủ đề   RSS   
  • #379245 15/04/2015

    phamanhdung_1986

    Sơ sinh

    Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
    Tham gia:15/04/2015
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đang chờ UBND TỈNH giải quyết khiếu nại thì UBND TP ban hành quyết định cưỡng chế

    *Tôi tên: VŨ THỊ LÀI. Hộ khẩu thường trú: 106 đường Võ Thị Sáu,KP3,P-Long Tâm,TP-Bà Rịa. Nay tôi làm đơn này xin trình bày sự việc như sau:
    *Ngày 08/05/2013 UBND TP Bà Rịa có ban hành QĐ số 1202/QĐ-UBND về việc thu hồi 81,5 m2 đất tại Phường Long Tâm, TP Bà Rịa để xây dựng Đường Hương lộ 10 đoạn qua Phường Long Tâm, TP Bà Rịa
     *Do thấy diện tích đất thu hồi không đúng với diện tích đất thực tế sử dụng. Căn cứ theo điều 47 của nghị định 84 năm 2007, nên hộ gia đình tôi đã làm đơn khiếu nại gửi UBND TP vào ngày 10/06/2013, ngày 29/07/2013, và ngày 02/10/2013.
    *Ngày 24/02/2014 UBND TP Bà Rịa ban hành QĐ số 691/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lầu đầu và bác đơn khiếu nại của tôi. Nên ngày 18/03/2014, tôi có làm đơn và gửi đến UBND Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến ngày 20/08/2014 UBND Tỉnh có ban hành QĐ số 1762/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2 cho tôi và thông báo số 271 có ghi “Đơn khiếu nại của tôi đủ diều kiện thụ lý và thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ Tịch UBND Tỉnh”.Nhưng cho đến nay vẫn chưa giải quyết cho tôi.
     *Trong khi gia đình tôi đang chờ UBND Tỉnh xem xét giải quyết khiếu nại lần 2 thì UBND TP Bà Rịa lại ban hành QĐ cưỡng chế số 714/QĐ-UBND, ngày 27/03/2015 cho tôi.Thời gian thưc hiện từ ngày 01/04/2015 đến ngày 01/10/2015
     *trong khi UBND tỉnh thụ lý hồ sơ của tôi là ngày 20/08/2014 cho đến nay đã được 8 tháng.cho tới giờ công trình sắp tới ngày bàn giao thì bên UBND TP lại ra quyết định cưỡng chế.Làm như vậy có đúng với pháp luật không
    *Trong khi tôi muốn giữ nguyên hiện trạng đất để chờ được giải quyết(Vì lý do phần diện tích đất thực tế sử dụng lớn hơn phần diện tích đất trên giấy CNQSDĐ)./.
    *Tôi rất bức xúc nhưng không biết gửi đơn đến cơ quan nào.Xin luật sư cho tôi lời khuyên và hướng giải quyết 
    TÔI XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
     
    4381 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #449296   12/03/2017

    Chào bạn, với nhưng thông tin bạn cung cấp tôi xin có một số tư vấn như sau:

    Trước hết tôi muốn bạn lưu ý về vấn đề thời hạn giải quyết khiếu nại để tránh trường hợp lợi ích của bạn bị xâm phạm.

    “Điều 37. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai

    Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

    Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.”

    Như vậy, trong trường hợp trên bạn gửi đơn khiếu nại lần 2 lên tỉnh, tỉnh đã thông báo đơn khiếu nại của bạn đủ diều kiện thụ lý và thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ Tịch UBND Tỉnh. Tuy nhiên đến nay đã được 8 tháng mà UBND tỉnh vẫn chưa giải quyết vấn đề khiếu nại của gia đình bạn. Như vậy đã quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai mà UBND tỉnh không giải quyết thì bạn nên khởi kiện vụ án hành chính theo điều 42 luật khiếu nại 2011 để giải quyết sớm cho gia đình nhà bạn.

    “Điều 42. Khởi kiện vụ án hành chính

    Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 37 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

    Thứ hai là đối với vấn đề về việc UBND TP ra quyết định cưỡng chế trong khi giađình bạn đang chờ UBND tỉnh xem xét giải quyết khiếu nại lần 2, và gia đình bạn muốn giữ nguyên hiện trạng đất để chờ được giải quyết.

    Đối với việc quyết định cưỡng chế của UBND TP, bạn có thể căn cứ vào quy định tại điều 71 để xem xét xem UBND TP có đủ điều kiện để thực hiện cưỡng chế hay chưa?

    Việc cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 71 như sau:

    “Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

    1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.

    2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;

    b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

    c) Quyết định cưỡng chế  thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

    d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

    Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

    4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:

    a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;

    b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

    Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;

    c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

    Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.

    5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

    a) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;

    b) Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

    Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;

    c) Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

    d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;

    đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có yêu cầu;

    6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

     

    Về thẩm quyền thu hồi đất:

    “Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

    […]

    2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

    a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

    b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

    3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.”

    Theo như quy định trên,  trong trường hợp có cơ sở thu hồi đất và có đầy đủ điều kiện cưỡng chế thu hồi đất, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi mà không phụ thuộc vào việc Tòa án đang thụ lý hoặc đang giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai.

    Nếu không đồng ý với quyết định thu hồi đất gia đình bạn có quyền gửi đơn khiếu nại nhưng về mặt nguyên tắc việc thu hồi và cưỡng chế vẫn được thực hiện, trong trường hợp việc thu hồi đất được xác định không đúng theo trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình do việc thu hồi và cưỡng chế thu hồi gây ra. Do vậy trong thời gian khiếu nại quyết định hành chính thực hiện việc thu hồi đất, gia đình bạn có thể yêu cầu Tòa án thực hiện một số biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ mảnh đất, tài sản tránh thiệt hại không thể khắc phục được, quy định này tại Luật tố tụng hành chính 2015 :

    “Điều 66. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

    2. Trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.

    3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải thực hiện biện pháp bảo đảm.”

    Như vậy, bạn có thể gửi đơn yêu cầu tòa án đang thụ lý vụ án ra quyết định tạm đình chỉ việc thu hồi đất, kèm theo đơn là các chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này. 

     

    Trên đây là một số tư vấn của tôi dựa trên thông tin bạn cung cấp, nếu bạn có vấn đề gì thắc mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.

    Trân trọng! 

    Chuyên viên tư vấn: Lê Phụng Anh.

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI - DỰ ÁN BĐS | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |