Bồi thường , hỗ trợ và tái định cư

Chủ đề   RSS   
  • #367689 14/01/2015

    phamnghia79

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:09/09/2009
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 25
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Bồi thường , hỗ trợ và tái định cư

     

             Nhờ anh, chị  tư vấn giúp 2 vấn đê:

                               1. Hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất;

    2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm.

    Đơn vị tôi là một doanh nghiệp Nhà nước, ngành nghề xây dựng. Chúng tôi là chủ đầu tư ( Nguồn vốn trái phiếu chính phủ) đang làm tuyến đường tại tỉnh Gia Lai và thuê địa phương làm công tác đền bù giải phóng mặt bằng. Đầu năm tháng 11/2013 tổ chức GPMB địa phương có xin cấp kinh phí để chi trả cho hộ gia đình cá nhân. Nhưng đơn vị tôi không  cấp kink phí vì lý do sau:

            UBND huyện KBang. tỉnh Gia Lai ra quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề và đào tạo việc làm cho các hộ gia đình cá nhân bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp dưới 30% (theo điểm a, khoản 1 điều 11 và khoản 2 điều 13 Quyết định số 05/2011/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 của UBND tỉnh GIa Lai) chưa phù hợp với khoản 1 điều 20 và khoản 3 điều 22 Nghị đinh 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ.

           Xin hỏi đơn vị tôi không cấp kinh phí như vậy có đúng không? UBND huyện Kbang ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường có phù hợp với  khoản 1 điều 20 và khoản 3 điều 22, Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ ?

            Xin trân trọng cảm ơn!

     

     
    4117 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #449005   07/03/2017

    Chào bạn!

    Căn cứ vào thông tin sơ bộ mà bạn cung cấp tôi xin góp ý kiến như sau:

    -         Trước tiên chúng ta xem xét hiệu lực pháp lý của các văn bản pháp luật:

    Theo Điều 2, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008:

     “Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

    1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

    2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

    4. Nghị định của Chính phủ.

    5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

    7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

    9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

    10. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.

    11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

    12. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.”

    Vậy chúng ta có thể thấy Nghị định do Chính phủ ban hành (cụ thể là Nghị định 69/2009/NĐ-CP) có hiệu lực pháp lý cao hơn Quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành (Cụ thể là Quyết định 05/2011/QĐ-UBND).

    Trong trường hợp Nghị định và quyết định có những nội dung khác nhau về cùng một vấn đề chúng ta áp dụng khoản 2 Điều 83 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật Số: 17/2008/QH12 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2009.

    Điều 83. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.” 

    Vậy ở đây nếu Nghị định 69/2009/NĐ-CP và Quyết định 05/2011/QĐ-UBND có quy định khác nhau thì chúng ta ưu tiên áp dụng Nghị định 69/2009/NĐ-CP.

    -         Xem xét quy định trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Quyết định 05/2011/QĐ-UBND bồi thường hỗ trợ tái định cư Nhà nước thu hồi đất:

    + Thứ nhất, theo Nghị định 69/2009/NĐ-CP mức thu hồi đất để được bồi thường, hỗ trợ bắt đầu từ 30%.

    Điều 20. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất

    1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 21 Nghị định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định sau đây:

    a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 06 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng;

    Trong khi đó, mức thu hồi đất mà được nhận bồi thường, quy định tại Điều 11 quyết định 05/2011/QĐ- UBND ít nhất là 10%:

    “Điều 11. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất (Quy định cụ thể: Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; khoản 4, 5 Điều 10; khoản 1, 2, 3 Điều 11 Quyết định số 34/2010/QĐ-TTg)

    1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được UBND xã (phường, thị trấn) xác nhận khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả thu hồi đất tại Điều 12 quy định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống như sau:

    a) Thu hồi từ 10% đến dưới 30% tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trên địa bàn cấp huyện thì được hỗ trợ 03 tháng;”

    Như vậy ở đây việc Quyết định 05/2011/QĐ-UBND quy định mức thu hồi đất để được nhận bồi thường hỗ trợ là 10% là trái với Nghị định 69/2009/NĐ-CP (mức thu hồi đất để được nhận hỗ trợ là 30%). Trường hợp này áp dụng Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 (như đã trích ở trên) chúng ta ưu tiên áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đó là Nghị định 69/2009/NĐ-CP.

    + Thứ hai, quy định về Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm được quy định tại Điều 22 Nghị định 69/2009/NĐ-CP không hề quy định mức hỗ trợ: “được nhận số tiền tương ứng với một khóa học nghề bằng 1.500.000đồng/01 lao động”.

    Điều 22. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

    3. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động.

    Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề cho các đối tượng chuyển đổi nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo nghề, tạo việc làm cho các đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp.

    Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất thuộc đối tượng chuyển đổi nghề.

    Mặc dù vậy việc quy định hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp có thêm trong Quyết định 05/2011/QĐ-UBND của tỉnh Gia Lai không hề trái với Nghị định 69/2009/NĐ-CP:

    Điều 13. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo việc làm (Quy định cụ thể: Điều 22, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)

    2. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này ở trong độ tuổi lao động mà có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học, theo quy định tại Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, hoặc được nhận số tiền tương ứng với một khóa học nghề bằng 1.500.000đồng/01 lao động. Kinh phí đào tạo được tính trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Vì tại khoản 3 Điều 22 Nghị định 69/2009/NĐ-CP vì trong Nghị định có quy định rõ: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo nghề, tạo việc làm cho các đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp. Vậy UBND tỉnh Gia Lai có quyền ban hành phương án hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp một cách chi tiết, cụ thể hơn (ở đây là quy định cụ thể mức hỗ trợ 1.500.000 đồng/ 01 lao động), điều này là được phép và quy định được bổ sung này không hề trái với Nghị định 69/2009/NĐ-CP.

    ð Căn cứ vào những dẫn chứng trên, ở đây đơn vị bạn có thể kiến nghị lên Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Nghị định của Chính phủ là mức thu hồi đất mà được nhận bồi thường, quy định tại Điều 11 quyết định 05/2011/QĐ- UBND ít nhất là 10% trái với Nghị đinh 69/2009/NĐ-CP quy định là 30%, từ đó kiến nghị lại để Ủy ban nhân dân huyện KBan xem xét lại đề  án đền bù và hỗ trợ khi thu hồi đất. Còn việc quyết định 05/2011/QĐ-UBND quy định bổ sung mức hỗ trợ 500.000 đồng/ 01 lao động không hề trái với Nghị định 69/2009/NĐ-CP nên đơn vị bạn vẫn phải áp dụng khi hỗ trợ đền bù, thu hồi đất.

    Hiện tại, do thông tin bạn cung cấp còn hạn chế nên tôi chỉ có thể trả lời sơ bộ cho bạn như vậy. Để có câu trả lời chính xác hơn bạn nên liên hệ trực tiếp với luật sư để cung cấp những thông tin cụ thể, cũng như trao đổi để có được câu trả lời chính xác nhất.

    Chuyên viên tư vấn: Phùng Thị Thùy Trang

    BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ | CÔNG TY LUẬT VIỆT KIM

    M: (+84-4) 32.123.124; (+84-4) 32.899.888 - E: cle.vietkimlaw@gmail.com; luatvietkim@gmail.com - W: www.vietkimlaw.com

    Ad: Trụ sở chính - Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN | VPGD - Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

     
    Báo quản trị |