Bình luận về bản án, nêu bản chất mối quan hệ và quan điểm cá nhân của mình?

Chủ đề   RSS   
  • #559759 30/09/2020

    Nganguyen0809

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:30/09/2020
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Bình luận về bản án, nêu bản chất mối quan hệ và quan điểm cá nhân của mình?

    E chọn bản án này, mong anh chị giúp e với ạ

    TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

    BẢN ÁN 12/2018/DS-ST NGÀY 02/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ MUA BÁN TÀI SẢN 

    Ngày 02 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2017/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

    1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu M, sinh năm 1983 (Có mặt).

    Địa chỉ :Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang .

    2. Bị đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1971 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

    NỘI DUNG VỤ ÁN

    Theo đơn khởi kiện đề ngày 26-10-2017 của nguyên đơn anh Nguyễn Hữu M trình bày yêu cầu như sau:

    Nguyên trước đây vào tháng 11 năm 2016 chị Trần Thị P có đến cửa hàng của anh M thỏa thuận mua nợ thức ăn cho gia súc, tính đến ngày 13/10/2017 chị P còn nợ anh M số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng), anh M đã liên hệ nhiều lần yêu cầu chị P trả nhưng chị P chỉ hứa hẹn rồi không trả nợ. Sau đó lập biên nhận nợ ngày 13/10/2017 chị P hứa đến 24/10/2017 sẽ trả, nhưng hết thời hạn trên chị P chưa thanh toán số tiền trên cho anh M.

    Nay anh M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang buộc chị Trần Thị P trả số tiền còn nợ là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

    Bị đơn chị Trần Thị P trình bày: Từ tháng 11 năm 2016 chị P có liên hệ anh Nguyễn Hữu M mua thức ăn gia súc (cho vịt ăn) và còn thiếu lại 11.000.000đ (mười một triệu đồng), do vịt chết gây thiệt hại, gia đình khó khăn nên bây giờ chị P xin trả dần mỗi tháng 300.000đ/tháng, bắt đầu trả từ ngày 01/01/2018 trả cho đến khi hết 11.000.000đ là dứt nợ.

    Tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp gồm: 01 bản sao Biên nhận nợ ngày 13/10/2017, 01 bản sao chứng minh nhân dân, đơn xác nhận tình trạng nơi cư trú của chị P.

    Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay: Các đương sự giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trên.

    Phần các đương sự thống nhất nhau:

    Về số nợ và người có trách nhiệm trả nợ: Chị Trần Thị P và anh Nguyễn Hữu M thống nhất xác định là chị P còn nợ và có trách nhiệm trả nợ cho anh M số tiền là 11.000.000đ (mười một triệu đồng).

    Phần không thỏa thuận được:

    Về thời hạn trả: Anh M yêu cầu chị P trả một lần số tiền nợ 11.000.000đ (mười một triệu đồng). Còn chị P thì xin trả dần từng đợt mỗi tháng 300.000đ/tháng.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

    Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:

    [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Hữu M khởi kiện chị Trần Thị P, chị P có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

    [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc mua bán thức ăn gia súc, nên quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017 nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015áp dụng các quy định về hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 428, Điều 438 của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết trong vụ án này.

    [3] Về thủ tục tố tụng: Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Chị P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị P.

    [4] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ “Biên nhận nợ” ngày 13/10/2017 do nguyên đơn cung cấp được bị đơn thừa nhận tại bản tự khai ngày 18/12/2017, theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 157 và Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.

    [5] Về nội dung vụ án:

    Xét yêu cầu, ý kiến của các đương sự cho thấy giữa anh M và chị P có giao dịch mua bán thức ăn gia súc, hai bên đã thống nhất xác nhận về số tiền mua thức ăn gia súc tổng cộng là 11.000.000 đồng mà chị P còn nợ anh M là trên cơ sở tự nguyện, có căn cứ, không trái đạo đức xã hội và quy định pháp luật nên HĐXX ghi nhận.

    Về thời hạn trả nợ: Anh M yêu cầu thanh toán nợ một lần và không yêu cầu lãi suất, chị P xin được trả dần từng đợt. Do yêu cầu của chị P không được anh M đồng ý, nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận.

    Do các bên không thỏa thuận được thời hạn trả nợ, các quy định của pháp luật có liên quan cũng không cho phép Tòa án ấn định thời hạn trả nợ cho các bên cho nên khi nào Bản án có hiệu lực pháp luật thì các bên căn cứ Bản án để thực hiện quyền yêu cầu thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.

    Từ các nhận định nêu trên, HĐXX thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hữu M yêu cầu buộc chị Trần Thị P có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hữu M số tiền là 11.000.000 đồng.

    [6] Về án phí vụ kiện:

    Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân  sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị P có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm cụ thể như sau: 11.000.000đ x 5% = 550.000đ

    (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).

    Hoàn trả cho anh Nguyễn Hữu M số tiền tạm ứng án phí là 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007134 ngày 15/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH

    Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 688, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 428 và Điều 438 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hữu M yêu cầu chị Trần Thị P trả số tiền nợ còn lại là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

    Buộc bị đơn chị Trần Thị P trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Hữu M số tiền là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    2. Về án phí:

    Chị Trần Thị P có nghĩa vụ nộp án phí là 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng), thi hành tại Chi cục hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

    Hoàn trả cho anh Nguyễn Hữu M số tiền tạm ứng án phí là 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006941 ngày 21/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

    4. Quyền kháng cáo:

    Án xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

    "Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

     
    1126 | Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn Nganguyen0809 vì bài viết hữu ích
    ThanhLongLS (01/10/2020)

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận