DanLuat 2015

Có quyền đình chỉ vụ án vì bị đơn bỏ đi khỏi nơi cư trú không

Chủ đề   RSS   
  • #123432 12/08/2011

    haituanacb

    Sơ sinh

    Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
    Tham gia:23/07/2011
    Tổng số bài viết (54)
    Số điểm: 460
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 12 lần


    Có quyền đình chỉ vụ án vì bị đơn bỏ đi khỏi nơi cư trú không

    Chào các anh chị trong diễn đàn, tôi có một thắc mắc xin các cao thủ góp ý cho tôi với:

    Tôi làm việc tại một Ngân hàng thương mại, được sếp ủy quyền để giải quyết một vụ đòi nợ, vụ đó như thế này:

    Ông C có vay của Ngân hàng một số tiền đã quá hạn nhưng không trả nợ. Gia đình ông C đã bỏ nhà đi nơi khác ở, tôi không thể liên lạc được với ông C, cũng không biết cả gia đình ông đang ở đâu. Buộc lòng, tôi phải khởi kiện ra tòa để đòi nợ. Tòa án đã thụ lý, triệu tập đương sự hòa giải nhưng không hòa giải được vì không biết ông C đang ở đâu. Tòa yêu cầu tôi cung cấp địa chỉ của ông C để triệu tập lên làm việc nhưng tôi chỉ cung cấp được địa chỉ thường trú khi ông C chưa bỏ trốn, còn hiện nay thì không biết ông C ở đâu (cố tình trốn thì sao mà tìm được?). Do đó tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

    Vậy: quyết định đó của tòa án có cơ sở pháp lý hay không?
    Tôi có trách nhiệm cung cấp đúng địa chỉ hiện tại của ông C cho Tòa hay không?
    Ông C có dấu hiệu vi phạm Luật hình sự hay không ? (ông C vay tiền xong, trả nợ được 2,3 kỳ rồi trốn biệt luôn, không báo cho ngân hàng biết đang ở đâu)?
    Cập nhật bởi haituanacb ngày 12/08/2011 04:01:42 CH
     
    30389 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #123438   12/08/2011

    nguyenbuibahuy
    nguyenbuibahuy
    Top 100
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (469)
    Số điểm: 3155
    Cảm ơn: 72
    Được cảm ơn 64 lần


        Thân chào bạn,
        Trường hợp của bạn được tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể như sau:

    Để thi hành đúng và thống nhất quy định của BLTTDS, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm" của BLTTDS. Tại các tiểu mục 8.5, 8.6 và 8.7 mục 8 Phần I của Nghị quyết hướng dẫn:

    "8:5. Trường hợp trong đơn khởi kiện không ghi đầy đủ cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì Toà án yêu cầu người khởi kiện ghi đầy đủ và đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu người khởi kiện không thực hiện, thì Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 169 của BLTTDS trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ mà không được thụ lý vụ án. Việc Toà án thụ lý vụ án để sau đó ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do "chưa tìm được địa chỉ của bị đơn" là không đúng quy định của BLTTDS, vì đây không phải là một trong những trường hợp Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 189 của BLTTDS. Toà án cũng không được tự mình tiến hành thông báo tìm người bị kiện, vì đây là nghĩa vụ của đương sự.

    8.6. Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

    Do đó, bạn nên trình bày rõ lý do và căn cứ của Tòa án đình chỉ vụ án để có thể khẳng định chính xác Tòa án làm như vậy là đúng hay sai theo quy định.
              Về vấn đề hình sự, người vay tiền có dấu hiệu của tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điều 140 BLHS, bạn nên làm đơn tố cáo với cơ quan điều tra tại địa phương để làm rõ.
             

    Nguyễn Bùi Bá Huy - nguyenbuibahuy@gmail.com

    Công Ty Luật TNHH Sài Gòn Á Châu - www.saigon-asialaw.com

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn nguyenbuibahuy vì bài viết hữu ích
    haituanacb (12/08/2011) dung_kl (19/08/2011)
  • #123443   12/08/2011

    tuyenthu13
    tuyenthu13

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:08/11/2010
    Tổng số bài viết (50)
    Số điểm: 465
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 5 lần


    Thân chào bạn:
    Bạn là người có trách nhiệm cung cấp địa chỉ, Tòa đình chỉ vụ án là đúng. Cụ thể:
    Tại điều 164 BL TTDS quy định :

    Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

    a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

    b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;

    c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

    d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

    đ) #00b050;">Tên, địa chỉ của người bị kiện;

    .............................................
    Điều 169 quy định
    Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Toà án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Toà án ấn định.

    Điều 192 quy định:
    Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại Điều 168 của Bộ luật này (thuộc trường hợp "Chưa có đủ điều kiện khởi kiện" ở điều 168)

    Người bạn kiện không phạm tội lừa đảo. Tội lừa đảo được quy định như sau:
    Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
    Do đó, chỉ phạm tội lừa đảo khi người này dùng "thủ đoạn gian dối" để vay tiền. Ở đây không có hành vi gian dối để vay tiền Ngân hàng nên không phạm tội này.

    Trường hợp này  người vay tiền có thể phạm tôi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
    Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó ………….


    Tuy nhiên, để xác định việc phạm tội trên cần xem xét người này bỏ trốn để chiếm đoạt tiền hay vì lý do nào khác.
    Trân trọng.

    Cập nhật bởi tuyenthu13 ngày 12/08/2011 04:46:20 CH Cập nhật bởi tuyenthu13 ngày 12/08/2011 04:45:10 CH

    Huỳnh Tuyên Thư

    Email: Huynhthu158@yahoo.com.vn

    ĐT : 09888 66 445

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn tuyenthu13 vì bài viết hữu ích
    dung_kl (19/08/2011) haituanacb (12/08/2011)
  • #123444   12/08/2011

    luatsuchanh
    luatsuchanh
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:09/03/2011
    Tổng số bài viết (3107)
    Số điểm: 22317
    Cảm ơn: 295
    Được cảm ơn 1462 lần
    Lawyer

    Chào bạn!
    Vấn đề của bạn hiện còn tranh cãi nhưng mới đây thì theo quan điểm của Toà án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh cho rằng: "nếu khi thụ lý án, tòa thông báo cho bên bị đơn biết việc khởi kiện của nguyên đơn mà sau đó bị đơn bỏ trốn thì tòa mới được quyền thụ lý giải quyết. Còn những trường hợp bị đơn đã bỏ đi trước khi tòa thụ lý thì cần phải trả lại đơn, đình chỉ vụ kiện. Vì đây là những trường hợp nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn."

    Bạn tham khảo http://phapluattp.vn/20100719114425957p0c1063/noi-o-cuoi-cung-cua-bi-don-o-dau.htm

    Và Toà án Tp.Hồ Chí Minh trên thực tiễn đã huỷ nhiều bản án vì áp dụng quy định điểm a khoản 1 Điều 36 BLTTDS.

    Giám đốc Công ty Luật TNHH Đức Chánh - Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh

    Trụ sở: 91 Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, quận 1

    Web: http://www.luatducchanh.vn/ - http://www.luatsuchanh.com/

    Điện thoại: (08) 66 540 777

    Email: luatsuchanh@gmail.com - luatsu@luatducchanh.vn

    Yahoo: luatsuchanh

    Gtalk: luatsuchanh

    Skype: luatsuchanh

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn luatsuchanh vì bài viết hữu ích
    haituanacb (12/08/2011) vuhai_2585 (02/04/2014) thuong9225 (07/11/2013)
  • #123451   12/08/2011

    haituanacb
    haituanacb

    Sơ sinh

    Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam
    Tham gia:23/07/2011
    Tổng số bài viết (54)
    Số điểm: 460
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 12 lần


    Vụ này, sau khi bị đình chỉ thì tôi đã kháng cáo phúc thẩm lên Tòa phúc thẩm tòa tối cao. Trong đơn kháng cáo tôi đã trình bày các căn cứ theo quy định của #0000ff;">#ff0000; font-size: 14px;">Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm" của BLTTDS để bảo vệ quan điểm của mình là nguyên đơn không có trách nhiệm cung cấp địa chỉ hiện tại của bị đơn, và Tòa phúc thẩm đã chấp nhận, hủy án sơ thẩm giao tòa án tỉnh xử lại. Nhưng đúng như #ff0000; font-size: 14px;">luatsuchanh nói thì tôi thấy có rất nhiều quan điểm, phía các cán bộ tòa án thì nói đình chỉ là đúng, nhưng một số người khác lại nói đình chỉ là sai. Báo Pháp luật TP HCM cũng có một bài nói về đề tài này và cũng có nhiều quan điểm khác nhau nhưng chủ yếu nghiêng theo hướng đình chỉ. Tôi cũng thấy luật quy định nguyên đơn phải cung cấp đại chỉ của bị đơn nhưng theo điều 12 luật cư trú thì: 

    1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

    Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

    Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

    Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

    2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.
    Như vậy việc cung cấp nơi có hộ khẩu thường trú là đực rồi còn cung cấp địa chỉ hiện tại thì là sao cung cấp được, như bắt cóc bỏ dĩa thôi. Có trường hợp vay xong thì bỏ đi ra nước ngoài (chứng minh được) như vậy làm sao cung cấp địa chỉ hiện tại. Thực tế tôi thấy việc vay tiền xong rồi bỏ trốn luôn đang gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng khi thu hồi nợ, thậm chí không thu được

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn haituanacb vì bài viết hữu ích
    dung_kl (19/08/2011)
  • #420013   29/03/2016

    levietthanhlevietthanh
    levietthanhlevietthanh

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:28/03/2016
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    [quote=tuyenthu13]

    Thân chào bạn:
    Bạn là người có trách nhiệm cung cấp địa chỉ, Tòa đình chỉ vụ án là đúng. Cụ thể:
    Tại điều 164 BL TTDS quy định :

    Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

    a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

    b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;

    c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

    d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

    đ) #00b050;">Tên, địa chỉ của người bị kiện;

    .............................................
    Điều 169 quy định
    Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Toà án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Toà án ấn định.

     

    Điều 192 quy định:
    Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại Điều 168 của Bộ luật này (thuộc trường hợp "Chưa có đủ điều kiện khởi kiện" ở điều 168)

     

    Người bạn kiện không phạm tội lừa đảo. Tội lừa đảo được quy định như sau:
    Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
    Do đó, chỉ phạm tội lừa đảo khi người này dùng "thủ đoạn gian dối" để vay tiền. Ở đây không có hành vi gian dối để vay tiền Ngân hàng nên không phạm tội này.

    Trường hợp này  người vay tiền có thể phạm tôi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
    Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó ………….


    Tuy nhiên, để xác định việc phạm tội trên cần xem xét người này bỏ trốn để chiếm đoạt tiền hay vì lý do nào khác.
    Trân trọng.

    Theo quan điểm của mình thì đình chỉ là hợp lý, và được áp dụng trong thực tiễn tại các Tòa án. Nhưng thực sự mình không tìm ra căn cứ pháp lý nào thật sự phù hợp để đình chỉ, nói như bạn Tuyenthu13 thì trường hợp này đình chỉ theo trường hợp CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN quy định tại Điều 192 thì không đúng. vì trường hợp này không phải trường hợp không đủ điều kiện khởi kiện. đáng lý tại khoản 2 Điều 192 phải dẫn chiếu đến Điều 169 thì đúng hơn. Mình đang vướng chổ này, thật sự không tìm ra căn cứ nào phù hợp để đình chỉ khi Tòa đã thụ lý rồi, nếu chưa thụ lý thì căn cứ Điều 169 để trả lại đơn, nhưng đã thụ lý thì thật sự mình chưa tìm ra căn cứ, ai giúp mình với.

    Cập nhật bởi levietthanhlevietthanh ngày 29/03/2016 12:10:40 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #420044   29/03/2016

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5303)
    Số điểm: 50818
    Cảm ơn: 1840
    Được cảm ơn 3510 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    levietthanhlevietthanh viết:

    Theo quan điểm của mình thì đình chỉ là hợp lý, và được áp dụng trong thực tiễn tại các Tòa án. Nhưng thực sự mình không tìm ra căn cứ pháp lý nào thật sự phù hợp để đình chỉ, nói như bạn Tuyenthu13 thì trường hợp này đình chỉ theo trường hợp CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN quy định tại Điều 192 thì không đúng. vì trường hợp này không phải trường hợp không đủ điều kiện khởi kiện. đáng lý tại khoản 2 Điều 192 phải dẫn chiếu đến Điều 169 thì đúng hơn. Mình đang vướng chổ này, thật sự không tìm ra căn cứ nào phù hợp để đình chỉ khi Tòa đã thụ lý rồi, nếu chưa thụ lý thì căn cứ Điều 169 để trả lại đơn, nhưng đã thụ lý thì thật sự mình chưa tìm ra căn cứ, ai giúp mình với.

    Chào bạn!

    Chủ đề này lập từ tháng 8/2011, lúc đó văn bản hướng dẫn chưa cụ thể lắm. Tuy nhiên quan điểm của bạn tuyenthu13 trong tình huống này là đình chỉ vụ án do chưa có đủ điều kiện khởi kiện là đúng rồi. Hiện nay thì Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP đã hướng dẫn rất rõ vấn đề này rồi.

    Điều 8. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện quy định tạiĐiều 168 của BLTTDS

    1. .......................................

    2. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

    Ví dụ 1: ................................

    Ví dụ 2: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn không ghi đúng địa chỉ của bị đơn, mặc dù Toà án yêu cầu bổ sung nhưng đã quá thời hạn do Toà án ấn định mà nguyên đơn vẫn không bổ sung được.

    Trân trọng!

    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
    levietthanhlevietthanh (05/04/2016)
  • #123452   12/08/2011

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5303)
    Số điểm: 50818
    Cảm ơn: 1840
    Được cảm ơn 3510 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    Chào các bạn!

    Ý kiến của #fff8df;">luatsuchanh là hoàn toàn đúng. Và đó không những là quan điểm của TAND Tp HCM mà là quan điểm của TANDTC được thể hiện qua các lần tập huấn nghiệp vụ về việc thi hành BLTTDS. Thực tiễn hiện nay các Tòa án địa phương đều giải quyết như vậy và no là phù hợp với quy định của BLTTDS, thể hiện ở chỗ:

    Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS thì nghĩa vụ của Tòa án là phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn về việc Tòa án đã thụ lý vụ án trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý. Nghĩa vụ này của Tòa án cũng đồng thời là quyền của đương sự được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTDS. Việc thông báo thụ lý cho bị đơn là nhằm đảm bảo chọ họ biết được mình bị ai khởi kiện, khởi kiện về việc gì? Để từ đó họ có điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình như đưa ra yêu cầu phản tố, đưa ra ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện, nhờ người bảo vệ quyền lợi, chuẩn bị các tài liệu chứng cứ...

    Vì vậy mà trường hợp nguyên đơn có ghi địa chỉ của bị đơn trong đơn khởi kiện, nhưng thực tế tại thời điểm đó họ không có mặt tại địa chỉ đó nữa thì Tòa án sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ thông báo hợp lệ việc thụ lý cho họ được, dẫn đến các quyền tố tụng của họ không được đảm bảo. Vậy nên Tòa án không thể xét xử ắng mặt họ mà buộc phải đình chỉ vụ án, trả lại đơn khởi kiện nếu nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ khác của bị đơn.

    Còn trường hợp bị đơn đã nhận được thông báo thụ lý vụ án mà sau đó bỏ trốn thì mới được coi là họ cố tình che dấu địa chỉ và Tòa án mới được xét xư vắng mặt họ.

    Trân trọng!
     

    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
    songvu (13/08/2011) haituanacb (13/08/2011) thuong9225 (07/11/2013)
  • #124032   16/08/2011

    phuhd
    phuhd

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/12/2009
    Tổng số bài viết (14)
    Số điểm: 85
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 4 lần


    Chào bạn,

    Bạn có thể áp dụng hướng dẫn của CV số 109/KHXX ngày 30/6/2006 của TANDTC như sau:
    "8.6. Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung"

    để có căn cứ khiếu nại quyết định của tòa án.

    Trân trọng.

    LAWYER VN NET - LUẬT SƯ VIỆT NAM tel: (84)918171098 (viber)

    http://www.lawyervn.net ; skype: hoangcounsel; email: hoangducphu72@gmail.com

    Lawyervn.net cung cấp các giải pháp pháp lý và kinh doanh tại Việt Nam

     
    Báo quản trị |  
  • #124071   16/08/2011

    BachThanhDC
    BachThanhDC
    Top 10
    Cao học

    Nghệ An, Việt Nam
    Tham gia:01/12/2009
    Tổng số bài viết (5303)
    Số điểm: 50818
    Cảm ơn: 1840
    Được cảm ơn 3510 lần
    ContentAdministrators
    SMod

    Chào phuhd!

    Quyết định mà Tòa án ban hành trong trường hợp này là quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Vì vậy nếu đương sự không đồng ý với quyết định này thì phải làm đơn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định chứ không phải là khiếu nại. Nếu đã hết thời hạn kháng cáo mà muốn xem xét lại quyết định này thi phải làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm/tái thẩm đến người có thẩm quyền kháng nghị chứ cũng không phải là khiếu nại.

    Đối với trường hợp trên, không thể căn cứ vào công văn 109/KHXX để cho rằng quyết định đình chi của Tòa án là sai được. Bởi bạn đang hiểu không chính xác tinh thần của công văn này.

    Công văn nêu rõ: "nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà ánnhằm mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện".

    Quy định "không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Tòa án" đồng nghĩa với việc người bị khởi kiện đã biết được mình bị ai khởi kiện, kiện ra Tòa án nào, về việc gì thông qua việc được Tòa án giao thông báo việc thụ lý vụ án. Và trong trường hợp này nếu họ không thông báo thì mới bị coi là cố tình che dấu địa chỉ.

    Còn với trường hợp bạn haituanacb nêu ra, thì ngay từ lúc làm đơn khởi kiện đã không biết được người bị kiện đang sinh sống ở đâu, dẫn đến việc Tòa án không thể giao thông báo thụ lý vụ án cho họ được. Điều này làm cho người bị kiện không thể biết rằng họ bị ai khởi kiện về việc gì, khởi kiện ra Tòa án nào. Vậy thì làm sao có thể gán cho họ cái nghĩa vụ phải thông báo việc thay đổi địa chỉ cho người khởi kiện và Tòa án biết được. Vì họ có biết mình bị kiện đâu mà thông báo và phải thông báo cho ai, cơ quan nào.

    Bới vậy mà trong trường hợp trên, Tòa án ra quyết định đình chỉ là hoàn toàn có căn cứ.

    Trân trọng! 


    Cập nhật bởi BachThanhDC ngày 16/08/2011 03:31:13 CH

    Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
    thuong9225 (07/11/2013)
  • #124275   17/08/2011

    Hoangvhung
    Hoangvhung
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/05/2011
    Tổng số bài viết (89)
    Số điểm: 1045
    Cảm ơn: 24
    Được cảm ơn 24 lần


    Cám ơn BachThanhDC  đã phân tích rất kỹ để anh em tham khảo.

    Tôi cũng gặp trường hợp tương tự khi  ngân hàng đòi tiền và đối tượng kia bỏ trốn, nhưng người ta viết đơn Tố giác trực tiếp cho công an quận. Sau đó công an làm việc (tất nhiên ngân hàng phải mất phí) thì tìm lại được cả xe và người:

    Xin gửi đơn để bạn haituanacb tham khảo:
     
    1. I.  TÓM TẮT SỰ VIỆC
    2. Ngày 14/10, Tập Đoàn Ngân Hàng _________ - Chi nhánh Hoàn Kiếm đã cho bà LPT vay có thế chấp số tiền là 776.000.000 VNĐ với thời hạn vay là 48 tháng và lãi suất 16.29%/năm. Tài sản dùng để thế chấp là một xe ôtô hiệu Mercedes Benz C250 CGI (W204) màu đen biển số 31F-____ có số khung là ++++++++++++ và số động cơ là 27186030055345; trị giá 1.245.625.805 VNĐ; chiếc xe do bà T đứng tên làm chủ sở hữu ________. Ngoài ra, tính đến ngày 24/01, bà T còn nợ thẻ tín dụng mở tại ngân hàng ____ là 63.439.247 VND.

    1. Từ ngày 14/10 đến nay, bà T không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào theo như Thư đề nghị vay (__) và Hợp đồng thế chấp (__). Bà T vẫn tiếp tục sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng để rút tiền sử dụng trước. Ngân hàng _____ đã nhiều lần ra thông báo yêu cầu bà T thực hiện các nghĩa vụ thanh toán nhưng bà T có dấu hiệu bỏ trốn. Hiện nay Ngân hàng ____ không thể liên lạc được với bà T tại các địa chỉ nói trên hoặc qua điện thoại và cũng không biết bà T đang cất giữ chiếc xe nói trên ở đâu.

    II.  DẤU HIỆU TỘI PHẠM VÀ TỐ GIÁC

    1. Theo một số thông tin nhân được: Lần cuối cùng bà T sử dụng thẻ tín dụng ANZ là tại tỉnh Hòa Bình. Chiếc xe hiện đang được cầm cố bất hợp pháp cho bên thứ ba tại quận Hà Đông, TP. Hà Nội.
    2. Nay, bằng đơn này, chúng tôi tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói trên của bà LPT đến Cơ Quan Cảnh sát Điều Tra – Công An Quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
    3. Kính đề nghị Quý cơ quan xem xét, điều tra làm rõ nội dung vụ việc và thu hồi chiếc xe nói trên để trả cho Ngân hàng ANZ.

    http://netlaw.com.vn/

    - Tư vấn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội;

    - Tư vấn thủ tục ly hôn tại Hà Nội;

     
    Báo quản trị |  
    3 thành viên cảm ơn Hoangvhung vì bài viết hữu ích
    dung_kl (19/08/2011) BachThanhDC (02/10/2011) anhviet90 (05/06/2012)
  • #195520   21/06/2012

    Dinhvanviet
    Dinhvanviet

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/03/2007
    Tổng số bài viết (11)
    Số điểm: 65
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Mình cũng đang bị một vụ như của bạn, cũng đang nghĩ cách đối phó với Tòa án Huyện Hóc Môn xem có lên khiếu nại không hay là đi theo đường việc dân sự, tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Luật của mình thật là khó hiểu không biết đường nào mà mò, mỗi nguồi hiểu một kiểu và áp dụng một cách khác nhau. Nhưng theo mình nghĩ trong trường hợp này thì Tòa án lên thụ lý vụ án và tiếp tục làm theo thủ tục chung vì đây là đương sự cố tình trốn tránh và chầy ỳ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng nên Tòa án phải bảo đảm quyền lợi cho các bên, đằng này Tòa án lại đi trả lại đơn khởi kiện, việc trả lại đơn khởi kiện này vô hình dung Tòa án khuyến khích các bên xử nhau bằng con đường phi tố tụng, điều này sẽ dẫn đến những bất ổn cho xã hội và nền kinh tế vì vậy Tòa án cũng lên xem xét vấn đề này. 

    Bó tay với luật Việt Nam thiệt.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Dinhvanviet vì bài viết hữu ích
    vplstrung (28/05/2015)

0 Thành viên đang online
-