Chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019

Chủ đề   RSS   
  • #556671 31/08/2020

    Chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019

    Theo quy định tại BLLĐ 2019, các trường hợp chấm dứt HĐLĐ bao gồm:
     
    Khi hết hạn HĐLĐ  thì đương nhiên chấm dứt HĐLĐ, trừ trường hợp,  nếu người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, còn gọi là công đoàn , đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn HĐLĐ thì 2 bên phải gia hạn hợp đồng đã giao kết đến hết nhiệm kỳ của người lao động.
     
    Hợp đồng lao động theo công việc mà phía người lao động đã hoàn thành 2 bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ
     
    Không đạt thỏa thuận trong thử việc hoặc 1 trong 2 bên chấm dứt HĐLĐ
     
    Chấm dứt HĐLĐ từ phía người lao động:
     
    -  Người lao động bị án phạt tù nhưng không được hưởng án treo, hoặc không được trả tự do; tử hình hoặc cấm làm công việc ghi trong hợp đồng theo bản án,quyết định của Toàn án đã có hiệu lực.
     
    - Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan có thẩm quyền
     
     - Người lao động chết, bị Toàn án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tịch hoặc đã chết
     
    - Người lao động bị sa thải
     
    - Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng
     
    - Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã hết hiệu lực giấy phép lao động.
     
    -Chấm dứt HĐLĐ từ phía người sử dụng lao động:
                                                                               
    - Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ
     
     - Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc, trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế, chia tách sáp nhập bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình DN, chuyển nhượng…….theo quy định pháp luật.
     
     - Người sử dụng lao động là cá nhân chết, Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
     
     - Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
     
    Căn cứ Điều 34 BLLĐ 2019
    Cập nhật bởi Phamduypth ngày 31/08/2020 04:33:40 CH
     
    2141 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Phamduypth vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (31/08/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #556722   31/08/2020

    huynhthu95
    huynhthu95
    Top 50
    Female
    Lớp 8

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/06/2017
    Tổng số bài viết (1103)
    Số điểm: 11374
    Cảm ơn: 61
    Được cảm ơn 159 lần


    Quy định rất rõ ràng nhưng thực tế áp dụng thì không mấy doanh nghiệp làm đúng. Người lao động vẫn là người yếu thế, công ty có đủ lý do để chèn ép người lao động như giữ sổ bảo hiểm, giữ lương ... mà người lao động lại không hiểu rõ quyền lợi của mình, một phần lại ngại chuyện tranh chấp.

     
    Báo quản trị |  
  • #556745   31/08/2020

    linhtrang123456
    linhtrang123456
    Top 50
    Lớp 6

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:02/12/2017
    Tổng số bài viết (1177)
    Số điểm: 7700
    Cảm ơn: 11
    Được cảm ơn 161 lần


    Quy định trước đây thì đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn muốn đơn phương phải đảm bảo cả lý do và thời hạn báo trước. Quy định mới tại Bộ luật Lao động 2019 thì đối với các loại hợp đồng lao động thì người lao động thì có thể nghỉ không cần lý do chỉ cần đảm bảo quy định về thời hạn báo trước. Với quy định này thì quyền lợi của người lao động được đảm bảo hơn.

     
    Báo quản trị |  
  • #557094   01/09/2020

    Để bổ sung chi tiết cho nội dung đơn phương chấm dứt HĐLĐ phía người lao động theo quy định tại Bộ Luật Lao động 2019 như sau:

    Khi nào thì được đơn phương chấm dứt hợp đồng, phải báo trước

    - Khi không muốn làm việc, không cần báo lý do nghỉ việc, chỉ cần đảm bảo đủ thời gian:

    Báo trước ít nhất 45 ngày, nếu giao kết HĐLĐ không xác định thời hạn

    Báo trước ít nhất 30 ngày đối với HĐ có thời hạn từ 1-3 năm

    Báo ít nhất 3 ngày làm việc nếu giao kết HĐ thời hạn dưới 12 tháng

    Khi nào chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước

    - Khi bố trí không đúng công việc, địa điểm làm việc, môi trường làm việc ( trừ trường hợp khi phía sử dụng lao động gặp khó khan đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện nước, nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng. Thời gian không qúa 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm.Nếu làm quá thời gian nói trên thì phải có sự thỏa thuận 2 bên, và sự đồng ý bằng văn bản của người lao động) . Nếu không thỏa thuận được, người lao động có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ ngay.

    - Không  trả đủ lương, trả lương không đúng thời hạn.( Trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người SDLĐ đã tìm cách  khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn thì được trả chậm không quá 30 ngày; Nếu trả chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm khoản tiền ít nhất  lãi , dựa trên số tiền trả chậm nhân với lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng ở ngân hàng mà người SDLĐ  mở tài khoản trả lương cho nhân viên) .

    - Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; cưỡng bức lao động;

    - Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc

    - Lao động nữ mang thai  phải nghỉ việc có giấy xác nhận cơ quan khám chữa bệnh có thẩm quyền  về tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi

    - Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực về . về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

    Cập nhật bởi Phamduypth ngày 01/09/2020 03:31:01 CH
     
    Báo quản trị |