Bồi thường thiệt hại khi tai nạn giao thông xảy ra

Chủ đề   RSS   
  • #511627 04/01/2019

    nguyenducphong_123456
    Top 500
    Male
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:05/11/2018
    Tổng số bài viết (154)
    Số điểm: 3561
    Cảm ơn: 3
    Được cảm ơn 113 lần


    Bồi thường thiệt hại khi tai nạn giao thông xảy ra

    >>> Phân biệt bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và ngoài hợp đồng

    Liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông, Bộ luật Dân sự 2015 của Quốc hội có quy định như sau: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    1. Người chịu trách nhiệm bồi thường

    Bộ luật Dân sự 2015, có quy định tại Điều 601, về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

    + Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

    Trong đó, tại Khoản 18, Điều 3, Luật Giao thông Đường bộ 2008, có định nghĩa về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

    Như vậy khi tai nạn giao thông xảy ra thì việc bồi thường sẽ được căn cứ theo quy định nêu trên.

    + Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    + Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

    * Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

    * Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    + Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

    Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

    2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

    + Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    + Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

    + Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

    + Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

    + Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

    3. Các thiệt hại được bồi thường

    Bao gồm:

    + Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

    + Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

    + Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

    3.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

    + Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

    + Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

    + Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

    + Thiệt hại khác do luật quy định.

    Bộ luật Dân sự không quy định một mức bồi thường cụ thể vì mỗi vụ tai nạn giao thông thì tài sản có một giá trị khác nhau, căn cứ vào thời điểm xảy ra, giá trị tài sản và yếu tố lỗi mà xác định giá trị bồi thường

    3.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

    + Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

    + Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

    + Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    + Thiệt hại khác do luật quy định.

    Bên cạnh đó người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thêm một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.

    Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Với mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng và đến 01/07/2019 thì mức này sẽ lên con số là 1.490.000 đồng. Tức hiện nay tối đa là 69.500.000 đồng (từ 01/07/2019 là không quá 74.500.000 đồng)

    3.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

    + Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo nội dung bên trên

    + Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

    + Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

    + Thiệt hại khác do luật quy định.

    Ngoài các khoản nêu trên người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này.

    Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Mức bồi thường hiện này không vượt quá 139.000.000 đồng (và không vượt quá 149.000.000 đồng kể từ 01/07/2019).

     
    1969 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận