Chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có cá nhân ở nước ngoài

Chủ đề   RSS   
  • #487136 14/03/2018

    Chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có cá nhân ở nước ngoài

    Ông A (vợ đã chết năm 1993), nên ông A sống cùng với con trai út tại thôn 12, xã Đăk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; Năm 1996, ông A được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông A (vì lúc đó con trai út còn nhỏ); Năm 2009, ông A được bảo lãnh sang nước Mỹ (theo diện H.O) nhưng vì là người đồng bào dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết nên đã không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và tài sản có trên đất(nhà ở) cho con trai út đang ở chung cùng hộ khẩu. Hiện tại, có công trình đường Quốc lộ 24 đi ngang qua thửa đất, và đã được lập hồ sơ đền bù đứng tên ông A và con trai út đứng ra ký nhận thay tiền đền bù.

    - Hỏi: Hiện nay con trai út muốn làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ tên cha mình là ông A có được không? Thủ rục như thế nào? (đã có liên hệ với ông A bằng đường điện thoại và ông A đã thống nhất sang tên cho con trai út. Nhưng vì hoàn cảnh và điều kiện không thể về nước được để ký hồ sơ). Mặt khác khi con trai út ký nhận tiền đền bù như vậy có đúng không? (có xác nhận của thôn, chính quyền địa phương và có biên bản họp gia đình đều thống nhất cho con trai út nhận tiền).

     
    2382 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #487138   14/03/2018

    thuychichu
    thuychichu
    Top 50
    Female
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2017
    Tổng số bài viết (1222)
    Số điểm: 11198
    Cảm ơn: 63
    Được cảm ơn 265 lần


    Về trường hợp anh nêu thì trên thực tế việc làm thủ tục tặng cho tài sản này vẫn thực hiện như bình thường (không bị hạn chế). Người muốn tặng cho (như ở đây là ông A) chỉ cần làm hợp đồng tặng cho và công chứng theo quy định, người được tặng cho (người con) căn cứ theo hợp đồng tặng cho này để thực hiện đăng ký biến động theo điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
     
    Vấn đề ở đây chủ yếu chỉ là việc ông A không thể về nước, như vậy thì việc công chứng sẽ thực hiện theo hướng sau:
     
    ông A làm hợp đồng tặng cho và công chứng tại lãnh sự quán Việt Nam nơi ông cư trú (công chứng về chữ ký của ông A trên hợp đồng này). Sau đó, ông A gửi hợp đồng này về nước để con trai ông tiếp tục làm thủ tục công chứng ở Việt Nam (công chứng phần chữ ký của mình trên hợp đồng).
     
    Căn cứ vào hợp đồng này (đã được công chứng đầy đủ) thì con ông A có thể thực hiện việc đăng ký biến động QSDĐ.
     
    Còn về việc ký nhận đền bù của người con: về nguyên tắc là không đúng. Bởi lẽ ở đây không có bất kỳ văn bản này có giá trị pháp lý để chứng minh quyền của người con trong việc này (các văn bản anh nêu không có giá trị bởi lẽ gia đình không phải là người có quyền sử dụng đất theo GCN).
     
    Ở đây, nếu như muốn chi trả cho người con thì cần văn bản chuyển giao quyền của ông A (người có quyền sử dụng đất theo GCN). Văn bản này có thể là hợp đồng tặng cho (như ở trên) hoặc là giấy ủy quyền (nếu làm giấy ủy quyền thì chỉ cần chữ ký của ông A - chỉ cần làm công chứng 1 lần ở lãnh sự quán) của ông A cho người con để lãnh phần tiền đền bù này.
     
    Còn đối với trường hợp làm như anh nêu thì có thể sẽ xảy ra tranh chấp giữa ông A và ban bồi thường: ông A sẽ không chấp nhận cho thu hồi đất bởi lẽ ông chưa nhận được tiền bồi thường (người con chưa có văn bản nào xác nhận là có quyền nhận số tiền này).
     
     
    Báo quản trị |  
  • #487145   14/03/2018

    thuychichu viết:

    Về trường hợp anh nêu thì trên thực tế việc làm thủ tục tặng cho tài sản này vẫn thực hiện như bình thường (không bị hạn chế). Người muốn tặng cho (như ở đây là ông A) chỉ cần làm hợp đồng tặng cho và công chứng theo quy định, người được tặng cho (người con) căn cứ theo hợp đồng tặng cho này để thực hiện đăng ký biến động theo điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
     
    Vấn đề ở đây chủ yếu chỉ là việc ông A không thể về nước, như vậy thì việc công chứng sẽ thực hiện theo hướng sau:
     
    ông A làm hợp đồng tặng cho và công chứng tại lãnh sự quán Việt Nam nơi ông cư trú (công chứng về chữ ký của ông A trên hợp đồng này). Sau đó, ông A gửi hợp đồng này về nước để con trai ông tiếp tục làm thủ tục công chứng ở Việt Nam (công chứng phần chữ ký của mình trên hợp đồng).
     
    Căn cứ vào hợp đồng này (đã được công chứng đầy đủ) thì con ông A có thể thực hiện việc đăng ký biến động QSDĐ.
     
    Còn về việc ký nhận đền bù của người con: về nguyên tắc là không đúng. Bởi lẽ ở đây không có bất kỳ văn bản này có giá trị pháp lý để chứng minh quyền của người con trong việc này (các văn bản anh nêu không có giá trị bởi lẽ gia đình không phải là người có quyền sử dụng đất theo GCN).
     
    Ở đây, nếu như muốn chi trả cho người con thì cần văn bản chuyển giao quyền của ông A (người có quyền sử dụng đất theo GCN). Văn bản này có thể là hợp đồng tặng cho (như ở trên) hoặc là giấy ủy quyền (nếu làm giấy ủy quyền thì chỉ cần chữ ký của ông A - chỉ cần làm công chứng 1 lần ở lãnh sự quán) của ông A cho người con để lãnh phần tiền đền bù này.
     
    Còn đối với trường hợp làm như anh nêu thì có thể sẽ xảy ra tranh chấp giữa ông A và ban bồi thường: ông A sẽ không chấp nhận cho thu hồi đất bởi lẽ ông chưa nhận được tiền bồi thường (người con chưa có văn bản nào xác nhận là có quyền nhận số tiền này).
     

    chào bạn,

    việc bạn cho rằng có thể công chứng hợp đồng tặng cho ở 02 nơi khác nhau là không có căn cứ, bởi hiện nay luật công chứng mới chỉ áp dụng công chứng 02 nơi đối với hợp đồng ủy quyền, ngoài ra thẩm quyền công chứng liên quan đến giao dịch bất động là của cơ quan công chứng trong phạm vi tỉnh nơi có bất động sản.

    Hỗ trợ các bạn những vấn đề pháp lý qua email.

    Email: luatsutrantrongqui@gmail.com

     
    Báo quản trị |