DanLuat 2015

Chế độ công chức đang trong thời gian điều tra vụ án

Chủ đề   RSS   
  • #437172 29/09/2016

    Chế độ công chức đang trong thời gian điều tra vụ án

    Tôi có gặp phải vấn đề pháp lý vướng mắc như sau, nhờ mọi người tư vấn giúp!

    Ông Nguyễn Văn A là công chức cấp xã, tháng 12/2014 ông A bị bắt tạm giam vì tội tham ô tài sản (căn cứ kết luận của Thanh tra huyện). Vụ án đã được xét xử phúc thẩm, bản án của Tòa phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm và yêu cầu điều tra lại vụ án do vi phạm trình tự tố tụng. Bản án phúc thẩm có hiệu lực tháng 7/2016.

    Thời gian ông A bị bắt tạm giam từ tháng 12/2014 đến 7/2015. Sau khi hết thời gian tạm giam ông A bị cấm đi khỏi nơi cư trú và sau khi kết thúc thời gian tạm giam ông A không đến UBND xã trình diện và UBND xã cũng không nhận được thông báo của công an huyện về việc ông A kết thúc thời gian tạm giam.

    Từ tháng 12/2014 đến nay UBND xã trả 50% lương cho ông A, gia đình ông có nhận đầy đủ.

    Đến tháng 9/2016 Ông A yêu cầu UBND xã bố trí công việc và trả truy lãnh 50% lương và phụ cấp còn lại trong khoảng thời gian tại ngoại (từ tháng 8/2015 đến giai đoạn hiện tại).

    Vậy ông A có đủ điều kiện để được bố trí công việc và trả 50% lương và phụ cấp còn lại trong khoảng thời gian tại ngoại hay không? Thẩm quyền giải quyết của UBND xã là gì?

    Nếu sau này bản án của tòa án tuyên phạt ông A là tù treo thì UBND xã có thẩm quyền xử lý kỷ luật ông A hình thức buộc thôi việc được hay không?

     

     
    2992 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #439609   24/10/2016

    nhtquaan
    nhtquaan

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:13/10/2016
    Tổng số bài viết (3)
    Số điểm: 15
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi. Dựa vào những thông tin bạn cung cấp, tôi xin có một vài trao đổi với bạn như sau:

    Ông A có được hưởng 50% bậc lương trong thời gian tại ngoại hay không?

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật cán bộ công chức thì: “Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ”

    Khoản 1 Điều 24 Nghị định 34/2011/NĐ- CP quy định về Chế độ, chính sách đối với công chức đang trong thời gian tạm giữ, tạm giam và tạm đình chỉ công tác cũng quy định như sau:

    1. Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật thì công chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

    Mặt khác, điều 109 khoản 1, Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về Các biện pháp ngăn chặn như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoăc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, ̣người có thẩm quyền tiến hà nh tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Như vậy, cấm đi khỏi nơi cư trú là một biện pháp ngăn chặn, cũng như tạm giữ và tạm giam, nhưng nhẹ hơn về mức độ. Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật không trực tiếp đề cập đến chế độ của cán bộ, công chức bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên ta có thể xem rằng, một cán bộ, công chức bị cấm đi khỏi nơi lưu trú cũng cần được hưởng chung một chế độ lương với cán bộ, công chức bị tạm giữ tạm giam bởi 2 lý do: một, cấm đi khỏi nơi cư trú cũng là một biện pháp ngăn chặn giống như tạm giữ, tạm giam; hai, dựa vào khoản 1 điều 24 Nghị định số 34/2011/NĐ- CP (được trích dẫn ở trên), ta thấy rằng ông A bị cấm đi khỏi nơi cư trú là để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

    Mặt khác, Khoản 5 Điều 123 Luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định “Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.”. Điều này có nghĩa là, ông A không có nghĩa vụ đến trình diện hoặc thông báo về việc mình bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho UBND Xã, nên việc ông A không đến trình diện không ảnh hưởng đến quyền được hưởng lương của ông.

    Như vậy có thể kết luận, ông A có quyền được hưởng 50% mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với các khoản phụ cấp (nếu có) . Cho nên, UBND xã đã thực hiện đúng pháp luật trong khoảng thời gian từ tháng 12/2014 đến tháng 9/2016.

    Ông A có được yêu cầu UBND trả truy lãnh 50% còn lại kể từ khi ông được tại ngoại hay không?

    Khoản 2 và Khoản 3 Điều 24 Nghị định 34/2011/NĐ- CP quy định:

    “2. Trường hợp công chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai thì được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

    3. Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tòa án tuyên là có tội thì không được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

    Như vậy, khoản 2 và 3 Điều 24 Nghị định 34/2011/NĐ- CP đã nêu rõ ràng căn cứ để ông A được nhận tiền truy lãnh: kết quả điều tra hoặc bản án của tòa kết luận ông A bị oan (trong trường hợp này, UBND Xã không có căn cứ để xử lý kỉ luật ông A), sai thì ông A mới được hưởng truy lãnh 50% lương còn lại; trong trường hợp ông A bị tòa tuyên án là có tội, thì ông A không được truy lãnh 50% lương còn lại.

    Tóm lại, cho đến khi có kết quả điều tra hoặc bản án, ông A sẽ không thể yêu cầu UBND trả truy lãnh 50% lương còn lại.

    Ông A có đủ điều kiện để được sắp xếp công việc hay không?

    Theo thông tin bạn cung cấp, ông A bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Do hiện nay, chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về việc phải hiểu “cấm đi khỏi nơi cư trú” là cấm đi khỏi đâu, cho nên có thể dựa vào Điều 12 về Nơi cư trú của công dân, Luật cư trú Số: 81/2006/QH11 để giải thích về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú:

    “1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

    Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

    Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

    Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

    2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.”

    Như vậy, nơi cư trú của ông A theo Luật cư trú là chỗ ở hợp pháp của ông A, có thể là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà ông A sử dụng để cư trú. Mặt khác, vào thời điểm tháng 9/2016, lệnh cấm đi hỏi nơi cư trú của ông A vẫn còn hiệu lực, nên ông A sẽ không có khả năng công tác tốt tại UBND do những hạn chế về đi lại. Trong khi đó, luật không quy định về nghĩa vụ của UBND phải sắp xếp việc làm cho cán bộ, công chức trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Cho nên có thể khẳng định rằng, UBND không buộc phải sắp xếp công việc cho ông A nếu cảm thấy không phù hợp, ít nhất cho đến khi có kết luận của cơ quan điều tra hoặc có bản án của tòa án.

    Nếu ông A bị tòa tuyên án có tội, tuyên phạt tù và cho hưởng án treo thì UBND Xã có thể xử lý kỉ luật ông A như thế nào?

    Điều 14 Nghị định Số 34/2011/NĐ-CP Quy định về Xử lý kỷ luật đối với công chức quy định rằng:

    “Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

    1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo;

    2. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị;

    3. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

    4. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;

    5. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức.”

    Dựa vào quy định trên, nếu ông A bị tuyên phạt tù và được hưởng án treo, căn cứ duy nhất để áp dụng hình thức kỉ luật buộc thôi việc đối với ông A là “Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức”. Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành nào có đề cập đến khoản 5 điều 14 ở trên, do đó cần phải dựa vào bản án của Tòa án đối với ông A, để xem tòa nhận định thế nào về mức độ nghiêm trọng của tội danh, sau đó mới có thể kết luận rằng có thể hay không thể áp dụng khoản 5 điều 14 của Nghị định trên như là căn cứ áp dụng buộc thôi việc đối với ông A.

    Mặt khác, Khoản 7, Điều 10 nghị định trên quy định về hình thức kỉ luật cảnh cáo như sau:

    Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

    7. Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;

    Điều 13, khoản 1, điểm c của Nghị định trên quy định về hình thức kỉ luật Cách chức như sau:

    1. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

    c) Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ;

    Như vậy, trong trường hợp ông A bị tuyên phạt tù cho hưởng án treo: ông sẽ có thể bị áp dụng hình thức kỉ luật cách chức, nếu ông là công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; và ông sẽ có thể bị áp dụng hình thức kỉ luật cảnh cáo, nếu ông là công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

    Trên đây là những trao đổi của tôi về vấn đề của chị. Nếu chị có mong muốn được trợ giúp pháp lý, xin liên hệ theo phần thông tin ghi dưới đây.

    Chân thành cảm ơn chị.

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn nhtquaan vì bài viết hữu ích
    khanhhungcamau (27/10/2016)
  • #497281   18/07/2018

    Minhquan2401
    Minhquan2401

    Male
    Sơ sinh

    Đồng Nai, Việt Nam
    Tham gia:18/07/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Quyền lợi và chế độ của công chức trong thờ gian tại ngoại

    Ông Nguyễn văn A là công chức bị bắt giam sau đó được tại ngoại “ cấm đi khỏi nơi cư trú” khi được triệu tập để điều tra bổ sung thì chị phí tàu xe và chổ ăn ơ trong thời gian điều tra bổ sung có được cơ quan thanh toán phần chị phí này không? Trong thời gian tại ngoại ông A có được khám sức khoẻ của cơ quan củ không? Theo quy định tại điều 13 luật tố tụng hình sự số 101 thì chưa có bản án kết tội của toà án thì ông A chưa có tội. Căn cứ điều 81 luật công chức số 22 năm 2008 thì ông A ( trong thời gian tạm giam ông A được xem xét là nghỉ có phép như vậy ông A không bị tạm giam nữa ( tại ngoại) ông A có phải đến cơ quan trình diện và đi làm không? Ông A không được đến cơ quan gọi đi làm thì có đúng với quy định của luật không, chấm công của ông A có dược xem là có phép không? Xin luật sư trả lời giúp cho tôi, tôi xin chân thành cám ơn
     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-