DanLuat 2015

Áp dụng Luật để thu hồi giấy CNQSD đất

Chủ đề   RSS   
  • #368764 23/01/2015

    Áp dụng Luật để thu hồi giấy CNQSD đất

    Xin chào Luật Sư, em xin hỏi 01 trường hợp đang giải quyết bị rối:

    Ông Nguyễn Văn A đang sử dụng 1 lô đất ở Thành phố ĐH với. diện tích 600m2, Nguồn gốc thửa đất do khai hoang từ những năm 1960 nhưng đến năm 2004 mới làm thủ tục cấp GCNQSD đất.

    Năm 2000, ông A chuyển nhượng  180m2 đất cho ông B, trong hợp đồng mua bán, chuyển nhượng có UBND  phường C xác nhận, nội dung mua bán là 180m2 đất ở ( trong khi ông A chưa có Giấy CNQSD đất và hạn mức đất ở được quy định tối đã ở đây là 150m2, ông A đã xây dựng nhà ở với diện tích 150m2). Việc mua bán tại thời điểm này về trình tự, thủ tục có thể là đúng theo quy định của Tỉnh và Nghị định số 17/1999/NĐ-CP.

    Năm 2002 ông B xây dựng nhà ở với diện tích 150m2.

    Năm 2004 ông A làm thủ tục cấp GCNQSD đất bao gồm cả thửa đất đã chuyển nhượng cho ông B, được UBND phường xác nhận và UBND thành phố cấp GCNQSD đất cho ông A.

    Sau khi được cấp giấy ong A vẫn khong tác bìa cho ông B vì ong B lấy lý do đòi 180m2 đất ở theo Hợp đồng mua bán.

    Năm 2008 ông A lại tiếp tục chuyển mục đích 100m2 đất vườn qua đất ở rồi được cấp lại giấy CNQS dụng đất, sau đó lại chuyển nhượng 01 thửa đất cho ông N với diện tích 100m2 đất ở, tất cả hồ sơ đều được xác nhận và được cấp giấy. Sau khi tác bìa thì bìa của của ông A được cấp vẫn bao gồm thủa đất và nhà ở đã chuyển nhượng cho ong B.

    Vậy. Xin hỏi Luật sư, việc cấp giấy chứng nhận quyền SD đất cho ông A là sai ở điểm nào của Luật đất đai 2003, căn cứ nào để thu hồi giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông A, nên thu hồi bìa cấp năm nào của ông A?.

    Có phải điều khoản 180 đất ở trong Hợp đòng mua bán sẽ được Tòa án xử là điều khoản vô hiệu theo Luật Dân sự không?

    Xin trân trọng cảm ơn Luật Sư và mong được hồi đáp sớm.

     
    2844 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #368873   24/01/2015

    LuatSuDuongVanMai
    LuatSuDuongVanMai
    Top 10
    Male
    Luật sư quốc tế

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:14/10/2010
    Tổng số bài viết (4930)
    Số điểm: 29022
    Cảm ơn: 19
    Được cảm ơn 1781 lần
    Lawyer

    Chào bạn!

    Trường hợp này đang tiềm ẩn một tranh chấp về quyền sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A bao gồm cả phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông B là không đúng quy định pháp luật, cấp giấy chứng nhận trong trường hợp này với toàn bộ thửa đất cho ông A là chưa chính xác chưa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B.

    Về nguyên tắc khi phát hiện sự việc trên ông B đã phải thực hiện việc khiếu nại để cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất điều chỉnh việc cấp giấy hoặc ngừng việc cấp giấy chứng nhận. Thủ tục này phải thực hiện theo quy định của luật khiếu nại tố cáo năm 1998 và khiếu nại về đất đai theo luật đất đai năm 1993.

    Trường hợp thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A Luật đất đai năm 2003 đã có hiệu lực và Nghị định 181/2004/NĐ- CP đã có hiệu lực thì có thể căn cứ điều 42 Nghị định này.

    Điều 42. Đính chính, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    1. Khi phát hiện nội dung ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp.

    2. Việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp được thực hiện theo quy định sau:

    a) Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    b) Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp thu hồi đất theo quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai;

    c) Trường hợp không thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất;

    d) Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

    3. Trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân đã được thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

    Trường hợp này năm 2004 đã được cấp giấy chứng nhận sau đó năm 2008 có đăng ký biến động tiếp bằng việc chuyển nhượng một phần cho ông N vì vậy phải thu hồi các giấy chứng nhận đang tồn tại liên quan tới thửa đất để thực hiện việc cấp lại cho đúng người sử dụng.

    Liên quan tới sự việc này có có hợp đồng chuyển nhượng của ông B và ông A cần phải xác định giá trị pháp lý có hay không có hiệu lực của hợp đồng từ đó xem xét quyền lợi của ông B với các thông tin bạn cung cấp thì đối với trường hợp này việc chuyển nhượng coi như đã hoàn tất. Người nhận chuyển nhượng cũng đã sử dụng thửa đất từ khi nhận đồng thời thực hiện các nghia vụ tài chính.

    Đây là trường hợp hết sức phức tạp liên quan tới nhiều người, nếu các bên cùng kiến nghị để nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để cấp lại thì gửi đơn đề nghị đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận xem xét thu hồi.

    Trường hợp không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết, bằng bản án của tòa án thì cơ quan chức năng sẽ thực hiện việc điều chỉnh thông tin trên giấy chứng nhận cũng như thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.

    Sự việc này phức tạp luật sư chưa có hồ sơ vụ việc nên với các thông tin bạn cung cấp bước đầu Luật sư có thể tư vấn cho bạn những nội dung cơ bản như trên.

    Trường hợp còn vướng mắc bạn có thể tiếp tục hỏi hoặc nghe tư vấn trực tiếp từ Luật sư tại công ty chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006281 nhánh số 4.

    Chúc bạn cuối tuần vui vẻ!

    Luật sư: DƯƠNG VĂN MAI - CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG - TƯ VẤN LUẬT GỌI 1900 6280

    Địa chỉ: Tổ dân phố Quang Minh, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

    Email: Lsduongmai@gmail.com - http://www.luatbachduong.vn

    Lĩnh vực hoạt động:

    1. Tư vấn pháp luật http://luatbachduong.vn/luat-su-tu-van

    2. Luật sư giải quyết các vụ án hình sự, tranh chấp: dân sự, kinh tế, thương mại, đất đai, thừa kế di chúc,Ly hôn... http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-tham-gia-to-tung

    3. Luật sư đại diện ngoài tố tụng http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-dai-dien-ngoai-to-tung

    4. Dịch vụ pháp lý khác - http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/cac-dich-vu-phap-ly-khac

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn LuatSuDuongVanMai vì bài viết hữu ích
    ldngoan (26/01/2015)

Tư vấn của Luật sư có tính chất tham khảo, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Luật sư theo thông tin sau:

Luật sư, Thạc sỹ Luật học NGUYỄN NHẬT TUẤN - Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh.

ĐT liên hệ: 0913.623.699 - Email: nguyennhattuan71@yahoo.com

Website: www.luatsuphuvinh.com

0 Thành viên đang online
-