DanLuat 2015

Bà tôi bị chiếm đoạt đất!!!

Chủ đề   RSS   
  • #508181 22/11/2018

    viethung0306

    Male
    Sơ sinh

    Lạng Sơn, Việt Nam
    Tham gia:22/11/2018
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 20
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Bà tôi bị chiếm đoạt đất!!!

    Ông bà nội tôi có 1 mảnh đất bà tôi đứng ra giao dịch năm 1997. Ông tôi mất năm 1999. Do sau đó nhà nước mở đường, đến bù... nên chưa kịp làm sổ đỏ. 2008 lúc chú tôi đi xa thì thím tôi (ở với nhau nhưng đăng ký kết hôn, bà tôi không biết cứ tưởng có đăng ký) lừa nói với bà tôi rằng chú tôi muốn đứng tên mảnh đất đấy. Nhưng ngại nói ra nên thím tôi nói hộ. Rồi cứ nài nỉ tôi sang nhượng miếng đất. Bà tôi già cả cứ tưởng thật và bị dụ dỗ nên viết 1 tờ giấy viết tay là đồng ý cho miếng đất đấy cho chú tôi lê anh tú và con dâu trần thị huệ và cháu nội lê minh đức (con của chú thím). Bà tôi viết xong định bụng là sẽ hỏi ý kiến các con trong gia đình ký vào rồi đi ra uỷ ban xin xác nhận. Bà lấy chữ ký của con cả xong dc ký vào. Nhưng 2 người con khác không đồng ý nên không ký, sau đó bà tôi cất tờ giấy san nhượng đấy cùng 1 số giấy khác vào ngăn kéo. Chú tôi lúc đó ở xa không hay biết. Rồi thím tôi tự ý lấy giấy tờ đó Giả mạo chữ ký 2 người con vào giấy của bà ( ko có chữ ký của chú tôi ). Rồi giả mạo đơn xin cấp sổ đỏ chú tôi ký. Và ko hiểu sao ra sổ bình thường đứng tên chú và thím. A thím tôi cất sổ đi không ai hay biết. Đến 2014 thím tôi ngoại tình rồi bỏ đi. Chú tôi phát hiện vụ việc nhưng hiểu biết kém, nghĩ nhà mình ở ko ai lấy dc. Rồi đến 2016 thím tôi kiện ra toà yêu cầu dc hưởng quyền sd đất. Trả cho chú tôi 500tr. Sau đó thím tôi đề nghị lại chia 3 phần. Thím tôi cho con ( bỏ đi theo thím tôi) phần của thím. Đề nghị toà cho con thím và chú miếng đất và trà tiền 1/3 cho chú. Bà tôi đề nghị huy sổ đỏ trả lại đất cho bà. Tất cả các con đều đồng ý kể cả chú tôi. Các con khác yêu cầu trả lại đất cho bà vì đất đấy là của ông nội và bà chứ ko phải của riêng bà. Bà ko có quyền tự ý cho, tặng mà phải chia đều cho các con theo quy định thừa kế. Toà sơ thẩm xử hủy sổ đỏ vì trái quy định ko công chứng, chữ ký giả mạo... nhưng ko trả lại đất cho bà tôi vì quan điểm của toà là bà tôi đã đồng ý cho rồi. Trc toà bà tôi cũng nói là bà tôi không muốn cho vì bị thím tôi lừa nói chú tôi muốn dc sang tên. Nhưng trong bản án lại ghi bà tôi nói trc toà là bà tôi muốn cho. Toà nói 1/2 đất của ông tôi chia ra cho các con thì quá nhỏ chỉ dc 3.2m2. Nên cho 1 người quản lý và trả tiền. Nhưng trong quyết định lại không hề nhắc tới. Toà quyết định con chú tôi (theo mẹ) dc quyền quản lý đất. Trả lại tiền cho chú tôi 1/3 giá trị. Bà tôi ko được gì. Các người đồng thừa kế khác ko dc gì. Vậy tôi xin hỏi toà xử vậy đúng hay sai. Bà tôi đang kháng cáo lên phúc thẩm. Vậy tiếp theo chúng tôi nên làm gì? Những người đồng thừa kế bị mạo danh chữ ký ko dc chia tài sản có được kiện thím tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay ko?
     
    427 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #508242   22/11/2018

    toanvv
    toanvv
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (1253)
    Số điểm: 7022
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 343 lần
    Lawyer

    Với câu hỏi trên chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

    Về giá trị pháp lý của hợp đồng tặng cho và chuyển nhượng nhà đất: Vì thím bạn đã giả mạo chữ ký để thực hiện giao dịch tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không công chứng, chứng thực nên đương nhiên các hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng này không có giá trị pháp lý vì nó không phải là hợp đồng theo đúng bản chất của nó mà chỉ là hợp đồng giả mạo.

    Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên hợp đồng giả mạo này thì việc cấp giấy chứng nhận là trái quy định của pháp luật, bà bạn có thể khiếu nại đến chính cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó và yêu cầu thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận này. 

    Về hành vi giả mạo chữ ký của thím bạn: Nếu việc giả mạo chữ ký là thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

    “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Tái phạm nguy hiểm;

    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

    c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

    Như vậy, những người đồng thừa kế có thể làm đơn tối cáo gửi lên cơ quan công an cấp xã về hành vi chiếm đoạt tài sản này để được giải quyết quyền, lợi ích của mình. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

    Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

    Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

     
    Báo quản trị |  

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

0 Thành viên đang online
-