Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa nhận được tiền

Chủ đề   RSS   
  • #404810 01/11/2015

    candy111

    Sơ sinh

    Lâm Đồng, Việt Nam
    Tham gia:03/02/2013
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 45
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa nhận được tiền

    Xin chào luật sư,

    Nhờ luật sư tư vấn giúp vấn đề sau:

    Năm 2013 bố mẹ tôi có ký tên vào bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A, sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng bà A đã không giao tiền cho bố mẹ tôi, nên bố mẹ tôi không đồng ý ra ủy ban xã để chứng thực và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà A. Trong hợp đồng chuyển nhượng có phần chữ ký xác nhận của 2 nhân chứng, họ xác nhận có thấy bố mẹ tôi nhận tiền do bà A đưa, trong khi hai người này lại không có mặt trực tiếp lúc ký kết hợp đồng!

    Bà A kiện lên tòa án cấp huyện, sau nhiều lần xét xử, đến nay tòa án huyện ra bản án sơ thẩm yêu cầu bố mẹ tôi phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A.

    Xin luật sư tư vấn trường hợp này nhà tôi có phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng này hay không? Hiện tại gia đình chúng tôi không đồng ý với bản án trên, và cũng không có ý định tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng trên thì phải làm sao? Đối với 2 nhân chứng được bà A dựng lên để làm chứng xác nhận trong bản hợp đồng thì chúng tôi phải yêu cầu cơ quan nào có thể vạch trần sự giả dối của họ trước tòa?

    Rất mong nhận được sự tư vấn từ phía luật sư

    Xin chân thành cảm ơn và kính chào.

     
    4196 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #449326   12/03/2017

    Chào bạn! dựa trên những thông tin bạn cung cấp tôi xin có một số tư vấn như sau:

    Trong trường hợp của bạn, bạn đã ký tên vào bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A, sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng bà A đã không giao tiền cho bố mẹ bạn, nên bố mẹ bạn không đồng ý ra ủy ban xã để chứng thực và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà A. Tuy nhiên trong hợp đồng chuyển nhượng có phần chữ ký xác nhận của 2 nhân chứng, họ xác nhận có thấy bố mẹ bạn nhận tiền do bà A đưa, trong khi hai người này lại không có mặt trực tiếp lúc ký kết hợp đồng.

    Khi bà A kiện gia đình bạn ra tòa án, tòa án đã căn cứ vào bản hợp đồng đã có chữ ký thể hiện sự đồng ý, nhất chí của gia đình bạn về thỏa thuận trong hợp đồng, và có cả chữ ký chứng minh việc bà A đã giao tiền cho gia đình bạn của 2 nhân chứng. Nên từ những chứng cứ đó từ phía bà A tòa án có đủ cơ sở để yêu cầu gia đình bạn phải công chứng hoặc chứng thực và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà A để đảm bảo hợp đồng được thực hiện đúng, đảm bảo quyền và lợi ích của bà A.

    Về việc công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất.

    Tại Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

    "2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật."

    Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

    "3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

    a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này"

    Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) thì bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền.

    Nếu như hợp đồng mua bán của gia đình bạn được xác lập sau ngày 01/7/2004 mà không có công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng mua bán này không có hiệu lực pháp luật.

    Như vậy tòa án yêu cầu bạn phải công chứng theo quy định trên để đảm bảo hợp đồng được thực thi khi A đã thực hiện nghĩa vụ của mình là trả tiền– có chứng cứ chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ đó nên tòa đưa ra phán quyết vậy để đảm bảo quyền lợi của bà A.

    Nếu bạn không đồng ý với bản án của tòa thì gia đình bạn có thể kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự. trình tự, thủ tục được quy định cụ thể trong BLTTDS 2004.

    Vấn đề thứ hai là việc gia đình bạn muốn chứng minh bà A vẫn chưa đưa tiền cho bạn và hai người ký tên trong bản hợp đồng không có mặt vào thời điểm bạn giao kết hợp đồng với bà A thì bạn phải đưa ra chứng cứ để tòa án có cơ sở tin vào những điều bạn nói và đưa ra một bản án đúng đắn.

    Căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

    “Điều 79. Nghĩa vụ chứng minh

    1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

    2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

    3. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

    4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.”

    Nếu bạn không thể tự mình thu thập chứng cứ  thì bạn có thể yêu cầu tòa án tiến hành một số biện pháp theo quy định dưới đây của BLTTDS 2004.

    "Điều 85. Thu thập chứng cứ

    1. Trong trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ.

    2. Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:

    a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;

    b) Trưng cầu giám định;

    c) Quyết định định giá tài sản;

    d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;

    đ) Uỷ thác thu thập chứng cứ;

    e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.

    3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 2 Điều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Toà án.

    Đương sự có quyền khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Toà án. Khiếu nại của đương sự phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trên cơ sở khiếu nại của đương sự và xem xét việc tham gia phiên toà.

    Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có qquyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.”

    Như vậy, dối với 2 nhân chứng được bà A dựng lên để làm chứng xác nhận trong bản hợp đồng thì gia đình bạn có thể yêu cầu tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ, nhưng phải với điều kiện là gia đình bạn không thể tự mình thu thập được chứng cứ. Khi có được chứng cứ chứng minh cho việc bà A chưa đưa tiền cho gia đình bạn và 2 người chứng kiến kia là giả thì tòa án sẽ có căn cứ để tuyên hủy hợp đồng và gia đình bạn sẽ không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng này nữa.

     

    Trên đây là một số tư vấn của tôi dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp, nếu bạn có bất cứ thắc mắc gì vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.

    Trân trọng!

    Chuyên viên tư vấn: Lê Phụng Anh.

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI - DỰ ÁN BĐS | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |