Cơ quan thi hành án có làm sai không?

Chủ đề   RSS   
  • #471767 22/10/2017

    TANSILE

    Sơ sinh

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:22/10/2017
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 149
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    Cơ quan thi hành án có làm sai không?

    Tôi đã mua nhà đất của bên A. Đã hòan tất mọi thủ tục theo qui định và sang tên cho tôi.Tôi đứng tên chủ quyền tài sản đó.

    Vài tháng sau bên A khởi kiện tôi để đòi lại căn nhà nói trên

    Tòa an sơ thẩm tuyên:

    1/Hủy hợp đồng mua bán nhà giửa tôi và bên A(Vì cho là hợp đồng gỉa cách)

    2/Hủy các giấy CNQSD đất và QSH nhà ở mà tôi đã đứng tên

    3/Bên A liên hệ cơ quan hửu trách để sang tên lại tài sản cho mình

    4/Bên A trả lại tiền bán nhà cho tôi và lãi suất phát sinh theo qui định

    Tôi thấy tình trạng phức tạp quá nên chấp nhận theo bản án phúc thẩm cho xong.

    Căn cứ theo bản án,tôi làm đơn yêu càu thi hành án.

    -Cơ quan thi hành án yêu cầu tôi nộp các bản chính giấy đất và nhà mà tôi đã đứng tên để thi hành án(Bên A chỉ có tài sản là căn nhà duy nhất nầy)

    Trong quá trình thi hành án,cơ quant thi hành án tự động trao giấy tờ nhà đất của tôi cho bên A sang tên nhưng lại không thông báo cho tôi biết

    Cơ quan thi hành án vẫn tiếp tục tiến trình bán đấu gía căn nhà và cuối cùng tôi là người trúng đấu gía mua căn nhà nói trên.

    Qúa trình chuẩn bị sang tên cho tôi thì tôi phát hiện bên A đã sang tên cho người khác nên không thể thi hành án được

    Tôi đang làm đơn khiếu nạy nhưng chưa được trả lời

    Xin cho tôi hỏi:

    1/việc thi hành án không thực hiện được như trên trách nhiệm thuộc về ai?

    2/ Cái sai của cơ quant thi hành án ở chổ nào?

    Chân thành cảm ơn

     
    3195 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #471890   23/10/2017

    chulinhcan
    chulinhcan

    Male
    Sơ sinh

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:15/08/2013
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 160
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 16 lần


    Chào bạn!

    Theo lời trình bày của bạn thì không thể có việc bên A đã sang tên tài sản cho bên thứ 3 một cách hợp pháp được. Vì quá trình kê biên, giao tài sản cho Trung tâm bán đấu giá, thông báo bán đấu giá (kể cả bên A có được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và QSH tài sản trước đó) thì tài sản của bên A cũng trong quá trình kê biên. Đến khi bạn mua trúng đấu giá, lúc này bạn và Trung tâm (tổ chức bán đấu giá) sẽ ký kết một hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Căn cứ hợp đồng này, bạn có quyền nhận tài sản (trường hợp tự nguyện), hoặc cưỡng chế giao tài sản (trường hợp không tự nguyện). Căn cứ vào hợp đồng mua đấu giá của bạn đã ký kết, bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận QSDĐ và QSH tài sản cho bạn (đương nhiên hợp đồng giữa bạn và Tô chức bán đấu giá là hợp pháp thì bạn sẽ được cấp). 

    Kể cả trong trường hợp bên A (bằng cách nào đó) đã sang tên cho bên thứ ba thì bạn vẫn có quyền yêu cầu cưỡng chế giao tài sản cho bạn. Không thể có việc không thi hành án được. 

    Nếu bên thứ 3 cho rằng giao dịch của mình là hợp pháp thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện (yêu cầu đối với hợp đồng đấu giá hoặc bên A). 

    Cũng nói thêm rằng, một quá trình kê biên liên tục như vậy (chưa giải tỏa kê kiên) cho đến khi có hợp đồng mua trúng đấu giá của bạn thì bên A sang tên cho bên thứ 3 là hoàn toàn không hợp pháp (tài sản đang kê biên phục vụ bán đấu giá thì không thể giao dịch được với bên khác). 

    Trên đây là vài ý kiến trao đổi với bạn. Nếu cần trao đổi thêm bạn có thể liên hệ. 

    Thân chào!

    Luật gia Võ Quốc Trị - Email: voquoctri84@gmail.com. Phone: 0903621658

     
    Báo quản trị |  
  • #471904   23/10/2017

    pukachi_kw
    pukachi_kw
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/08/2017
    Tổng số bài viết (112)
    Số điểm: 995
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 29 lần


    Căn cứ vào Điều 39 Luật thi hành án dân sự 2008 ta thấy việc cơ quan thi hành án tiến hành sang tên khi không thông báo với chủ sở hữu,

    Điều 39. Thông báo về thi hành án

    1. Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

    2. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

    3. Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức sau đây:

    a) Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;

    b) Niêm yết công khai;

    c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    4. Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu.

    Bởi vậy đối với hành vi ra quyết định thi hành án bạn có thể khiếu nại về việc cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án không có căn cứ và không thực hiện việc xác minh thông tin, chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

    Căn cứ vào quy định tại điều 10 Luật Thi hành án dân sự thì “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

    Căn cứ điều 140 Luật Thi hành án dân sự về Quyền khiếu nại về thi hành án

    “1. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    2. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:

    a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

    b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;

    Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

    c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

    d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.

    Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.

    Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.”

    Như vậy, bạn xem xét về thời hạn cụ thể trên thực tế để xác định thời hiệu khiếu nại đối với quyết định của cơ quan thi hành án đó trên thực tế. Nếu vẫn còn thời hiệu khiếu nại bạn có thể khiếu nại về quyết định thi hành án tới cơ quan thi hành án đã ra quyết định đó hoặc có thể khiếu kiện về quyết định đó đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi Cơ quan thi hành án có trụ sở căn cứ điều 7 Luật khiếu nại 2011.

     
    Báo quản trị |  
  • #471987   24/10/2017

    TANSILE
    TANSILE

    Sơ sinh

    An Giang, Việt Nam
    Tham gia:22/10/2017
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 149
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    Lời cảm ơn

    Cám ơn các bạn đã có ý kiến phản hồi. Nó sẽ giúp cho tôi có những bước tiếp trong giai đoạn khó khăn sắp tới.
     
    Báo quản trị |  
  • #472008   24/10/2017

    TranTamDuc.1973
    TranTamDuc.1973
    Top 50
    Male
    Lớp 7

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:26/03/2016
    Tổng số bài viết (1205)
    Số điểm: 9624
    Cảm ơn: 135
    Được cảm ơn 923 lần
    Moderator

    Nhiều người nói "Thi hành án dân sự là ông trời, muốn làm gì thì làm !", theo tôi câu nói này sai khi bao quát toàn bộ "thi hành án dân sự" nhưng đúng nếu nó hạn chế lại chỉ ở "một bộ phận không nhỏ thi hành án dân sự". Vì sao ? Vì hiện tại Pháp luật chỉ qui định cho thi hành án dân sự giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan tới thi hành án dân sự ! Tức Quyết định của Cơ quan thi hành án dân sự, hành vi của Chấp hành viên không phải là Quyết định, hành vi hành chính thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính.

    Rất nhiều người am hiểu về Luật luôn ngạc nhiên, so về vị trí thì Chủ tịch UBND các cấp (nhất là cấp tỉnh, huyện) hơn hẳn Cục trưởng, Chi cục trưởng của cơ quan Thi hành án dân sự nhưng không hiểu tại sao Quyết định, hành vi của Chủ tịch UBND các cấp bị Luật tố tụng hành chính điều chỉnh, còn Quyết định, hành vi của Cục trưởng, Chi cục trưởng, Chấp hành viên thì không.

    Khỏi nói chắc mọi người đều biết "lợi thế vừa đá bóng vừa thổi còi" là như thế nào, đó chính là lý do tại sao "một bộ phận không nhỏ thi hành án dân sự" là "ông trời con, muốn làm gì thì làm !". Chặng đường sắp tới của bạn TANSILE là vô vàn khó khăn, mong bạn "chân cứng đá mềm" và may mắn gặt hái được thành công.

    Trân trọng. 

     
    Báo quản trị |  
    2 thành viên cảm ơn TranTamDuc.1973 vì bài viết hữu ích
    nguoinhaque009 (27/10/2017) TANSILE (20/01/2018)