DanLuat 2015

Chánh án tòa án nhân dân tối cao có phải là thẩm phán không?

Chủ đề   RSS   
  • #392002 14/07/2015

    vpvilaf

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 115
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    Chánh án tòa án nhân dân tối cao có phải là thẩm phán không?

    như tiêu đề các anh chị cho em hỏi Chánh án tòa án nhân dân tối cao có phải là thẩm phán không? có thẩm quyền xét xử các vụ việc theo quy định không ạ. Mong các anh chị giúp đỡ.

     
    12389 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #392010   14/07/2015

    nguyenkhanhchinh
    nguyenkhanhchinh
    Top 10
    Male
    Dân Luật bậc 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/09/2011
    Tổng số bài viết (6836)
    Số điểm: 78068
    Cảm ơn: 1955
    Được cảm ơn 3735 lần


    vpvilaf viết:

    như tiêu đề các anh chị cho em hỏi Chánh án tòa án nhân dân tối cao có phải là thẩm phán không? có thẩm quyền xét xử các vụ việc theo quy định không ạ. Mong các anh chị giúp đỡ.

    Chào bạn!

    Bạn đọc Luật tổ chức tòa án 2014:

     

    Điều 22. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    1. Số lượng thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không dưới mười ba người và không quá mười bảy người; gồm Chánh án, các Phó Chánh án Tòa nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Thân 

    Bô lô ba la

     
    Báo quản trị |  
  • #392014   14/07/2015

    vpvilaf
    vpvilaf

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 115
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    mình đã đọc, và nếu căn cứ như bạn thì thậm chí là chánh án cấp huyện cũng không cần phải là thẩm phán.

     căn cứ k1 Điều 47 luật Tổ chức Tòa án 2014 thì Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Ý của mình là tiêu chí cụ thể của Chánh án: có nhất thiết phải là thẩm phán không? nó gồm những tiêu chí gì?

    Cập nhật bởi vpvilaf ngày 14/07/2015 09:44:08 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #392015   14/07/2015

    khoathads
    khoathads
    Top 75
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2010
    Tổng số bài viết (795)
    Số điểm: 7154
    Cảm ơn: 112
    Được cảm ơn 408 lần


    Chánh án Toà án nhân dân tối cao không bắt buộc phải là thẩm phán và là thành viên của Hội đồng thẩm phán, có trách nhiệm xem xét các bản án theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm).

    Bạn có thể xem thêm trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014.

     
    Báo quản trị |  
  • #392029   14/07/2015

    khoathads
    khoathads
    Top 75
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2010
    Tổng số bài viết (795)
    Số điểm: 7154
    Cảm ơn: 112
    Được cảm ơn 408 lần


    vpvilaf viết:

    mình đã đọc, và nếu căn cứ như bạn thì thậm chí là chánh án cấp huyện cũng không cần phải là thẩm phán.

     căn cứ k1 Điều 47 luật Tổ chức Tòa án 2014 thì Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

    Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện phải là thẩm phán bạn nhé và chánh án nhân dân cấp huyện vẫn có thể thụ lý một số vụ việc (thường là án ly hôn). Bản có thể tham khảo văn bản liên quan tại đây.

     
    Báo quản trị |  
  • #392041   14/07/2015

    vpvilaf
    vpvilaf

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 115
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    khoathads viết:

     

    vpvilaf viết:

     

    mình đã đọc, và nếu căn cứ như bạn thì thậm chí là chánh án cấp huyện cũng không cần phải là thẩm phán.

     căn cứ k1 Điều 47 luật Tổ chức Tòa án 2014 thì Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

     

     

    Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện phải là thẩm phán bạn nhé và chánh án nhân dân cấp huyện vẫn có thể thụ lý một số vụ việc (thường là án ly hôn). Bản có thể tham khảo văn bản liên quan tại đây.

    Đây là tiêu chuẩn để bổ nhiệm Chánh án cấp huyện làm thẩm phán Trung cấp bạn nhé. Trường hợp Chánh án ko muốn bổ nhiệm làm thẩm trung cấp thì sao??Mà văn bản của bạn cũng hết hiệu luôn rồi.

     
    Báo quản trị |  
  • #392097   14/07/2015

    khoathads
    khoathads
    Top 75
    Male
    Lớp 5

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:27/07/2010
    Tổng số bài viết (795)
    Số điểm: 7154
    Cảm ơn: 112
    Được cảm ơn 408 lần


    vpvilaf viết:

     

    khoathads viết:

     

     

    vpvilaf viết:

     

    mình đã đọc, và nếu căn cứ như bạn thì thậm chí là chánh án cấp huyện cũng không cần phải là thẩm phán.

     căn cứ k1 Điều 47 luật Tổ chức Tòa án 2014 thì Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

     

     

    Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện phải là thẩm phán bạn nhé và chánh án nhân dân cấp huyện vẫn có thể thụ lý một số vụ việc (thường là án ly hôn). Bản có thể tham khảo văn bản liên quan tại đây.

     

    Đây là tiêu chuẩn để bổ nhiệm Chánh án cấp huyện làm thẩm phán Trung cấp bạn nhé. Trường hợp Chánh án ko muốn bổ nhiệm làm thẩm trung cấp thì sao??Mà văn bản của bạn cũng hết hiệu luôn rồi.

     

    Không là thẩm phán sơ cấp thì làm sao được bổ nhiệm thẩm phán trung cấp! Không làm thẩm phán thì làm sao có khả năng tổ chức việc xét xử. Con đường đi lên chức chánh án ở huyện là: thi đậu công chức, được bổ nhiệm thư ký, được bổ nhiệm thẩm phán, được bổ nhiệm phó chánh án và cuối cùng là được bổ nhiệm chánh án. Cũng có một số trường hợp điều động thẩm phán từ nơi khác về lám chánh án cấp huyện.

    Văn bản trên là ví dụ cho bạn thấy chánh án cấp huyện phải là thẩm phán. Trước giờ vẫn vậy và sau này vẫn vậy, trừ trường hợp là chánh án cấp tỉnh và chánh án cao cấp, tối cao thì có thể không phải là thẩm phán. VD: Giám đốc sở tư pháp Tp.HCM được bổ nhiệm làm chánh án toà án nhân dân Tp.HCM là một điển hình.

     
    Báo quản trị |  
  • #392026   14/07/2015

    vpvilaf
    vpvilaf

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 115
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    Căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án Tòa cấp huyện, Tòa cấp tỉnh, Tòa cấp cao, Tòa tối cao thì không quy định Chánh án có thẩm quyền xét xử khác với quyền tổ chức công tác xét xử. Nói mở rộng ra thì không nhất thiết Chánh án, Phó Chánh án phải là thẩm phán vì nếu đã xét xử thì với tư cách là thẩm phán chứ không phải tư cách chánh án hay phó chánh án.

    Ngoài ra Chánh án Tòa cấp tỉnh trở lên là thành viên của Ủy ban thẩm phán hay Hội đồng thẩm phán thì không có nghĩa họ phải là thẩm phán. VD: anh A  là thành viên hội sinh viên Luật TP.HCM thì không có nghĩa anh A phải là sinh viên,anh A có thể là người tài trợ...Họ chỉ có thể là thẩm phán khi đã được Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Mà tiêu chí để bổ nhiệm thẩm phán thì được quy định rất rõ và không có quy định nào quy định là Chánh án Tòa án thì đương nhiên là thẩm phán. Hiện nay chưa có khái niệm đương nhiên là thẩm phán. Vì vậy theo tôi Chánh án không đương nhiên là Thẩm phán.

     
    Báo quản trị |  
  • #392037   14/07/2015

    vpvilaf
    vpvilaf

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/07/2008
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 115
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 0 lần


    đây là tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán trung cấp đối với Chánh án cấp huyện. Bạn nói không đúng trọng tâm rồi.

     
    Báo quản trị |  
  • #392077   14/07/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4084)
    Số điểm: 31536
    Cảm ơn: 928
    Được cảm ơn 1901 lần


    Chánh án TAND tối cao không bắt buộc là thẩm phán và thực tế như chánh án hiện nay là Viện trưởng VKS nhân dân tối cao sang làm chánh án nên có xét xử đâu. Không bắt buộc nên có càng tốt.

    Căn cứ luật tổ chức tòa án:

    Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

    1. Tổ chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

    2. Chủ tọa phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    3. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân theo quy định của luật tố tụng.

    4. Trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình.

    5. Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ.

    6. Chỉ đạo việc soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; ban hành hoặc phối hợp ban hành vănbản pháp luật thuộc thẩm quyền theo Luật ban hành văn bản pháp luật.

    7. Trình Quốc hội phê chuẩn việc đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Thẩm phán các Tòa án khác.

    8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 42, khoản 1 Điều 43, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 60, khoản 1 Điều 61, khoản 1 Điều 62, khoản 1 Điều 63, khoản 1 Điều 64 của Luật này và các chức vụ trong Tòa án nhân dân tối cao, trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức của Chủ tịch nước.

    9. Quyết định luân chuyển, điều động, biệt phái Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 78, khoản 2 Điều 79 và khoản 2 Điều 80 của Luật này, trừ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    10. Trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án quân sự khu vực; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao và thành lập các Tòa chuyên trách khác của Tòa án nhân dân khi xét thấy cần thiết.

    Trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao.

    11. Quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 và khoản 1 Điều 45; quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 24, khoản 2 Điều 34, khoản 2 Điều 41, Điều 46, khoản 4 Điều 51, khoản 3 Điều 55 và khoản 3 Điều 58 của Luật này.

    12. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 6 Điều 66, khoản 3 và khoản 4 Điều 70, khoản 7 Điều 75, khoản 4 Điều 88, khoản 3 Điều 92 và khoản 3 Điều 93 của Luật này.

    13. Quyết định phân bổ biên chế, số lượng Thẩm phán, ngân sách chi cho hoạt động của các Tòa án nhân dân; quy định biên chế của các Tòa án quân sự sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    14. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện biên chế, quản lý cán bộ, quản lý và sử dụng ngân sách, cơ sở vật chất của Tòa án nhân dân.

    15. Tổ chức công tác đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án nhân dân.

    16. Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị của đại biểu Quốc hội.

    17. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật tố tụng; giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.

    Không có nhiệm vụ xét xử nên không cần là thẩm phán. Khi giám đốc thẩm chỉ là phiên họp, không phải là phiên tòa.

    Chánh án ở tòa cấp dưới cũng không bắt buộc là thẩm phán, nhưng thường thì họ là thẩm phán. Do không bắt buộc nên khi hết nhiệm kỳ là thẩm phán thì không được xét xử, nhưng vẫn giải quyết công việc của chánh án như bình thường dù không là thẩm phán (chưa bổ nhiệm lại).

     

     

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 14/07/2015 01:18:03 CH
     
    Báo quản trị |