DanLuat 2015

Cty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Chủ đề   RSS   
  • #378263 09/04/2015

    minh.thai

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/04/2015
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Cty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

    Xin mọi người giúp đỡ tư vấn tôi về trường hợp chủ Doanh nghiệp đơn phương cho tôi nghỉ việc. Cụ thể tình tiết:

    1/ Tôi nhận được thư mời làm việc từ phòng nhân sự, bắt đầu làm việc tại Công ty ngày 17/3/2014 (Trong e-mail đó có gửi cho các trưởng phòng khác liên quan)

       Thư mời làm việc không ghi thời hạn làm việc. Chỉ ghi các khoản lương thưởng và ngày bắt đầu làm việc.

    2/ Trong quá trình làm việc từ đó tới ngày 3/4/2015 tôi chưa ký bất cứ hợp đồng lao động nào (sau 1 năm 17 ngày)

    3/ Trong quá trình làm việc tôi luôn được đánh giá ở mức hoàn thành công việc thông qua form đánh giá cuối tháng.

    4/ Trong bảng lương (gửi qua e-mail) phòng nhân sự gửi hàng tháng đều ghi nhận có đóng BHXH. Riêng tháng 2/2015 có thêm khoản đóng thuế thu nhập cá nhân.

    5/ Vào hồi 15.20 ngày 3/4/2015, Tổng giám đốc công ty yêu cầu tôi nghỉ việc - trao đổi bằng điện thoại. 

    6/ Vào hồi 14.10 ngày 4/4/2015, phòng nhân sự công ty gửi e-mail thông báo cho tôi nghỉ việc (lý do: quyền hạn của Tổng giám đốc, kết quả làm việc). Họ yêu cầu tôi bàn giao tài sản trước ngày 10/4/2015 chứ không thấy nói đến bàn giao công việc (đến nay tôi chưa thực hiện việc đó).

    Vì bảo vệ nhân viên thủ kho không gặp rủi ro mất hàng (bảo vệ trên lý lẽ của quy trình làm việc chuẩn mà chính Tổng giám đôc phê duyệt). Vị Tổng giám đốc đó đã cư xử cảm tính trong công việc, thể hiện qua quyết định cho tôi nghỉ việc.

    Rất mong các bạn Luật sư , xem xét và giúp đỡ tôi có lý lẽ hợp pháp để yêu cầu Công ty D&G hành xử đúng luật trường hợp này:

    Tôi phải làm gì lúc này?

    - Công ty có những sai phạm gì trong trường hợp này.

    - Tôi có quyền đòi hỏi quyền lợi gì trong trường hợp này.

    - Tôi có quyền yêu cầu bồi thường không? Mức bồi thường bao nhiêu (nếu có)? Dựa trên mức lương nào?

    - Trường hợp Công ty không chấp thuận bồi thường?

    Thêm nữa, sáng nay trưởng phòng nhân sự  gọi điện cho tôi yêu cầu đến bàn giao tài sản và cũng khuyên tôi "không nên mất thời gian cho việc nhờ luật sư hay kiện cáo làm gì vì chẳng có lợi gì cho người lao động, kiện mất thời gian, công ty Việt Nam nào cũng thế thôi" 

    Khẩn thiết mong nhận được hồi âm sớm của các bạn Luật Sư!!!  

    Minh Thái O912 65O 733

     

    Cập nhật bởi minh.thai ngày 09/04/2015 10:30:01 SA
     
    3184 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #378309   09/04/2015

    Anlhk33-DLU
    Anlhk33-DLU
    Top 50
    Male
    Lớp 6

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:10/05/2011
    Tổng số bài viết (834)
    Số điểm: 7856
    Cảm ơn: 215
    Được cảm ơn 331 lần


    Chào bạn

    Trường hợp của bạn tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất: Về việc giao kết hợp đồng

    Theo như thông tin bạn đưa ra thì việc Công ty nơi bạn làm việc khi bắt đầu công việc thì công ty chỉ gửi Mail và không ký kết hợp đồng lao động. Đến nay bạn đã làm được 1 năm 17 ngày.

    Việc Công ty không ký kết hợp đồng lao động với bạn là vi phạm điều 5 Nghị định 95/2013:

    Điều 5. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động

    1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

    a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

    b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

    c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

    d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

    đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

    Trong trường hợp bạn không thỏa thuận được với Công ty về việc bồi thường bạn soạn thảo một công văn hoặc một văn bản yêu cầu gửi đến phòng lao động thương binh xã hội. Phòng thương binh xã hội sẽ giải quyết cho bạn.

    Thứ hai: Về việc bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    Theo quy định tại Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.

    Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

    a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

    Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

    c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

    d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

    a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

    c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

    Tuy bạn không có ký kết hợp đồng lao động với Công ty nhưng căn cứ vào việc Email trả lời của Công ty đó chính là một trong những căn cứ giao kết hợp đồng với bạn. Việc Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng như vậy là trái với quy định pháp luật lao động.

    Thứ ba: Về yêu cầu bồi thường

    Việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của công ty phải chịu hậu quả pháp lý như sau:

    Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

    5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    Thứ tư: Về thỏa thuận bồi thường

    Trong trường hợp bạn không thể thỏa thuận được với công ty thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án nơi công ty đặt trụ sở. Hoặc bạn làm đơn yêu cầu giải quyết gửi đến phòng lao động thương binh xã hội quận nơi công ty đặt trụ sở.

    Trên đây là một vài trao đổi với bạn.

    Trân trọng!

     

     

    Hãy theo đuổi đam mê, thành công sẽ đến với bạn.

    Hotline: 0989.422.798. Luật sư - Hãng luật Hai Nguyen & Cộng Sự. Lya BuilDing, phòng 12 A, Chung cư Viện chiến lược Bộ Công An, Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Website: http://lamchuphapluat.vn/

    Tư vấn luật miễn phí: http: http://duongleuocan.blogspot.com/

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Anlhk33-DLU vì bài viết hữu ích
    minh.thai (13/04/2015)
  • #378738   13/04/2015

    thienbinh90
    thienbinh90

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/05/2012
    Tổng số bài viết (10)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 2 lần


    Chào bạn minh.thai

    Về trường hợp của bạn mình có một vài góp ý như sau:

    Thứ nhất: Về việc giao kết hợp đồng lao động

    Điều 16 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định về hình thức Hợp đồng lao động, theo đó:

    "1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này."

    Điều 12 Luật Giao dịch điện tử 2005 cũng quy định:

    Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết.

    Như vậy, thư mời làm việc được gửi qua mail cũng có thể được xem là văn bản và đáp ứng yêu cầu tại Điều 16 Bộ Luật lao động.

    Thứ hai: Về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của công ty

    Bạn có nêu: “Vì bảo vệ nhân viên thủ kho không gặp rủi ro mất hàng (bảo vệ trên lý lẽ của quy trình làm việc chuẩn mà chính Tổng giám đôc phê duyệt). Vị Tổng giám đốc đó đã cư xử cảm tính trong công việc, thể hiện qua quyết định cho tôi nghỉ việc”.  Với thông tin mà bạn đã nêu như vậy, chúng tôi không thể xác định được nguyên nhân bạn bị đơn phương chấm dứt Hợp đồng. Tuy nhiên bạn có thể căn cứ Điều 38 Bộ luật lao động để xác định xem mình có bị Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật hay không?

    Hợp đồng của bạn không có thỏa thuận về thời hạn làm việc nên có thể xem đây là Hợp đồng không xác định thời hạn. Do vậy việc công ty không thông báo trước 45 ngày là vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 38 Bộ Luật lao động.

    Trường hợp bạn cho rằng công ty đã chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật bạn có thể yêu cầu công ty chi trả:  

    + Tiền lương những ngày không được làm việc

    + Bồi thường tối thiểu 02 tháng tiền lương

    + Khoản tiền tương đương những ngày vi phạm thời hạn báo trước.

    Tiền lương sử dung làm căn cứ yêu cầu chi trả các khoản trên là tiền lương mà công ty đã đề nghị trong thư mời  làm việc mà bạn đồng ý.

    Thứ ba: về hướng giải quyết,

    Theo tôi bạn nên yêu cầu đại diện công ty ban hành Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng chính thức (Băng văn bản, có chữ ký của người có thẩm quyền, đóng dấu công ty).  Bạn cũng nên trao đổi lại với công ty và yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình khi Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động như đã nêu ở trên.

    Nếu không được đáp ứng bạn có thể khởi kiện Công ty tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, việc khởi kiện tại Tòa án chỉ nên là lựa chọn cuối cùng vì thường mất rất nhiều thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc.

    Chúc bạn giải quyết công việc được thuận buồm xuôi gió.

    Trân trọng.

    Nguyễn Văn Ân - CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN Á CHÂU

    Mobile: +84 938431647;

    Email: annguyen@saigon-asialaw.com

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn thienbinh90 vì bài viết hữu ích
    minh.thai (13/04/2015)
  • #380489   23/04/2015

    minh.thai
    minh.thai

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/04/2015
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Thái trân trọng cảm ơn Luật Sư Nguyễn Văn Ân - CÔNG TY LUẬT TNHH SÀI GÒN Á CHÂU và Luật Sư Dương An - CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM (WWW.LUATVIETKIM.COM)

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-