DanLuat 2015

Án lệ có nên áp dụng vào hệ thống pháp luật VN?

Chủ đề   RSS   
  • #63037 04/10/2010

    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1047 lần


    Án lệ có nên áp dụng vào hệ thống pháp luật VN?

    Mấy hôm nay thấy báo chí đang tranh luận vấn đề trên. Thế thì diễn đàn Dân Luật chúng ta lẽ nào lại đứng ngoài.

    Theo mình thì mình hoàn toàn ủng hộ quan điểm án lệ vì lẽ:


    1 - Án thì dễ nhớ và dễ hiểu hơn là điều luật nên dễ đi vào dân chúng hơn. Ví dụ chỉ cần nhớ giết người, sau đó hủy hoại xác nhằm mục đích phi tang sẽ bị xử ở mức nặng nhất (tử hình), ví dụ vụ Nguyễn Đức Nghĩa. Dân chúng chẳng cần biết điều luật nào qui định và qui định như thế nào.


    2 - Mang tính chất công khai và minh bạch nên dễ dẫn đến việc áp dụng luật thống nhất. Điều này rất quan trọng ở VN, vì việc mức án cho các vụ án tương tự hiện nay rất khác nhau, đôi khi chỏi nhau chẳng biết đường nào mà lần. Mặc dù hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến pháp lý nhưng không làm bên tư pháp thì chịu, chẳng biết kiếm bản án ở đâu để tham khảo tư vấn cho doanh nghiệp.


    3- Là một biện pháp hữu hiệu để phòng chống tham nhũng trong ngành tư pháp. Đối với các vụ án tương tự nhau hoặc giống nhau thì thẩm phán không thể tham nhũng để xử ưu đãi cho một bên được. 


    Quan điểm của mình là vậy còn các bạn thì sao.
    Cập nhật bởi admin ngày 05/10/2010 10:01:25 AM Hiển thị trang chủ

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    22769 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #63112   04/10/2010

    chaulevan
    chaulevan
    Top 75
    Lớp 8

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:26/02/2009
    Tổng số bài viết (759)
    Số điểm: 10998
    Cảm ơn: 339
    Được cảm ơn 587 lần


    @unjustice,

    Mình cũng hoàn toàn ủng hộ với quan điểm sử dụng án lệ, nhưng không phải vì các lý do như bạn nói.

    1- Thực ra án lệ không dễ nhớ và dễ hiểu hơn là điều luật, thậm chí theo mình còn khó nhớ, khó thuộc hơn.

     Để áp dụng án lệ đòi hỏi các vụ án phải tương tự, nếu không tương tự thì đòi hỏi đội ngũ thẩm phán và luật sư phải phân tích chán mới có thể đưa ra được cách giải quyết xác đáng.

    Mà điều này thì người dân potay, tức là họ không tự tìm hiểu và áp dụng được trong khi luật thành văn lại khắc phục được nhược điểm này.

    Với lại, vụ Nguyễn Đức Nghĩa chỉ là một vụ nổi cộm, còn bao nhiêu vụ nổi cộm khác làm sao mà người dân biết hết, nhớ hết được.

    2- Án lệ cũng không thể công khai và minh bạch hơn luât thành văn, vì án lệ gồm các quy định tồn tại trong các bản án quy định của tòa án.

    Mà việc công khai các bản án, quyết định thì không thể dễ hơn là công khai luật thành văn. Thậm chí khó hơn. Khi thừa nhận án lệ tức là phải thừa nhận quy định pháp luật do tòa án ở các địa phương trong cả nước áp dụng. Điều này dẫn đến việc khó công khai, khó minh bạch.

    Nhưng việc áp dụng án lệ có một vài ưu điểm:

    - Thứ nhất, nó khắc phục được những khoảng trống của luật pháp, khắc phục được tính đa dạng trong thực thế đời sống của các quan hệ xã hội.

    - Đồng ý với bạn về tác dụng hạn chế tham nhũng

    CV

     
    Báo quản trị |  
  • #63146   05/10/2010

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1047 lần


    @ chaulevan

    1 - Bạn có nhận thấy rằng trên thực tế khi hỏi một người dân bình thường "nếu giết người với tình tiết như vậy, như vậy thì bị xử bao nhiêu năm" chắc chắn điều đầu tiên người dân nghĩ đến là các vụ án tương tự đã xảy ra trước đó mà họ biết được.

    Đây chính là ý mình nói việc người dân dễ nhớ và hiểu án lệ hơn vì nó phù hợp với tính khoái "tám" của phần đông dân chúng. Điều này nhằm bảo đảm cho việc tuyên truyền pháp luật đến công chúng được thành công (một mục tiêu quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền)


    2 - Còn việc công khai và minh bạch thì mình chỉ đề cập ở góc độ là đã là án lệ thì bắt buộc nhà nước phải thực hiện việc tuyên truyền rộng rãi các án lệ này trên các hệ thống tuyên truyền và giảng dạy pháp luật. Chứ hiện nay muốn lấy được một bản án từ tòa án đâu phải dễ.

    Ví dụ mình muốn kiếm một bản án về tranh chấp thương mại có liên quan đến chất lượng hàng hóa (biết kiếm đâu ra hở trời, chưa kể án ở nơi khác chưa chắc nơi này chịu, rừng nào cọp nấy mà). Nếu có án lệ thì ít nhất mình cũng có nguồn để tham khảo trước khi thực hiện khởi kiện đối tác. 

    Nếu án lệ này gần tương tự với tranh chấp của mình thì càng tốt có thể đưa án ra để yêu cầu đối tác chấp nhận hòa giải đền bù sớm, khỏi tốn kém chi phí kiện tụng. 



    3 - Đồng ý với bạn về việc án lệ bổ sung những lỗ hổng của pháp luật. Nhưng thực sự đây là vấn đề mình e ngại nhất bởi vì nếu chưa có luật thì án phải căn cứ vào đâu để có được án lệ đó.

    Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản thì mông lung và đôi khi mâu thuẫn nhau quá. Vì vậy việc thế nào để có được án lệ còn là vấn đề phải bàn cãi thêm nhiều.


    Thân

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
  • #63208   06/10/2010

    minh25252001
    minh25252001
    Top 500
    Male


    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:13/09/2010
    Tổng số bài viết (120)
    Số điểm: 2217
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 18 lần


    Chào các bạn,

    Theo mình nên hay không nên đều do mấy vị làm luật thôi các bạn ạ. Rõ ràng án lệ là hay chúng ta không cần bàn nữa. Nhìn vào thực tế và sự phát triển của những nước lớn chúng ta cũng có thể hiểu được.


    Tại sao tôi bảo là nên  hay không nên là do các vị làm luật?


    VÌ có không nên mà các vị ấy cho quy định là áp dụng án lệ thì cuối cùng cũng trở nên "nên" thôi bạn à. Lúc đó có không nên thì những con người như chúng ta cũng phải làm mọi cách cho nó nên thôi.


    Trân trọng!

    Luật sư Đoàn Minh Quân

    0903455478

     
    Báo quản trị |  
  • #63297   08/10/2010

    nguyenphong83
    nguyenphong83
    Top 500
    Chồi

    Gia Lai, Việt Nam
    Tham gia:07/08/2009
    Tổng số bài viết (124)
    Số điểm: 1310
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 2 lần


    Theo Tôi việc áp dụng án lệ vào hệ thống pháp luật Việt Nam là cần thiết, sẽ có tác dụng làm giảm thời gian xét xử các vụ án, giảm chi phí, hạn chế tham nhũng...ở các nước phát triển việc áp dụng án lệ đã được thực hiện từ rất lâu rồi, hiện nay chúng ta mới đang nghiên cứu. Việc áp dụng án lệ cần phải có thời gian, thời điểm phù hợp.

    Hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam chưa được hoàn thiện, chưa thống nhất, thậm trí lộn xộn, chất lượng văn bản luật còn yếu....trong khi nước ta đang là một nước đang phát triển, còn rất nhiều hạn chế về kinh tế, xã hội, dân trí...

    Để áp dụng án lệ thì cần phải hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, nâng cao dân trí... .Còn rất nhiều việc phải làm để có thể áp dụng án lệ ở Việt Nam.
     
    Báo quản trị |  
  • #63362   08/10/2010

    viid08
    viid08

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/02/2009
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 199
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Trước khi quyết định về vấn đề gì, các bạn cần hiểu rõ về nó. Xin tặng các bạn 01 bài viết về án lệ đã từng đăng trên NCLP. font chữ gốc VN times nên các bạn chịu khó convert, tôi hơi dốt về IT.

    Cơ chế án lệ đ­ược áp dụng ở tất cả các nư­ớc theo hệ pháp luật thông luật (common law) mà khởi nguồn từ n­ước Anh và sau này phát triển sang cả hệ thống pháp luật lục địa nh­ư Đức, Pháp và nhiều cơ chế xét xử quốc tế phổ biến hiện nay. Về nguyên tắc, cơ chế án lệ trong hoạt động xét xử của toà án ở các nư­ớc đ­ược vận hành theo quy tắc: Toà án cấp dưới tuân theo các phán quyết của toà án cấp trên và tuân theo phán quyết của toà án tối cao khi xét xử một vụ việc có tính chất tư­ơng tự.

    Nói cách khác, lý thuyết về án lệ dựa trên nguyên tắc là những vụ án có tình tiết tư­ơng tự cần phải đ­ược xử lý tư­ơng tự để đảm bảo tính công bằng và thống nhất trong áp dụng pháp luật. Tuy đều sử dụng án lệ, hệ thống pháp luật ở mỗi nư­ớc khác nhau đều có những đặc thù riêng. Bài viết này sẽ tìm hiểu về án lệ chủ yếu dựa trên cơ sở pháp luật của Australia nói chung.

    Hệ thống pháp luật của Australia có nguồn gốc từ nư­ớc Anh, sau đó khi lục địa này trở thành một quốc gia độc lập (tuy Nữ Hoàng n­ước Anh về danh nghĩa chính thức vẫn là Nữ hoàng của ngư­ời dân Australia), hệ thống pháp luật của quốc gia này cũng dần dần tách rời khỏi pháp luật của Anh và trở thành hệ thống pháp luật riêng. Hệ thống pháp luật của Australia bao gồm hai nguồn chủ yếu: Luật thành văn (legislation) và Luật không thành văn (case law).

    Luật thành văn là các đạo luật đ­ược Nghị viện thông qua và các văn bản pháp quy d­ưới luật (delagated legislation). Luật không thành văn là nội dung các phán quyết trong các bản án (án lệ) của toà án. Từ xa xư­a khi ch­ưa có các đạo luật thành văn, nguồn luật chủ yếu là theo những phán quyết do chính các toà án xây dựng nên khi giải quyết các các vụ án, các tranh chấp thực tiễn.

    Khi đó, trong điều kiện chư­a có pháp luật thành văn, các thẩm phán th­ường căn cứ vào tập tục, quy tắc ứng xử của từng địa ph­ương, của cộng đồng cùng kinh nghiệm trình độ bản thân để đư­a ra phán quyết. Các phán quyết đó đư­ợc sử dụng và là căn cứ để các thẩm phán sau đó dựa vào khi gặp những tình tiết thực tế t­ương tự.

    Sau này, các phán quyết đó có thể trở thành luật thành văn khi Nghị viện thông qua chính thức. Trong mối quan hệ với luật thành văn, nguyên tắc là phải áp dụng luật thành văn trước, chỉ khi không có luật thành văn điều chỉnh đối với vấn đề nào đó thì mới áp dụng án lệ.

    Nội dung của án lệ

    Để xem xét một bản án cũ có đ­ược áp dụng cho vụ án mới đang phải xử lý hay không, Tòa án phải xác định những tình tiết thực tế của vụ án cũ cùng với những căn cứ đi đến phán quyết trong bản án cũ. Có hai lọai căn cứ: Những căn cứ để đi đến phán quyết (Reason for decision- tiếng Latin: Ratio dicidendi) và những căn cứ đi kèm theo (statement on the side – tiếng Latin: obiter dictum). Những căn cứ để đi đến phán quyết có hiệu lực bắt buộc (binding) đối với những vụ án có tình tiết thực tế t­ương tự sau này trong khi những căn cứ đi kèm theo không có hiệu lực bắt buộc như­ng có thể mang ý nghĩa khuyến nghị, tham khảo (persuasive).

    Hai loại căn cứ trên có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu đó là những căn cứ có hiệu lực bắt buộc, các tòa án sau này phải tuân theo trừ khi tình tiết thực tế của vụ án sau đó hoàn toàn khác. Nếu chỉ có hiệu lực khuyến nghị, các tòa án có thể tuân theo hay không tuân theo phụ thuộc vào tính thuyết phục của những căn cứ đó.

    Những căn cứ để đi đến phán quyết là tất cả những căn cứ lý lẽ dựa vào đó tòa án đ­ưa ra phán quyết về một vụ việc. Ng­ược lại, những căn cứ bổ trợ không liên quan trực tiếp đến việc phán quyết của Toà án. Chẳng hạn, khi Tòa án phải giải quyết một vụ việc liên quan đến việc trục xuất một người do đã nhập cảnh trái phép thì Tòa án phải đư­a ra lập luận về việc trục xuất hay không trục xuất ng­ười đó. Đó là căn cứ để đi đến phán quyết. Nhưng nếu trong phán quyết còn bình luận về vị trí pháp lý của những ng­ười vi phạm thời hạn cư­ trú thì đó là căn cứ bổ trợ. Việc phân biệt hai loại căn cứ này, đặc biệt là căn cứ để đư­a ra phán quyết không phải là đơn giản vì rất nhiều tr­ường hợp các căn cứ đ­ưa ra không hoàn toàn rõ ràng, nhất là về phạm vi có hiệu lực sau này của án lệ đó. Chẳng hạn, một thẩm phán khi quyết định liệu một ngư­ời lái một chiếc xe tải xe quá nhanh trên đ­ường và gây th­ương tích cho ng­ười khác có phạm tội lái xe không an toàn gây nguy hiểm cho ng­ười khác hay không thì  căn cứ lập luận có thể đ­ược đư­a ra rất khác nhau. Thông th­ường, một thẩm phán sẽ quyết định rằng bất kỳ ngư­ời nào lái xe trên đ­ường như­ vậy và gây th­ương tích cho ngư­ời khác sẽ phạm tội. Nếu vậy, trong các vụ án sau này khi có bất kỳ ngư­ời nào lái bất kỳ chiếc xe nào đi quá nhanh và gây th­ương tích cho ngư­ời khác sẽ phạm vào tội đó. Tuy nhiên, thẩm phán cũng có thể hạn chế phạm vi áp dụng nếu nói rõ là một ng­ười chỉ phạm tội nếu chiếc xe là xe tải và đ­ược lái quá nhanh. Khi đó, những ng­ười lái xe ô tô nhỏ bình th­ường gặp vào tính huống t­ương tự sẽ không phạm tội do không bị bắt buộc áp dụng án lệ này. Nhìn chung việc mở rộng hay hạn chế phạm vi áp dụng có ý nghĩa rất quan trọng vì nó có ý nghĩa ảnh hư­ởng đến tính công bằng và thống nhất khi áp dụng pháp luật sau này.

    Nguyên tắc áp dụng án lệ

    Khi Tòa án phải xử lý một vấn đề nào đó và vấn đề đó đã đ­ược quyết định bởi một Tòa án cấp cao hơn, thẩm phán sẽ phải xác định những tình tiết thực tế liệu có giống với vụ án tr­ước đó để áp dụng trong vụ án đang xử lý không và nếu thấy t­ương tự thì phải áp dụng tuân theo. Nếu không, họ có quyền không tuân theo.

    Mặt khác, nếu thấy tình tiết của vụ án đang xử lý cho dù có khác biệt với vụ án cũ về tính tiết nh­ng vẫn có thể áp dụng đư­ợc nguyên tắc của một án lệ cũ thì tòa án vẫn có quyền áp dụng, khi đó toà án coi như­ đã tiếp tục mở rộng phạm vi những khía cạnh về nội dung để sau đó lại tạo thành án lệ mới. Một bản án có thể bị kháng cáo, nếu tòa án cấp trên đồng ý với bản án của tòa án cấp d­ưới thì coi nh­ư việc áp dụng hay không áp dụng hay mở rộng phạm vi áp dụng án lệ của tòa án cấp dư­ới đã đư­ợc chấp thuận.

    Một tòa án có thể không áp dụng một phần của nội dung án lệ cũ qua việc hạn chế những nội dung mà án lệ cũ có hiệu lực và qua đó để tạo dựng, phát triển, tạo nên án lệ mới. Như­ vậy, điều đó tạo cho thẩm phán có đ­ược sự sáng tạo và tự chủ nhất định khi gặp phải những tình tiết mới của thực tế vốn liên tục nảy sinh theo sự phát triển của xã hội.

    Bên cạnh đó, một (cấp) tòa án cũng có quyền không tuân theo những án lệ của chính tòa án cấp đó nếu thấy không thể tuân theo. Nếu bản án đó lại bị kháng cáo, và nếu tòa án cấp trên bác bỏ phán quyết của tòa án cấp dưới, như­ vậy án lệ vừa đ­ược tạo nên không còn hiệu lực nữa. Cũng có trường hợp, tòa án cấp trên chỉ bác bỏ một phần khi phân tích những tình tiết thực tế trong vụ án và nội dung áp dụng, khi đó, phần không bị bác vẫn có hiệu lực. Một khả năng hiếm hoi nữa là một bản án có thể hạn chế phạm vi áp dụng án lệ đối với những tình tiết đặc thù mà rất ít khả năng xảy ra t­ương tự.

    Thông th­ường các thẩm phán rất bảo thủ khi áp dụng án lệ, tức ít khi “mạo hiểm” để đư­a ra án lệ mới. Tuy nhiên, thực tế những gì mà họ thực hiện lại hoàn toàn khác vì họ th­ường xuyên phải đối phó với những vấn đề mới của thực tế nảy sinh, phải đ­ưa ra quan điểm của mình trên cơ sở cân nhắc án lệ cũ, tạo ra sự sáng tạo không ngừng khi áp dụng luật, do đó chính họ là những ng­ười tạo nên một hệ thống luật pháp liên tục phát triển theo thời đại.

    Cách thức áp dụng án lệ: mỗi cấp tòa phải tuân theo án lệ của cấp tòa nào?

    Quy tắc thông th­ường nhất là: Tòa án cấp d­ưới phải tuân theo án lệ của tòa án cấp trên và của Tòa án tối cao. Một giả định có 3 cấp tòa chính: Sơ cấp, trung cấp và tòa án tối cao. Mọi Tòa án sơ cấp phải tuân theo án lệ của Tòa án tối cao và của tòa án trung cấp. Nếu cả hai cấp tòa trên không có án lệ về vấn đề liên quan như­ng có án lệ ở một tòa án sơ cấp nào đó thì án lệ đó không có ý nghĩa bắt buộc như­ng có thể sử dụng để tham khảo, tức chỉ có tính chất khuyến nghị đối với tòa án sơ cấp cùng cấp.

    Quy tắc đó cũng đ­ược áp dụng với tòa án trung cấp. Tr­ường hợp khác có thể xảy ra là khi gặp một án lệ của tòa án cấp dư­ới, tòa án cấp trên có thể tham khảo án lệ đó và nếu chấp thuận thì án lệ của tòa án cấp d­ưới trở thành án lệ của tòa án cấp trên. Ng­ược lại, nếu không chấp thuận và bác bỏ thì coi như­ đã lập ra một án lệ mới hoàn toàn mới, án lệ cũ không còn hiệu lực nữa. Bất kỳ Tòa án cấp nào cũng không bị bắt buộc phải tuân theo các án lệ của tòa án cấp mình và cấp dưới.

    Như­ vậy, Tòa án tối cao không bị bắt buộc phải tuân theo các án lệ cũ của chính Tòa án tối cao. Mọi phán quyết của Tòa án tối cao bao giờ cũng có hiệu lực pháp lý bắt buộc cao nhất đối với toà án các cấp. Một quy tắc nữa là, các phán quyết của một thẩm phán trong cùng một cấp tòa chỉ có ý nghĩa bắt buộc đối với cấp tòa d­ưới và có ý nghĩa khuyến nghị đối với một thẩm phán khác hay hội đồng gồm nhiều thẩm phán của cấp tòa đó.

    Chẳng hạn, nếu một thẩm phán tòa án tòa án tối cao đ­ưa ra phán quyết nh­ưng sau đó vụ án lại bị xem xét bởi một hội đồng gồm ba hay toàn bộ các thẩm phán thì phán quyết của hội đồng có hiệu lực cao nhất. Trong một hội đồng thì phán quyết của bên chiếm đa số sẽ có hiệu lực và trở thành án lệ.

    Nhìn chung, các thẩm phán chỉ quan tâm nhất đến việc án lệ cũ có phải là bắt buộc phải tuân theo hay không. Nếu không bắt buộc, họ sẽ tham khảo các án lệ khác để có thể tuân theo hay không tuân theo và như­ vậy đều có khả năng tạo ra án lệ mới. Cách thức như­ vậy tạo ra sự thống nhất và công bằng trong việc áp dụng pháp luật vì khi đã trở thành án lệ có hiệu lực bắt buộc, tất cả các tòa án cấp d­ưới đều phải tuân theo. Mặt khác, nó cũng tạo ra sự phát triển không ngừng của án lệ khi thực tiễn phải đối phó với các vấn đề mới mà hoạt động lập pháp ch­ưa thể bổ sung và hoàn thiện ngay được.

    Làm thế nào để xác định những căn cứ để đi đến phán quyết?

    Để xác định những căn cứ của tòa án khi đ­ưa ra phán quyết, cần phải xác định những tình tiết thực tế và vấn đề pháp lý đặt ra. Những tình tiết thực tế của vụ án là những tình tiết có liên quan và ảnh h­ưởng tới kết quả giải quyết vụ án. Chẳng hạn, khi tòa án phải phán xét một ngư­ời có phạm tội trộm cắp hay không thì tình tiết ngư­ời đó có đôi mắt xanh rõ ràng không phải là tình tiết thực tế của vụ án nh­ưng việc liệu ng­ười đó có ý định lấy cắp một đồ vật hay không là một tình tiết thực tế. Căn cứ để tòa án đư­a ra phán quyết là những yếu tố pháp lý dựa vào đó tòa án giải quyết các vấn đề pháp luật liên quan đến các tình tiết thực tế của vụ án. Chẳng hạn:

    X bị đ­ưa ra tòa vì tội trộm cắp. Anh ta đã vào một siêu thị và chọn mua một hộp đựng rác nhỏ cho vào xe chở hàng trong siêu thị cùng nhiều thứ khác trong đó có một chiếc áo sơ mi. Chiếc áo sơ mi rơi vào hộp đựng rác mà X không hề biết. Khi trả tiền, anh ta cũng như­ ng­ười thu tiền đều không phát hiện ra điều đó và do vậy X đã không trả tiền cho chiếc áo sơ mi. Giả định rằng tòa án chấp thuận lý do X đ­ưa ra là không hề biết chiếc áo rơi vào hộp đựng rác đó, tòa án có thể đ­ưa ra phán quyết sau:

    Một ngư­ời không trả tiền cho một vật ngẫu nhiên rơi vào “túi” ngư­ời đó khi đi mua hàng thì không phạm tội trộm cắp.

    Tuy vậy, thẩm phán có thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng khi đ­ưa ra một phán quyết khác. Chẳng hạn, có thể nói rõ hơn nữa là sự ngẫu nhiên đó phải thỏa đáng trong bối cảnh cụ thể, hay cũng có thể phán quyết không ai vô tình lấy tài sản của ng­ười khác mà có thể phạm tội trộm cắp.

    Trong tr­ường hợp một vụ án do một hội đồng từ ba thẩm phán lên xét xử, việc xác định căn cứ  nào sẽ trở thành án lệ sẽ phức tạp hơn. Chẳng hạn, cũng trong vụ việc trên:

    Thẩm phán A: X phạm tội vì bất kỳ ng­ời nào đã cố ý đặt một vật vào xe chở hàng trong siêu thị khi đi mua hàng và sau đó lại mang ra khỏi siêu thị mà không trả tiền thì phạm vào tội trộm cắp.

    Thẩm phán  B: X không phạm tội vì một ngư­ời không trả tiền cho một vật ngẫu nhiên rơi vào “túi” ngư­ời đó khi đi mua hàng thì không phạm tội trộm cắp.

    Thẩm phán  C: X không phạm tội vì một ngư­ời không trả tiền cho một vật, ngẫu nhiên rơi vào “túi” ng­ười đó khi đi mua hàng, và ng­ười đó hoàn toàn không có lỗi thì không phạm tội trộm cắp.

    Nh­ư vậy, đa số thẩm phán phán quyết X không có tội nh­ưng lập luận lại không hoàn toàn giống nhau giữa thẩm phán B và C. Trong tr­ường hợp này, phải xác định những điểm giống nhau trong lập luận của họ, và đối với ví dụ trên đó là vật không đ­ược trả tiền ngẫu nhiên rơi vào “túi” của ng­ười đó. Đó chính là án lệ bắt buộc sau này.

    Cơ chế án lệ, hay nói cách khác, pháp luật án lệ đ­ược hình thành từ một vụ án rất cụ thể và có thể đ­ược phát triển, mở rộng hơn và thậm chí bị thu hẹp lại phạm vi áp dụng khi xử lý những vụ án cụ thể sau này. Chẳng hạn, vấn đề lỗi vô ý ban đầu chỉ áp dụng đối với những hành động vô ý gây ra thiệt hại cho ng­ười khác dẫn đến việc ng­ười có lỗi phải bồi th­ường cho những thiệt hại về thể chất. Nh­ưng ngày nay, vấn đề lỗi vô ý đã mở rộng ra đối với cả những lời nói hay phát ngôn gây thiệt hại cho ngư­ời khác không chỉ về thể chất mà còn cả tinh thần.

    Để án lệ có thể vận hành hiệu quả và đơn giản, các bản án của toà án các cấp đều đ­ược đư­a vào lư­u trữ đánh số theo ngày tháng năm. Hàng năm, có cơ quan chuyên trách (thậm chí của các công ty t­ư nhân) đều có những tổng hợp trong đó có nêu rõ những bản án nào tr­ước đây đã đ­ược xem xét, tuân theo, hay bác bỏ và không còn hiệu lực.

    án lệ là một khái niệm rất mới trong các khái niệm pháp lý của pháp luật n­ước ta. Tuy nhiên, có thể thấy, trong thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật n­ước ta đã có những hình thái sơ khai của án lệ mà rõ nhất trong các báo cáo tổng kết hàng năm của ngành Toà án. Việc áp dụng án lệ là một nguồn không thể thiếu trong hệ pháp luật thông luật và ngày nay đã và đang đư­ợc áp dụng với các mức độ khác nhau trong các hệ pháp luật khác như­ luật lục địa (civil law) và pháp luật quốc tế.

    Hai ­ưu điểm lớn nhất của án lệ, thứ nhất, cơ chế này tạo ra tính sáng tạo trong việc áp dụng pháp luật của toà án mà ở đó thẩm phán chính là những ng­ười vừa áp dụng pháp luật vừa làm luật. Điều này rất cần thiết khi các thẩm phán luôn phải tiếp xúc và xử lý với những vấn đề thực tiễn nảy sinh mà pháp luật do các cơ quan lập pháp ch­ưa thể ban hành kịp thời. ­ưu điểm thứ hai là cơ chế này tạo ra việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất và công bằng trong toàn bộ hệ thống tư pháp. Các vụ việc nh­ư nhau sẽ đ­ược xử lý t­ương tự trong toàn bộ các cấp toà vì khi có vi phạm hay áp dụng sai, cấp toà trên sẽ huỷ bỏ.

    Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong bối cảnh pháp luật n­ước ta cũng sẽ đặt ra rất nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn và quan trọng nhất là trong lý luận pháp lý có chấp nhận việc các thẩm phán đư­ợc phép “làm luật”, hay nói cách khác là quyền lập pháp của Quốc hội có đ­ược chia xẻ cho quyền t­ư pháp mà trực tiếp là các thẩm phán hay không. 
    TDT

    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 11/10/2010 08:50:09 AM chỉnh font. Chỉnh font
     
    Báo quản trị |  
  • #63404   08/10/2010

    chaulevan
    chaulevan
    Top 75
    Lớp 8

    Bình Định, Việt Nam
    Tham gia:26/02/2009
    Tổng số bài viết (759)
    Số điểm: 10998
    Cảm ơn: 339
    Được cảm ơn 587 lần


    Chào bạn viid08,

    Rất cám ơn bạn đã post cho mọi người tham khảo một vài viết rất hay. Tuy vậy, khi post nguyên văn một bài nào đó bạn nên chỉ dẫn nguồn trích dẫn vì chúng ta phải tôn trọng quyền tác giả.

    Thân chào bạn!
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 11/10/2010 08:52:21 AM chinh font.

    CV

     
    Báo quản trị |  
  • #63465   09/10/2010

    hiden_face
    hiden_face
    Top 200
    Female
    Lớp 2

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:28/05/2010
    Tổng số bài viết (303)
    Số điểm: 3851
    Cảm ơn: 102
    Được cảm ơn 119 lần


     Mình cũng xin được góp một bài viết cho mọi người tham khảo!
     

          ÁP DỤNG ÁN LỆ: CÀNG CHẬM TRỄ LÀ CÀNG TỤT HẬU.

           LS. TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA

         Ý nghĩa và mục đích của pháp luật là tạo ra, bảo đảm công lý, mà hai thành tố của nó là lẽ phải và sự bình đẳng. Nhưng lịch sử đã chứng minh không phải pháp luật nào cũng tạo ra công lý.

       Vì sao nên áp dụng án lệ?

    Vậy khi nào pháp luật đồng nghĩa với công lý? Đó là khi pháp luật được đặt ra và áp dụng một cách: công bằng, nhất quánxác đáng hay thỏa đáng.

    Khi một nền pháp luật tạo ra và bảo đảm được ba giá trị đó thì xã hội sẽ có công lý. Khi xã hội có công lý thì người dân sẽ được an toàn bởi các quan hệ xã hội sẽ trở nên “có thể tiên liệu” và ổn định.

    Từ nhận thức ấy, có một nguyên tắc mà đến nay đã trở thành tiêu chí chung ở hầu hết các nước: Trong cùng một quốc gia, không thể xử những vụ án giống nhau bằng những bản án khác nhau.

    Nguyên tắc này được công nhận cả ở các nước thông luật (hệ thống luật Anh-Mỹ -Common Law)và dân luật (hệ thống luật La Mã hay luật lục địa) bởi dù theo hệ luật nào thì cái đích phải đến của tố tụng cũng là những vụ án có tình tiết tương tự thì phải được xét xử bằng những bản án tương tự.

    Nguyên tắc này làm cho án lệ trở nên cần thiết. Cần lưu ý rằng giá trị của án lệ nằm ở phần tinh túy nhất của nó: Phần luận cứ, tức là những quan điểm, nguyên tắc, lý lẽ mà dựa vào đó các thẩm phán đưa ra phán quyết.

    Đọc các án lệ thường thấy không chỉ có luận cứ của các thẩm phán phe đa số mà luận cứ của phe thiểu số cũng được in lại đầy đủ. Như vậy, giá trị của một án lệ chính là trí tuệ, kinh nghiệm, tâm huyết của các thẩm phán trong việc vận dụng pháp luật, đúc kết lên thành những luận cứ có sức thuyết phục cao, làm nền tảng cho phán quyết của mình.

    Ở các nước, án lệ được phổ biến công khai, ai cũng có thể đọc và tìm hiểu vì sao các thẩm phán lại phán quyết như vậy. Các sinh viên luật khi học trong trường là học những tinh hoa được chưng cất từ thực tiễn ấy chứ không chỉ học những lý thuyết suông.

    Chính vì vậy, cả các nước theo thông luật và dân luật luôn quan tâm nghiên cứu và vận dụng án lệ. Một bản án được xét xử nghiêm túc, đúng đắn chứa đựng tinh hoa của trí tuệ và lương tâm của quan tòa. Những giá trị ấy phải được kế thừa và lan truyền, được tôn trọng, bổ sung và hoàn thiện.

    Nên áp dụng ở Việt Nam ra sao?

    Áp dụng án lệ ở Việt Nam liên quan đến toàn bộ hệ thống pháp luật. Chúng ta nên nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng án lệ ở các nước dân luật như Đức, Pháp, Nhật và cả ở một số nước đang phát triển.

    Về cách làm, trước hết chúng ta nên thành lập một ban nghiên cứu và soạn thảo đề án với sự tham gia của các chuyên gia từ TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các trường đại học luật… Chủ trì nhóm nghiên cứu này nên là Quốc hội nhưng cũng có thể giao cho TAND Tối cao hay Bộ Tư pháp.

    Đề án sẽ đưa ra những việc phải làm để áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tất nhiên sẽ phải xác định những điều cần sửa chữa, bổ sung đối với luật tố tụng và các luật khác, nếu có liên quan đến hiến pháp thì phải sửa cả một số điều của hiến pháp. Tuy nhiên, có những việc có thể làm ngay mà không phạm luật thì nên tiến hành làm. Ví dụ:

    - Nên bắt đầu bằng việc tạo điều kiện cho mọi người được đọc, nghiên cứu bản án, trừ những bản án xử kín. Có thể cho xuất bản, lưu hành bản án trong các thư viện hay cung cấp như những tài liệu chuyên ngành cho những thành phần tham gia tố tụng, luật sư và người nghiên cứu, giảng dạy, học tập pháp luật…

    - TAND Tối cao nên tiếp tục chọn lựa, hệ thống hóa, công bố những bản án phúc thẩm, giám đốc thẩm mang tính điển hình trong các lĩnh vực và có thể chính thức gọi là những án lệ. Trước mắt có thể bổ sung luật tố tụng hình sự và hành chính, tiếp theo là dân sự bằng cách đề ra một số quy định ngăn chặn, hạn chế việc xét xử tùy tiện bất chấp án lệ, chí ít cũng ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm.

    - Cần áp dụng triệt để phương pháp “đối tụng”, nghĩa là tố tụng dựa vào tranh luận và chất vấn giữa các bên đối lập. Trong tố tụng hình sự, kiểm sát viên phải tranh luận tất cả nội dung phản biện mà luật sư nêu ra. Phải cho phép các thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư được tranh tụng bằng cách dẫn chiếu những án lệ đã có hiệu lực.

    - Trong bản án, thẩm phán phải đầu tư công sức, trí tuệ nhiều hơn cho phần luận cứ, phải trả lời và phân tích tất cả vấn đề được nêu trong quá trình xét xử. Phần này phải là một bộ phận cấu thành quan trọng của bản án và có thể bị kháng cáo.

    - Các trường luật phải giảng dạy bằng lý thuyết gắn chặt với bản án điển hình. Giáo trình phải được minh họa, dẫn chứng bằng những bản án có thực.

    Việc áp dụng án lệ ở Việt Nam nên bắt đầu ngay từ bây giờ. Để trễ hơn thì tiếp tục lãng phí chất xám và làm hoạt động tố tụng của Việt Nam càng tụt hậu, càng bất cập so với nhu cầu của xã hội hiện đại và lợi ích của  người dân.

    Chuyện về án lệ

    Về bản chất, án lệ là một nguyên tắc tố tụng, bắt nguồn từ nước Anh thời Trung cổ với tên gọi là thông luật (common law), sau được áp dụng ở Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Ấn Độ, Malaysia, Singapore.

    Nguyên tắc này quy định rằng: Những bản án sắp sửa được tuyên không được trái với những bản án mà tòa cùng cấp hay tòa cấp trên đã tuyên và có hiệu lực trước đó nếu như tình tiết của các vụ án giống hoặc tương tự nhau.

    Án lệ về hình thức là những bản án đã trở thành luật, tạo thành một thứ luật có tên gọi là luật án lệ (case law) hay luật do thẩm phán làm ra (judge-made law), bên cạnh luật do quốc hội ban hành (legislation hay statutory law).

    Việc xét xử ở các nước thông luật dựa trên hai nguồn luật chính là luật do quốc hội ban hành và luật án lệ. Ở các nước thông luật, án lệ ra đời trong những điều kiện sau đây:

    - Khi chưa có luật nhưng tòa vẫn phải xử để bảo đảm công lý và bản án đó trở thành án lệ (precedent), nghĩa là trở thành luật cho những vụ việc tương tự;

    - Khi luật không rõ ràng, thẩm phán phải tự mình nhận thức, giải thích luật và thể hiện nhậ - Đã có luật nhưng phát sinh tình huống mới mà luật chưa dự liệu được nên thẩm phán phải vận dụng luật hiện hành cho tình huống mới đó.

    Ngoài các nước thông luật, phần lớn các nước còn lại trên thế giới theo hệ thống dân luật (còn gọi là hệ thống luật La Mã hay luật lục địa). Hệ thống này bắt nguồn từ luật dân sự La Mã cổ đại, dựa trên nguyên tắc: Luật pháp là những gì được viết ra, ban hành và việc xét xử phải dựa vào đó.

    Theo hệ thống luật này gồm có những nước lục địa châu Âu (Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, các nước Đông Âu, Bắc Âu), các nước Mỹ La tinh và một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.

    Về cơ bản, các nước dân luật không coi án lệ như một nguyên tắc xét xử bởi quan niệm “luật là những quy định thành văn được ban hành thành luật và những gì không ban hành thành văn bản thì không phải là luật”.

    Thực tế, một số nước dân luật có xu hướng xem nhẹ án lệ, không áp dụng, thậm chí không tham chiếu những bản án đã xử. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia dân luật khác, án lệ vẫn được coi trọng vì những lợi ích mà nó mang lại.

    Bản án điển hình

    Ở nhiều nước theo dân luật, ở cấp tòa phúc thẩm hay tòa tối cao, luật pháp có quy định để hạn chế hay ngăn chặn việc áp dụng luật không nhất quán trong tố tụng dẫn đến những bản án khác biệt, mâu thuẫn nhau.

    Đặc biệt, các bản án điển hình ở cấp phúc thẩm hay giám đốc thẩm được dẫn chiếu, tham chiếu khi xét xử như những án lệ có giá trị bắt buộc đối với các tòa cấp dưới trong những vụ án có tình tiết tương tự.

      

     

    ngotungan1989@gmail.com

    When you cant be by my side...you are in my heart...

     
    Báo quản trị |  
  • #63466   09/10/2010

    hiden_face
    hiden_face
    Top 200
    Female
    Lớp 2

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:28/05/2010
    Tổng số bài viết (303)
    Số điểm: 3851
    Cảm ơn: 102
    Được cảm ơn 119 lần


          Thêm một bài viết về án lệ nữa nè! các bạn tham khảo rồi góp ý kiến nhé!

       #ff0000;">ÁN LỆ VÀ ÁN MẨU, CƠ SỞ NÀO CHO VIỆC ỒN TẠI ÁN LỆ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

    #ff0000;">      THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

    1. Phân biệt án lệ và án mẫu

    Nói đến án lệ, người ta thường nói đến sự khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật trong một hệ thống pháp luật. Thông thường án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực đó hoặc do xung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ ràng. Ở đây cần có sự phân biệt giữa án lệ và án mẫu.

    - Cơ sở hình thành án lệ là nó phải được xây dựng trên cơ sở những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi đó tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra 1 phán quyết và bản án này sẽ được tòa án tối cao thừa nhận để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự.

    - Đối với án mẫu, án mẫu là những bản án được xây dựng trên những cơ sở pháp luật hết sức vững chắc mà không thể chối cãi được, do đó khi có những tình huống tương tự thì các tòa án phải đưa ra các phán quyết tương tự.

    Điểm giống nhau giữa án lệ và án mẫu là trong các điều kiện tương tự thì tòa án đều phải ra những phán quyết chung được coi là chuẩn mực và các phán quyết đó được thừa nhận như những giá trị bắt buộc chung. Đây là điều đã gây ra khá nhiều nhầm lẫn đối với nhiều học giả trong thời gian qua.

    2. Pháp luật hình sự và những điều cấm trong sử dụng án lệ

    Như đã trình bày trên, án lệ chỉ được hình thành khi trong quá trình xét xử mà còn có những khoảng trống pháp luật mà luật chưa điều chỉnh hết được hoặc có những xung đột pháp luật (chủ yếu là luật quốc gia và luật quốc tế hoặc một số trường hợp giữa các ngành luật) mà chưa có dẫn chiếu rõ ràng. Và điều này nó khuyến khích sự sáng tạo của trong việc vận dụng các quy phạm pháp luật để áp dụng và nâng nó thành án lệ của các cơ quan xét xử. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới hành vi sáng tạo pháp luật trong luật hình sự là một hành vi bị cấm.

    Trong pháp luật hình sự, hầu hết các nước đều tuân thủ nguyên tắc không có luật là không có tội. Do đó, pháp luật hình sự là một mảnh đất cấm đối với sự tồn tại của án lệ. Tương tự, trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, các hành vi xử phạt hành chính cũng là một mảnh đất không an lành đối với án lệ vì các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân cũng hạn chế sự sáng tạo pháp luật để gây tổn hại cho công dân của tòa án mà phải tuân thủ những nguyên tắc bảo vệ lợi ích cho công dân.

    3. Môi trường của án lệ và khả năng hình thành án lệ ở nước ta

    Vậy từ những phân tích trên, án lệ được ra đời trong những môi trường nào?

    Từ nhận thức như trên chúng ta thấy án lệ thường được ra đời từ trong lĩnh vực luật tư và dường như ít được đề cập nhiều trong lĩnh vực luật công nhất là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về mối quan hệ quyền lực giữa nhà nước và công dân mà có chăng chỉ là những án lệ áp dụng có lợi cho công dân.

    Thông thường sự ra đời của án lệ phải được đặt trong những môi trường thuận lợi của nó chẳng hạn, phải được ra đời từ một tòa án có đủ thẩm quyền và niềm tin xã hội để xây dựng nên án lệ. Điều này có nghĩa rằng, trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình tam quyền phân lập mnh mẽ thì án lệ có cơ sở vững chắc hơn để tồn tại bởi một lý do hết sức đơn giản là ở đó họ khuyến khích và thừa nhận những sáng kiến lập pháp của nhau, đồng thời có những cơ chế mở để các bên có thể thể hiện năng lực lập pháp của mình mà không trái với các nguyên tắc pháp lý lập pháp. Ở đây, họ phải ngầm thừa nhận với nhau rằng án lệ được xây dựng nên phải đảm bảo các nguyên tắc lập pháp cơ bản. Đây là một điều kiện tưởng chừng hết sức đơn giản nhưng lại rất khó thực hiện bởi năng lực lập pháp của các cơ quan xét xử.

    Trong quy trình làm luật ở nước ta: việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội từ chối áp dụng án lệ liệu có phải không có lý do chính đáng? Hiện nay các Bộ, ngành đều muốn làm luật và sản phẩm như chúng ta đã biết, đều rất có lợi cho họ và mang nhiều thiệt hại đến xã hội, liệu tòa án nhân dân tối cao đã vượt ra khỏi tầm đó để cho Quốc hội tin tưởng giao cho trọng trách của họ. Hơn nữa, việc trao thẩm quyền này cho tòa án tối cao thì cơ chế nào để Quốc hội có thể còn giữ được thẩm quyền làm luật theo hiến định?

    Cách thức hình thành án lệ: án lệ không phải được tự nhiên hình thành mà nó cũng phải xây dựng trên những cơ sở lý thuyết vững chắc, chẳng hạn xuất phát từ những học thuyết pháp lý mà hệ thống pháp luật quốc gia đang theo đuổi và thừa nhận. Ví dụ, việc theo đuổi hệ tư tưởng mác xít trong việc xây dựng pháp luật ở nước ta đòi hỏi việc hình thành các án lệ phải tuân thủ các tư tưởng của học thuyết này. Ngược lại các học thuyết pháp lý cho dù là kinh điển nhưng đi trái các tư tưởng pháp lý mác xít (phi mác xít) liệu có được thừa nhận khi nó được tòa án tối cao công nhận là án lệ? và nó sẽ được lý giải như thế nào trước các cơ quan lập pháp?

    Yêu cầu lập pháp và vấn đề án lệ: khi nghiên cứu về các quy phạm pháp luật, các nhà làm luật đều thừa nhận một điều rằng vấn các quy phạm pháp luật khi được xây dựng phải đảm bảo yêu cầu: vừa mang tính khái quát nhưng cũng phải dễ hiểu và dễ áp dụng. Chính vì điều này mà các bộ luật, các luật hay các văn bản quy phạm thường cũng chỉ giới hạn số điều luật nhất định chẳng hạn, nhiều nhất như Bộ luật dân sự nước ta năm 1995 cũng chỉ mới đến 838 điều và trong số 838 điều này cũng có đến 15 điều quy định về các nguyên tắc cơ bản. Ngược lại, nếu luật muốn viết ra để áp dụng cho mỗi trường hợp cụ thể như những tập án mẫu như vậy luật phải chứa đến hàng vạn điều mà cũng không thể ghi hết được nội dung để áp dụng. Một điều đáng bàn nữa, đó là vấn đề lập trình xét xử, nhiều người đã nghĩ đến những việc xây dựng những cỗ máy xét xử để xét xử thay cho các thẩm phán vì chỉ cần nạp những dữ liệu đầu vào các cỗ máy đó sẽ đưa ra những dữ liệu đầu ra…Liệu đây có phải là một lý do chính đáng để mọi người mong muốn có được các bản án lệ hay không?

    Ở nước ta, việc chưa thể áp dụng án lệ cũng có cơ sở của nó. Theo cách thức tổ chức quyền lực hiện tại, tòa án chỉ là một cơ quan phái sinh đối với Quốc hội, như vậy về thẩm quyền để ra một bản án có cơ sở áp dụng lâu dài (án lệ) có lẽ là điều thiếu thực tế. Vì thẩm quyền ban hành luật và thẩm quyền phê chuẩn các điều ước quốc tế đều nằm trong tay Quốc hội, do đó việc sáng tạo luật chắc cũng khó có cơ chế dành cho tòa án.

    Về thời hạn tồn tại của án lệ: mọi sự việc không phải nhất thành bất biến mà nó luôn vận động, án lệ cũng vậy, khi lỗ hổng pháp luật được các cơ quan lập pháp “lấp đầy” hoặc “vá” nó bằng các quy định pháp luật mới thì án lệ không được áp dụng nữa mà nó phải được áp dụng bằng pháp luật thực định. Do đó, điều kiện tồn tại án lệ cũng là những khoảng thời gian hạn chế.

    Trên đây là một số nghiên cứu của tác giả về án lệ và án mẫu ở nước ta. Kính mong nhận được những đóng góp từ phía độc giả.

    Xin chân thành cảm ơn!

    ngotungan1989@gmail.com

    When you cant be by my side...you are in my heart...

     
    Báo quản trị |  
    1 thành viên cảm ơn hiden_face vì bài viết hữu ích
    giodong_lkt1 (27/03/2013)
  • #63508   10/10/2010

    viid08
    viid08

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:07/02/2009
    Tổng số bài viết (20)
    Số điểm: 199
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Dear all,

    Cảm ơn bạn Chau Le Van đã nhắc nhở vấn đề quyền tác giả, bạn yên tâm vì người gửi bài chính là tác giả bài viết này trên NCLP cách đây 3-5 gì đó và tôi cũng đã rất quen với việc viết một bài nghiên cứu thì mỗi câu mỗi chữ lấy từ đâu đều phải trích dẫn nguồn. Các đoạn trích dẫn, nguồn gốc (references, quatation...) trong bài viết trên đã được cắt cho ngắn gọn.


    Tôi chỉ cung cấp thông tin và tôi không muốn bình luận. Án lệ đã được các nước common law áp dụng từ cách đây hơn 200 năm và vẫn vận hành tốt. Cũng nên lưu ý rằng, án lệ không như nhiều người nghĩ, là thay cho pháp luật thành văn, mà chỉ là bổ sung cho pháp luật thành văn. Án lệ, trong lĩnh vực hình sự chẳng hạn, không phải để các quan toà định ngay ra một tội phạm, mà tội phạm phải được qui định trong một đạo luật (Không nhất thiết phải là Bộ luật hình sự).


    Nhưng nhiều tính tiết, chẳng hạn thế nào là giết người một cách man rợ, thế nào là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng... và pháp luật thành văn chưa qui định hết thì án lệ bổ sung nguồn luật này. Án lệ, sau một thời gian áp dụng, nếu là vấn đề lớn, sẽ được củng cố và đưa vào luật bởi Nghị viện, quốc hội. Ngoài ra, án lệ về một vấn đề nào đó, nếu gây ra quan tâm của Nghị viện mà không được ủng hộ, sẽ bị Nghị viện bãi bỏ bởi một đạo luật.

    Thực ra, án lệ chỉ làm mọi việc dễ dàng, tiện lợi hơn khi vận dụng, áp dụng pháp luật, vì nó cũng chỉ là một nguồn luật. Còn vấn đề công lý, công bằng trong xét xử, không tạo ra từ án lệ, mà nó từ những vấn đề cơ bản nhất của hệ thống pháp luật như tính độc lập của hoạt động xét xử, cơ chế đảm bảo độc lập xét xử....


    Thêm một chút bình luận, nếu án lệ tạo ra tính sáng tạo của người vận dụng pháp luật thì tôi không nghĩ án mẫu là mô hình tốt. Nếu có thì tôi không biết bao nhiêu nước có mô hình này. Tôi cảm thấy án mẫu sẽ tạo ra cơ chế cầm tay chỉ việc cho các thẩm phán. Ngay cả khi so sánh giữa các hệ thống pháp luật, các thẩm phán của hệ thống thông luật áp dụng án lệ giống như các nghệ sĩ thì các thẩm phán của hệ thống pháp luật lục địa giống như các công chức mẫn cán, áp dụng luật như công nhân trong dây chuyền sản xuất.


    TDT
    Cập nhật bởi LawSoft05 ngày 11/10/2010 08:53:26 AM chinh font, cách dòng
     
    Báo quản trị |  
  • #64134   15/10/2010

    hiden_face
    hiden_face
    Top 200
    Female
    Lớp 2

    Bạc Liêu, Việt Nam
    Tham gia:28/05/2010
    Tổng số bài viết (303)
    Số điểm: 3851
    Cảm ơn: 102
    Được cảm ơn 119 lần


     Chào mọi người!
     Có một bài viết nữa rất hay về án lệ, mình post để mọi người nghiên cứu và bàn luận tiếp nhé!
      

    NGUỒN GỐC ÁN LỆ VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ ÁN LỆ Ở VIỆT NAM

    #ff0000;">NGUYỄN TẤN DŨNG – Lớp HC29A – Đại học Luật TPHCM

    1 Án lệ có từ bao giờ: Có thể nói một án lệ ra đời từ bao giờ là một câu hỏi mà câu trả lời không có một đoạn kết chính xác và làm hài lòng cho tất cả.

    Với người Anh, họ sẽ cho rằng nước Anh là “quê hương”, là nơi ra đời của án lệ. Điều này cò thể được các luật gia, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật ở Anh, và các nứơc theo truyền thống Thông luật (Common law) giải thích với lý do:

    Thứ nhất, truyền thống pháp luật Anh là truyền thống của Thông luật – pháp luật đựơc hình thành chủ yếu bằng con đường xét xử;

    Thứ hai, Thông luật ở Anh đựơc hình thành từ rất sớm, từ năm 1066;

    Thứ ba, pháp luật Anh đã đựơc lan truyền khắp thế giới chủ yếu bằng con đưòng mở rộng thuộc địa của Đế quốc Anh, và bằng con đường tự tiếp nhận, từ đó đã hình thành trên thế giới hệ thống pháp luật Common Law ( Thông luật);

    Và lý do quan trọng nữa là, nước Anh là nước sử dụng án lệ điển hình nhất.

    Đó chỉ là lập luận của những “ngưòi Anh”, hay một số học giả khác. Nếu chúng ta nghiên cưú chính trong pháp luật Anh, và xem đến tận cùng của vấn đề, chúng ta sẽ thấy có một điều mà ngưòi Anh đã tự công nhận nguồn gốc của án lệ. Ta có thể thấy rằng, án lệ đã ra đời trước đó (trứơc năm 1066), án lệ có nguồn gốc từ trong pháp luật La mã_tức nó đã có từ thời kỳ La MÃ cổ đại. Điều này đựoc minh chứng rõ và không thể phủ nhận đựơc trong việc áp dụng học thuyết án lệ ở Anh, với quy tắc bất thành văn Stare Decisis-tức là quy tắc tôn trọng tiền lệ. Nếu không có án lệ thì làm sao có sự tôn trọng tiền lệ, để rồi ra đời học thuyến về quy tắc án lệ trong pháp luật La Mã cổ đại. Và có thể thấy một ví dụ cho việc ra đời một nguyện tắc, trở thành một khuôn mẫu trong xét xử đối với các vụ án tử hình đã có từ thời kỳ La Mã cổ đại. Đó là nguyện tắc:” trong khi xét xử vụ án tử hình, nếu tất cả các thành viên phán xét ( ngày nay, có thể là hội đồng xét xử, hay là Hội đồng thẩm phán) ngay lập tức bỏ phiếu đồng ý với bản cáo trạng thì bị cáo sẽ đựoc tuyên vô tội (trắng án). Chỉ khi có ngưòi đau ra một lập luận ủng hộ ngưòi bị xét xử đó (bị cáo) và lập luận đó bị tất cả các thành viên còn lại đồng ý với bảo cáo trạng xử tử hình, thì bị cáo mới bị xử tử hình”- nguyên tắc không nhất trí trong páhp luật La Mã xưa.

    Vấn đề này được tuyên và hình thành một nguyên tắc xét xử ở thời kỳ cổ đại là do:

    Nguyên tắc trên đã đựoc đảm bảo rằng, các bị cáo khi bị xét xử sẽ đựoc thực hiện theo một quy trình nhất định, tức là, sau khi các thành viên xét xử tranh tụng và trứoc khi đưa ra phán quyết nào, các thành viên sẽ pahỉ dành một đêm tiếp tục tranh luận theo từng cặp để tìm ra lí lẻ bào chữa cho ngưòi bị xem là có tôi. Điuề này có nghĩa, là páhp luật đã coi trong việc một bị cáo có cơ hội được tha tội;

    Nguyên tắc này là một cách để các thành viên xét xử phỉa đưa ra ít nhất một lập luận để bảo vệ ngưòi bị xét xử. Nếu tất cả đều vội vàng kết tôi thì sẽ nảy sinh vấn đề không biết liệu cả hai mặt lập luận có được xem xét nghiêm túc hay không, điều này sẽ dảm bảo cho một thủ tục được tiến hành để đảm bảo rằng sẽ có tranh cõi – tức là hai mặt lập luận đã được pâhn tích và tất cả mọi dữ kiện điều đã được trình bày.

    Vấn đề còn lại của việc tuyên tử hình để đảm bảo chính xác và công lý là cần có một ngưòi-thành viên xét xử phải pảhn đối kịch liệt lại những lập lập chống án tử hình đối với ngưòi bị xét xử. Do đo, mà trong khi xét xử ở La Ma thời kỷ cổ đại đã hình thành nên một ngưòi pảhn biện, gọi là ngưòi chống đối trung thành.

    2. Lịch sử án lệ ở Việt Nam:

    Câu hỏi ở Việt Nam đã có án lệ chưa? Và rất nhiều câu trả lời là chưa? Và tắc giả viết bài này xin nói rằng, Việt Nam đã từng có Án lệ, nhưng hiện hại trong hệ thống pháp luật, thì án lệ không được công nhận trên lý luận, cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam.

    Xin khẳng định rẳng, trên đất nước Việt Nam, trong lịch sử, từ thời kỳ sau năm 1858- năm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và bắt đầu chiếm đống đô hộ, đến trước năm 1975 – năm Việt Nam hoàn toản giải phóng khỏi ách thống trị của những nước xâm lược, thì đã từng có án lệ. Điều này được viết với sự khách quan, và tìm hiểu vấn đề không dựa trên một ý muốn gì, mà chỉ dựa trên quan điểm khoa học,và những gì đã có trong lịch sự cảu nước Việt Nam . Điều này sẽ được minh chứng, đó là với những lý do:

    Thứ nhất, Việt Nam đã là thuộc địa cụa Pháp trong hơn 80 năm, và ở minề Nam Việt Nam đã từng có một “ nhà nước thân Mỹ” trong một thời gian dài. Mà những điều này đả ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, chính trị, và cả nên pháp luật của Việt Nam;

    Thứ hai, Pháp và đặc biệt là Mỹ, đã là những quốc gia mà án lệ dù thế nào cũng đã có, được thừa nhận với những giá trị bắt buộc riêng. Vậy trong thời gian dô hộ đó, thử hỏi, Việt Nam có thể không chịu ảnh hưởng của ít nhất là về mặt tư tưởng về vấn đề án lệ trong pháp luật không?

    Thứ ba, xin đưa ra hai ví dụ về án lệ ở Việt Nam thời kỳ đó, để chứng tỏ là Việt Nam đã từng có án lệ: Ví dụ thứ nhất, được minh chứng trong một án lệ hành chính: đây có thể nói là một án lệ thể hiện cho sự tiếp thu và quá trình “phap luật hoá” của thực dân Pháp sau khi đô hộ Viêt Nam, việc này vừa để thống trị, vừa để cho thấy tính thích nghi của mộ hình án lệ hành chính của Pháp.

    Án lệ của Tham Chính viện , phiên toà ngày 11 tháng 6 năm 1956 về vụ Công ty xe điện Autobus ( CFTI ) k/ Toà đại biểu Chính phủ tại Việt Nam.

    Trong án văn hành chính này, Tham chính viện đã căn cứ vào:

    - Chiếu dụ sô 5 ngày 18/10/1949 tổ chức tối cao pháp viện;

    - Chiếu dụ số 38 ngày 9/11/1954 tổ chức tham chính viện thay thế ban hành chi\ánh tối cao páhp viện;

    - Chiếu dụ sô 2 ngày 3/1/1960 tổ chức toà hành chình;

    - Chiếu dụ số 26 ngày 8/11/1954 sửa đổi dụ số 2 ngày 5/11/1950 nói thêm;

    - Chiêu dụ hợp đồng lý kết ngày 18/10/1935 giữa thủ hiến Nam Viết và công ty xe điện và Ô tô buyt ở Sài Gòn, Chợ lớn;

    - Chiếu bản phán quyết của uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954;

    - Chiếu án lệnh ngày 21/8/1954 của ông Chánh án dự khuyết toà án hành chính hỗn hợp Đà Lạt. Cho thi hành bản phán quyết cùa Uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954 vô giá trị và phải huỷ bỏ;

    - Chiếu chi công ty xe điện và ô tô buyt thỉnh cầu trong đơn khuyến cáo xin tạm hoãn thi hành bản án ngày 20/1/1956 của toà án Hành chính đã tuyên xử huỷ bỏ phán quyết cvủa uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954;

    - Chiếu chi theo nguyên tắc, sự kháng cáo không đình chỉ hiệu lực của bản án hành chính;

    - Chiếu chi theo cuộc thẩm cứu và các tài liệu dệ nạp trong hồ sơ thì dầu có cjho rằng sự thi hành ngay bản án sơ thẩm có thể gây cho công ty nguyên kháng sự thiệt hại đi chăng nữa , sự thiệt hại này , xét ra không phải là không đền bù được.

    Từ những căn cứ trên, Tham chính viện đã ra quyết định:” Bác lời thỉnh cầu của công ty nguyên kháng xin tạm hoãn thi hành bản án lọnh kháng cáo”.

    Sau khi phán quyết này ra đời, đã khẳng định lại nguyên tắc cơ bản của Luật hành chính thời đó là:” những bản án của toà hành chính có hiệu lực chấp hành đương nhiên, trừ trường hợp ngoại lệ là bản án của Toà hành chính bị tuyên hoãn thi hành khi buộc có 2 điều kiện:

    Thứ nhất, đơn khiếu nại (kháng cáo) phải căn cứ vào các lý do đúng đắn; và

    Thứ hai, sự thi hành bản án bị chỉ trích có thể gây ra một sự thiệt hại không thể đền bù được.

    Trong vụ án do Tham Chính viện giải quyết trên, bên nguyên đơn đã có đủ điều kiện thứ nhất, nhưng về điều kiện thứ hai, tham chính viện đã cho rằng mặc dầu bản án của Toà đại biểu chính phủ tai Viet Nam có thể gây ra cho công ty Autobus(CFTI) một sự thiệt hại chăng nữa, thì sự thiệt hại ấy có thể đền bù bằng một số tiền bồi thường, nên đã bác đơn thỉnh cầu xin tạm hoãn thi hành bản án của toà hành chính trên.

    Chính quyết định này của Tham chính viện đã tạo thành một tiền lệ cho các vụ án tương tự về sau.

    Trên đây là vì dụ về một vụ án hành chính, đã hình thành nên một án lệ hành chính trong thực tiễn pháp luật ở Việt Nam thời kỳ đó. Dưới đây là một vì dụ điển hình cho một án lệ trong lĩnh vực hôn nhận gia đình thời xưa ớ Việt Nam .

    Trong những tranh chấp về lĩnh vực hôn nhân gia đình, do đây là một quan hệ dân sự, có sự đa dạng , diến đổi, và rất phong phú, nên để co một án lệ chính thức, đã pahỉ trải qua một thời gian dài xét xử nhiều vụ án khác nhau, với nhiều án văn khác nhau. Trong phần vì dụ này, người viết đề cập đến án lệ của Toà thượng thẩm Sài Gòn về vấn đề tài sản riêng cùa người vợ, trong vụ Diệp Thuận PHong k/ Thái Thị Liên, trong án văn cuối cùng ra ngày 30 tháng 11 năm 1961 đã ra quyết định dứt khoát một án lệ cộng nhận rằng “người đàn bà có chồng được quyền có sản nghiệp riêng”.

    Để có được án lệ trên, từ trước đã có các bản án hay án lệ đối nghịch nhau về quyền tài sản riêng của người vợ trong thời kỳ hôn nhận. Việc có các án văn đối nghịch nhau về cùng một vấn đề tương tự này là do xuất phát từ hai học thuyết và vào một thời kỳ khác nhau, mà mỗi học thuyết lại tác động tạo ra các bản án khác nhau. cụ thể là:

    Học thuyết thứ nhất, theo nguyên tắc người chồng là chúa tể tuyệt đối của tất cả tài sản vọ chồng , bất kể là của ai, hay ở đâu, hay được có như thế nào. Đó là hậu quả của tổ chức gia đình Việt Nam chịu ành hưởng của tư tưởng páhp lậut và “văn hoá” phong kinế, trong đo người phụ nữ nói chúng, và người vợ nói riêng có địe vị thấp kém hơn người dàn ông, hay người chồng. Điều này đã được khẳng định trong Bộ luật Gia Long:” người chồng có quyền tự ý sử dụng của cải của người vợ, dù người vợ không đồng ý “ vì luật pháp cấm không cho người vợ đi kinệ người chồng.

    Học thuyết này được thể hiện trong cac án văn, án văn của Toà thượng thẩm Sài Gòn ngay 8/9/1891, đặc biết là một bản án đáng chú ý là án văn nggày 17/7/1938 trong vụ thạch Long k/ Thị Lý của Toà Thượng thẩm Sài Gòn, đã khẳng định vững chắc là người vợ không có quyền có tài sản riêng.

    Học thuyết thứ hai, cũng đã song song tồn tại với học thuyết thứ nhất, có quan niệm rằng, người vợ trong gia đình Việt Nam có của cải riêng. Lập luận này được đưa ra là do, không một ai dám mua tài sản riêng của vợ nếu người vợ không đồng ý, dù người vợ không có quyền đi khởi tố người chồng, thì có thể họ hang của người vợ sẽ khởi tố thay. Và tòa an theo tục lệ sẽ huỷ bỏ hợp đồng trên nếu không có lý do chính đáng từ phía người chồng; ngoài ra, theo luật tuc thì người vợ được ghi tên vào sổ thuế đối với những của cải riêng của mình, đó là một cách khẳng định quyền sỡ hữu của người vợ, và ý nghĩa đảm bảo của páhp luật đối với quyền đó.

    Học thuyềt này được thể hiện trong các bản án: án văn CS ngày 24/3/1921 ( J.J 1921 trang 388, vụ Nguyễn Văn Lung k/ Đinh Thị Lợi)- đây là án văn đánh đâu sự chuyện hướng về thuyết người vợ có tài sản riêng; Án văn Cs ngày 6/6/1939 – J.J 1929- 3/78 Trần Thị Vi, Nguyễn Văn Huê k/ Maya pachatty, nói tài sản mà vợ thừa hưởng từ thừa kế riêng không thể là tài sản chung của vợ chồng, vì thế không thể dung để trả nợ thay cho chồng.

    Đó là hai học thuyết đã cũng tồn tại trong một thời gian dài, nhưng từ sau bản án được tuyên ngày 30/11/1961 về vũ Diệp thuận Phong k/ Thái Thị Liên của Toà Thượng thẩm Sài Gòn đã khẳng định quyền có tài sản riêng của người vợ trong thời kỳ hôn nhận. Điều này đã tạo ra một án lệ, mà về sau các vụ án tương tự tranh chap về tài sản vợ chồng, và quyền có tài sản của người vợ. Nhưng, để ra một án lệ như trên, toà Thượng Thẩm Sài Gòn đã pahỉ tuyên, dự trên một loạt các lý do:

    - Thứ nhất, chiếư chi Luật Gia Long theo sự khảo cứu của nhiều luật gia đã ghi chép lại gần như nguyên văn Bộ luật Mãn Thanh của Trung Quốc, như vậy chưa cắc đã là phản ảnh thực sự phong tực Việt Nam;

    - Tiếp theo là lý do, dù sao phong tục xã hội đã thay đổi và quan niệm do đó người đàn bà chỉ được hưởng một tình trạng pháp lý thua kếm người đàn ông là một thành kinế lỗi thời, không còn thích hợp với sự tiến hoá đã thực hiện;

    - Chiếu chi vào hai bộ Dan luật Bắc Va Dan luật trung- là hai bộ luật giải quyết những vần đề về hôn nhân gai đình đã căn cứ vào phong tục chắc chắn của Việt Nam, và nay hai bộ luật ấy không còn ý do gì mà không thể áp dụng cho việc giaỉa quyết các vụ việc ở Nam phàn khi mà vấn đề chính trị , Nam phần không còn là thuộc địa của Pháp nữa;

    - Lý do khác, trào lưu tiến hoá trong xã hội Việt Nam đã đẵt người dàn bà vào địa vị ngang hàng với người dàn ông, luật ngày 2/1/1959, điều 43 công nhận cho người đàn bà có chồng cũng có năng lcự pháp lý đầy đủ; điều 5 Hiến páhp công nhận sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt Nam Nữ theo như đúng tinh thần Hiến chương Liên Hợp Quốc;

    Với những lý do chính đáng trên , mà không thể áp dụng luật Gia Long cho thân thế người vợ, và phaỉ công nhận rằng người đàn bà có chồng cũng có quyền có tài sản riêng. Tài sản này chỉ tạm thời hợp nhập vào khối tài sản công cộng, nhưng không thể biến thể để hợp nhất với tài sản của người chồng thuộc quyền sỡ hữu duy nhất của người này.

    Từ đây một án lệ đã được hình thnàh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở Việt Nam .. Như vậy, với các minh chứng trên, có thể khẳng định rằng, trong suốt một thời kỳ dài, Việt Nam đã từng có án lệ và công nhận án lệ là một nguồn của páhp luật. Nhưng từ sau năm 1975, đất nước thống nhất, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, thì án lệ không được xem là một nguồn trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, vì lúc này khẳng định, chỉ có lập páhp mới làm luật, và văn bản quy phạm páhp luật được thừa nhận là nguồn duy nhất của páhp luật Việt Nam.

    3. Những vấn đề thực tiễn trong việc giải thích pháp luật và công khai các bản án ở Việt Nam hiện nay:

    3.1.Giải thích pháp luật và thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay:

    Nước ta có một hệ thồng pháp luật mà trong đó, chỉ công nhận văn bản quy phạm páhp luật là hình thức duy nhất của pháp luật, do đó, để đảm bảo đưa các quy phạm mang tính khái qúat cao vào cuộc sống, đồng thời các quy phạm này không pahỉ lúc nào cũng rõ rang, dễ hiểu và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, do đó mà cần đến quá trình làm rõ, hướng dẫn, hay đúng hơn là quá trình giải thích pháp luật. Hoạt động giaỉ thích pháp luật được hiểu là,” nhằm làm sang tỏ về mặt tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật , đảm bảo cho sự nhận thức và thực hiện nghiệm chỉnh, thống nhất pháp luật”.

    Họat động giải thích pháp luật, là hướng đến chủ thể thứ hai, để họ nhận thức và thực hiện chúng một cách đúng đắn. Ở Việt Nam, cũng như nhiuề nước khác trên thế giới, hoạt động này, nếu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì nó sẽ có giá trị bắt buộc, còn nếu, hoạt động giải thích pháp luật do các nhà nghiên cứu, bình luận thì chỉ mang tính khoa học mà không có giá trị mang tính bắt buộc thực hiện đối với các hành vi của chủ thể.

    Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta việc hoạt động giải thíhc pháp luật không đáp ứng đựơc các yêu cầu của lý luận cũng như thực tiễn.

    Về thực tiễn, ở Việt Nam, khi một đạo luật có hiệu lực thì cơ quan cấp xã , huyện phải chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan cấp tỉnh; cơ quan cấp tỉnh lại phải chờ văn bản hướng dẫn của cơ quant rung ương thì mới được thi hành. Điều này bị dẫn đến các đạo luật bị mất hiệu lực trực tiếp, đạo lậut phải chờ Nghị định , thong tư, công văn trong một thời gian rất dài thì mới được thi hành trên thực tế sau khi có hiệu lực, nhất là Hiến pháp- thường trong cuộc cống páhp lậut Việt Nam, các cơ quan nà nước ít viện dẫn, ít đưa Hiến pháp vào quá trình áp dụng páhp lậut, cũng như các toà án khi tuyên án thường không có một căn cứ nào về hiến pháp trong bản án. Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, giá trị thực tế của Nghị định và thong tư còn cao hơn cả luật, nếu có mâu thuẫn giữa luật và văn bản hướng dẫn thì thường, các cơ quan nhà nước lại theo các văn bản hướng dẫn đó. Những việc này xảy ra, phần lớn là do hoạt động giải thích páhp luật chưa có những nguyên tắc rõ ràng, và không hợp lý khi giao cho các cơ quan.

    Trong quy định của Hiến pháp, khoản 3 điều 91 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ủy ban Thường vụ quốc hội có quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Một quy định trên văn bản cao nhất của một quốc gia, nhưng tfrên thực tế, Uỷ ban thường vụ quốc hội lại không sử dụng hay thực hiện quyền này nhiuề, mà nhu cầu giải thích thì rất lớn, vì các các văn bản lập páhp do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước ta ban hành thường mang tính chung chung, hiến chương,”biểu ngữ”, mà tính quy phạm, thực tế thì lại không cao.

    Việc Uỷ ban thường vụ quốc hội không thực hiện nhiuề quyền này vì với tư cách là một cơ quan thường trực của Quốc Hội không chuyên trách , nên phảo thực hiện nhiều việc quan trong hơn. Hơn thế nữa, chính uỷ ban thường vụ quốc hội là một bộ pậhn giữ vai trò rất lớn trong việc thong qua luật, dặc biệt là có quyền ban hành các phá lệnh, vì vậy, hoạt động giải thích pháp luật của quốc hội sẽ có khi lại là” do mình làm, thì đã rồi, còn giải thích chi nữa”.

    Nếu Uỷ ban thường vụ quốc hội không đảm bảo việc giải thích pháp luật của mình theo quy định, thì một điều ngược lại đã xảy ra đối với hoạt động giải thíhc páhp luật của các cơ quan hành chính. Ở nước ta, các cơ quan hành chính thực hiện hoạt động giaỉ thích pháp luật là nhiuề nhất hơn cả cơ quan tư pháp là toà án. Các cơ quan hành chính ở Việt Nam, bên cạnh việc thực hiện chức năng do cơ quan lập páhp giao, đặc biết là tront vấn đề mà các luật mang tình khát quát, chung chung, trừu tượng không đáp ứng kịp thời các quan hệ xã hội, và thực tiễn, bên cạnh việc thực hiện ra các quy định chi tiết hóa các quy định đó theo uỷ quyền, thì các cơ quan hành chính này lại lấn sang cả vấn đề “làm luật”, hay giải thích luật vựot quá uỷ quyền, đó là việc ban hành các quy định để định nghĩa các khái niệm.

    Điều này còn dẫn tới một tình trạng không mong muốn đã xảy ra là, luật, pháp lệnh được ban hành nhưng không có hiệu lực trực tiếp, mà phải chờ và thực hiện theo những khía niệm, định nghĩa, và hướng dẫn do các cơ quan hánh chính ban hành hướng dẫn. Các đạo luậtt đã không còn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp luật, mà thay vào đó là một đời sống pháp luật nghị định và thông tư.

    Có thể nói rằng, hoật động giải thích pháp luật bất cập nhất ở Việt Nam hiện nay, là không có một quy định cụ thể, rõ rang, trong việc trao thẩm quyền giải thích páhp lậut cho Toà àn trong Hiến pháp cũng như các đạo luật. Ở hầu hết các nước trên thế giới, cũng như trong tư tưởng lập pháp ở Việt Nam điều luôn công nhận và xem hoạt động giaỉ thích páhp luậtt do toà án thực hiện là chính và chủ đạo, tuy nhiên đĩều đó cũng không có nghĩa là không cò một quy định cho thẩm quyền này của toà án.

    Toà án bất cứ nơi đâu và khi nào, từ khi ra đời đã là một thiết chế giữ vai trò bảo vệ pháp lậut , và vì công lý, vì vậy, trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Toà án là một hiển nhiên, và còn cũng cố hôn cho điều này trên các lý do:

    Thứ nhất, so với lập pháp và hành pháp thì tư páhp được thành lập và hoạt động độc lập với đời sống chính trị cao hơn. Sự độc lập này là dặc trưng của toà án để bảo vệ công lý . Toà án với tư cách là trọng tài, sẽ thực hiện việc giải thích pháp luật, phán xét theo pháp luật cộng bằng và hợp lý hơn;

    Thứ hai, các quy phạm pháp luật thường khó hiểu đối với những người dân bình thường, và có khi là ngay cả những ngưòi nghiên cứu pháp luật, nên muốn làm rõ nội dung, tư tưởng của các quy phạm đó phaỉ có chuyện môn, về lý luận, cũng như về thực tiễn. Điều này sẽ được đảm bảo, vì các Thẩm phán là những người được đào tạo chuyên môn, và là những người hoật động lâu năm trong công tác pháp luật và công tác xét xử, do đó sẽ giải thích pháp luật đúng và phù hợp nhất với yêu cầu;

    Thứ ba, chân lý là cái gì đó cụ thể vào thực tiễn, chứ không phaỉ là cái mơ hồ, xa vời. Toà án với việc giaỉ quyết mỗi vụ án hằng ngày trong thực tiễn , nên dễ đáp ứng yêu cầu này thì toà án là cơ quan tốt nhất phải được trao quyền giải thích pháp luật;

    Thứ tư, Toà án so với cơ quan lập pháp (Quốc hội, và Uỷ ban thường vụ quốc hội) và cơ quan hành pháp ít có nguy cơ lạm dụng quyền hơn. Mà giải thích pháp luật thường sinh ra lạm quyền, cắt xắn, hạn chế quyền tự do của con người, và công dân. Do đó, trao giải thích pháp luật cho Toà án là cách để giữ gìn cán cân công lý, và sẽ được người dân chấp nhận nhất.

    3.2.Việc Công khai các bản án ở Việt Nam hiện nay:

    Việt Nam chúng ta đang tiến hành thực hiện chiến lước cải cách tư pháp, trong đo vấn đề minh bạch hoá trong hoạt động tư pháp , tạo long tin cho người dân vào cac phán xét của toà án là một chiến lước quan trong. Việc minh bach hoá, và tạo long tin cho người dân không có gì là tốt hơn khi ta tiến hành hoạt động công khai các bản an, tuy rằng cũng cần phảicó những bản án không được công khai như các vấn đề về “an ninh quốc gia” , hay thuần phong mỹ tục”.

    Theo quy định tại điều 131 Hiến pháp 1992 thì” việc xét xử của toà án được tiến hành công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục dân tộc…thì toà án sẽ xét xử kín”. Và sau khi tuyên án, bản án phaỉ được gởi cho các đương sự, viện kiểm sát… Đó là các quy định của pháp lậut trong việc sông khai cac quyết dinhị tư páhp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với các chủ thể khác mà páhp lậut không quy định toà án pahỉ cung cấp các bản án cho họ, thì đã nảy sinh ra nhiều hạn chế, nhất là đối với các nhà nghiên cứu, các luật sư, và những người muốn tham khảo các bản án đó để phục vụ cho công tác nghiên cứu, nhưng đồng thời đó cũng là một cách nâng cao hiểu biết cho mọi người về thực tiễn xét xử.

    Những năm gần đây, toà án nhân dân tối cao ở nước ta đã chọn lọc và công bố được một số quyết định giám đổc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong năm 2003 và 2004, tuy nhiên, đêìu này cũng không có nghĩa đã đáp ứng được các như cầu của mọi ngưòi trong việc khi có nhu cầu thì có thể cập nhật dễ dàng và tìm kiếm một cách đơn giản.

    Do đó, cần có việc côngkhai các bản án dưới các hình thức là các tập bản án hay ít ra là cac cơ sở dữ liệu của các bản án đảm bào cho người dân truy cập tìm kiếm.

    3.3. Giải thích pháp luật và việc tạo ra án lệ:

    Trong nhiều trường hợp, luật làm ra không được khúc chiết, rò ràng gây ra những khó khăn trong vấn đề áp dụng . Muốn hiểu rõ ý định của các nhà lập pháp hoặc là tầm mức hiệu lực của các tập quán, cần phải có một sự giải thích về những điều luật , những tập quán chưa rõ hoặc tối nghĩa đó. Và như lệ thường, toà án sẽ đảm trách việc giải thích pháp luật trong khi xét xử các vụ kiện mỗi khi gặp phaỉ một điều luật tối nghĩa, hoặc khi các điều luật mâu thuẫn nhau, hoặc khi các tập quán không được rõ ràng. Chình đường lối giải thích và áp dụng luật páhp của toà án cho một sự kinệ páhp lý , nếu ở các nước thong luật, sẽ được xem là một án lệ, và án lệ này sẽ được đối chiếu áp dụng cho các trường hợp tương tự sau.

    Ở Việt Nam , vấn đề giải thích pháp luật như trên, không phaỉ và đã chưa tạo ra án lệ. Vì án lệ còn cần nhiều điều kiện khác, như sự công nhận của nhà nước và án lệ, như bản án cảu toà án nào thì được xuất bản trong tập án lệ, và nội dung bản án đó phaỉ lien quan đến vấn đề páhp luật trong một vụ việc cụ thể;… Và Việt Nam đã không công nhận án lệ là một nguồn luật trong hệ thống páhp luật. Dù rằng có quan điểm cho rằng, Việt Nam có án lệ, và đã công nhận án lệ, như theo quy định tại điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật…”. Việc thừa nhận áp dụng tập quán và áp dụng quy định tương tự của pháp luật không có nghĩa, hay đồng nghĩa với việc Việt Nam thừa nhận áp dụng án lệ, vì tập quán không là án lệ; và ap dụng quy định tương tự của pháp luật càng không phải là án lệ- mục tiêu của áp dụng páhp luật tương tự là đi tìm các quy phạm chứa giả định tương tự sự kinệ xảy ra để giải quyết nó bằng các quy phạm đó, còn mục tiêu của vịêc áp dụng tiền lệ pháp (án lệ) là đi tìm các vụ án bằng cách so sánh các tình tiết vụ án nới những sự kiện đã xảy ra, nếu có sự tương tự giữa hai vụ án đó, thì se áp dụng pháp quyết của vụ án trước cho vụ án sau.

    Như vậy, vậy giág thích pháp luật ở Việt Nam không tạo ra án lệ, và Việt Nam cũng không có án lệ trong hệ thống páhp luật.

    ngotungan1989@gmail.com

    When you cant be by my side...you are in my heart...

     
    Báo quản trị |  
  • #77872   08/01/2011

    Unjustice
    Unjustice
    Top 50
    Lớp 10

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/06/2010
    Tổng số bài viết (1342)
    Số điểm: 14949
    Cảm ơn: 152
    Được cảm ơn 1047 lần


    Sưu tầm được bài viết của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, gửi cho các bạn học phần lý luận pháp luật tham khảo. Đây là phần nội dung mới thường được các thầy cô cho thi (Vừa rồi mình gặp phải câu hỏi như thế này. Tại sao UBTVQH chưa chấp thuận đề nghị cho áp dụng nguyên tắc tiền lệ pháp vào hoạt động xét xử ở VN)

    #ff0000;">LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Công ty Luật hợp danh D.C

    Nguồn gốc và ý nghĩa của án lệ

    Án lệ là một từ ngữ được đưa ra vào khoảng năm 1960 tại miền Nam Việt Nam (giáo sư Vũ Văn Mẫu) khi tiếng Việt bắt đầu được dùng để dạy học tại Trường Luật Saigon.

    Trong tiếng Anh nó là “precedent”, nghĩa là tiền lệ; còn trong tiếng Pháp nó là “jurisprudence”, là một sự tập hợp các phán quyết của các tòa án. Trong bối cảnh chung lúc đó, danh từ “án lệ” được dùng cho “jurisprudence” và được tác giả giải nghĩa là “đường lối giải thích và áp dụng dạng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý đã được coi như thành một lệ khiến các thẩm phán có thể noi theo đó mà xét xử trong các trường hợp tương tự”.

    Tuy nhiên, dù là “tiền lệ” hay “tập hợp” thì các bản án đều là chung thẩm; nghĩa là đã được các bên tranh chấp nhìn nhận và thi hành. Để hiểu đúng về “án lệ”, chúng ta sẽ xem xét nó trong khuôn khổ của hệ thống Thông luật của các nước Anglo-Saxon, tiêu biểu là Anh và Mỹ và hệ thống Dân luật của các nước Âu châu, tiêu biểu là Pháp.

    Thông luật bắt đầu ở Anh, khoảng thế kỷ 13; còn Dân luật, bắt đầu từ thời La Mã cổ đại, nhưng trở thành hệ thống quy củ thì phải đến đầu thế kỷ 19 ở Pháp. Hai cái này cách nhau sáu thế kỷ và chúng cho ta thấy sự tiến hóa của loài người về tri thức trong lĩnh vực luật pháp. Lịch sử cho thấy, luật pháp – ý chí của nhà cầm quyền – chỉ thể hiện khi trong xã hội có sự tranh chấp. Thật vậy, khi người dân tranh chấp với nhau, họ đến chính quyền để nhờ phân giải. Khi ấy, chính quyền ra quyết định dựa trên một cơ sở nào đó.

    Vậy thì vào thế kỷ thứ 13, luật pháp thành văn chưa có ở Anh; tranh chấp của công dân được đưa ra trước quan chưởng lý (chancellor) của triều đình. Vị này đã dựa trên tập tục, luân lý, đạo đức đang được tuân giữ trong địa phương có liên quan để xem xét sự tranh chấp và tuyên bố bản án. Để độc giả dễ hiểu tôi xin lấy thí dụ bây giờ để mô tả chuyện ngày xưa. Trước năm 2005 ở ta không có luật về chơi hụi (họ, biêu, phường), tuy nhiên trong cuộc sống người ta chơi hụi rất nhiều; vì đó là nhu cầu giúp đỡ nhau khi có người cần tiền. Khi chơi hụi, các người chơi đều biết các quy định và họ tuân giữ. Thí dụ hốt hụi, giật hụi. Đó là tập tục có sẵn trong xã hội; ở bên Anh người ta gọi là luật chung (common law). Trở lại thế kỷ 13 ở Anh, có hai người đến tòa thưa nhau về tội giật hụi. Quan tòa sẽ xem xét nội vụ và ra bản án trong đó viết là “trong tập tục chơi hụi, người nào đã hốt hụi rồi thì sau đó phải đóng đủ cho chủ hụi cho đến khi người cuối cùng đã hốt hụi chót. Bị đơn đã không làm như thế, nay tòa buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn X đồng, kèm với tiền lãi và tiền phạt”. Ta thấy, quy định về giật hụi đã có sẵn; nay tòa lấy ra và tuyên bố nó cho mọi người. Người ta gọi đó “luật do tòa quyết định” (decisional law). Trong hệ thống Thông luật, tòa án làm ra luật, bằng cách nêu lên hay tuyên bố luật chung đã có sẵn trong xã hội. Vậy là xong vụ tranh chấp thứ nhất. Lần sau, tại địa phương khác, có người cũng thưa nhau về giật hụi nữa; vị chưởng lý sẽ lấy bản án cũ ra áp dụng. Thật là thuận tiện và “chắc cú”. Và bản án trước trở thành “tiền lệ” cho bản án sau. Nguyên tắc tiền lệ trong Thông luật có nguồn gốc như thế. Có thể lúc đầu áp dụng tiền lệ là một sự thuận tiện cho thẩm phán; nhưng về sau – vô tình – nó giúp thống nhất hóa quan điểm xét xử trong những vụ án có những tình tiết giống nhau. Đi xa hơn nữa về sau này nguyên tắc ấy trở thành một mối lợi cho người dân mà chúng tôi sẽ đề cập.

    Về sau, xã hội nước Anh phát triển, các vụ tranh chấp xảy ra nhiều, hệ thống tòa án mở rộng, người ta vẫn áp dụng tiền lệ vì đó là cốt tủy của hệ thống. Tuy nhiên, khi có một vụ có cùng tên nhưng có tình tiết mới, hoặc khi có chính sách mới hay nhu cầu mới… các quan tòa có quyền “tuyên bố luật mới”; tức là xóa bỏ tiền lệ cũ và thiết lập một tiền lệ mới. Nhờ vậy – theo nhận xét của các học giả – hệ thống Thông luật có khả năng đáp ứng tình hình mới nhanh hơn hệ thống Dân luật.

    Việc bãi bỏ một tiền lệ cũ để lập ra một tiền lệ diễn ra khi thẩm phán chủ tọa viết bản án cho một vụ mới và dĩ nhiên việc ấy chỉ có thể làm sau khi có tranh luận giữa các bên tranh chấp, và luật sư của họ. Thẩm phán chủ tọa được tự do lập nên tiền lệ mới; bao lâu lập luận của họ thuyết phục đa số các phụ thẩm trước khi tuyên án (và người phản đối có thể bảo lưu ý kiến của họ ở dưới bản án) và các bên tranh chấp thi hành. Việc xóa bỏ tiền lệ cũ, lập nên tiền lệ mới trong hệ thống Thông luật nằm ở tài ba của thẩm phán và điều đó được chứng tỏ qua các bản án phổ biến công khai. Ở Anh và Mỹ có nhiều thẩm phán nổi tiếng nhờ các bản án họ viết nhằm giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong xã hội.

    Hệ thống Dân luật không làm như thế.

    Dân luật quy củ đi sau Thông luật sáu thế kỷ, các luật gia thiết lập hệ thống, tiêu biểu là Bộ Dân luật thời Napoleon năm 1804, đã có thời gian thu thập kinh nghiệm loài người và đưa chúng vào một sự hợp lý khi áp dụng. Cho nên, ở trong hệ thống Dân luật, mọi sự phải hợp lý. Thí dụ, phải là thương nhân thì mới được thực hiện hành vi thương mại, hay phải là công ty cổ phần mới được niêm yết.

    Trong hệ thống này, khi xét xử, thẩm phán phải dựa trên luật đã được ban hành chứ không dựa trên tiền lệ. Tuy nhiên, luật không thể bao quát hết mọi trường hợp tranh chấp; nên khi áp luật vào một sự kiện nhất định; nếu luật rõ ràng thì thôi, còn không thì thẩm phán phải giải thích luật rồi mới dựa trên đó để tuyên án. Các bản án chung thẩm được tòa án tập hợp lại để thành “jurisprudence”. Trong “tập hợp” này có những bản án giải thích các điều luật nhất định, trong dân luật, trong hình luật. Biết được một điều luật được tòa phúc thẩm giải thích như thế nào là điều cần thiết cho thẩm phán và luật sư để chắc ăn và dễ xong việc. Bởi vậy, từ năm 1845 anh em nhà ông Dalloz chọn ra các bản án “giải thích hay” ghi lại trong các tập sách rồi xuất bản; tạo nên các tập sách gọi là Recueil Dalloz. Các luật sư ở miền Nam Việt Nam trước 1975, gọi các quyển này là án lệ, vì luật của miền Nam Việt Nam thoát thai từ luật của Pháp. Tất nhiên vào thời đó cũng đã có các bản sưu tập của tòa án Việt Nam.

    Vậy là án lệ trong hệ thống Dân luật là sự giải thích các điều luật nhất định và đại đa số của chúng nằm trong các bản án chung thẩm của các tòa phúc thẩm. Trong hệ thống tòa án hai cấp của hệ thống Dân luật – khác hẳn với của ta – quan điểm của tòa trên ràng buộc tòa dưới vì người ta đặt một điểm dừng cho sự tìm kiếm công lý. Trong thủ tục xét xử, bản án của tòa sơ thẩm thường bị các bên liên quan xin phúc thẩm; cho nên dẫu tòa sơ thẩm không bị buộc phải theo án lệ; nhưng nếu có một bản án bị kháng cáo, trong đó có một điều luật nhất định đã được tòa trên giải thích mà thẩm phán tòa dưới không theo, thì bản án ấy sẽ bị bác. Vì thế dù không bị bắt buộc thì thẩm phán tòa sơ thẩm – vì sự khôn ngoan – vẫn sẽ áp dụng án lệ. Sự ràng buộc của án lệ trong hệ thống Dân luật là như thế.

    Vậy trong hệ thống này các điều luật – quy phạm pháp luật thành văn – là nền tảng để xét xử, nhưng người ta vẫn tôn trọng án lệ. Và khi có một điều luật mới thì thẩm phán không áp dụng “sự giải thích đang có” nữa mà áp dụng luật mới, tòa trên không bác bỏ được. Sự tương thích giữa án lệ và điều luật thành văn là như thế.

    Về việc giải thích luật pháp, thẩm phán sẽ chọn các cách khác nhau: ý chí của Quốc hội khi ban hành luật liên quan; các sự nghiên cứu của các học giả, gọi là các học thuyết và theo chính sách của chính quyền. Thành thử để phục vụ lợi ích xã hội – thể hiện qua vụ án đang xử lý – thẩm phán chọn cách giải thích điều luật; với điều kiện là lý lẽ đưa ra thuyết phục được các bên có liên quan.

    Tương tự như hệ thống Thông luật, các bản án được phổ biến công khai và khi đã trở thành chung thẩm thì dù đương sự không đồng ý thì cũng phải thi hành. Trong cả hai hệ thống, việc lập nên hay xóa bỏ án lệ là việc nội bộ của tòa án; tòa trên làm, tòa dưới áp dụng và các bên tranh chấp phải thi hành; vì tòa án là uy quyền của quốc gia. Và quan trọng hơn là ngành tư pháp độc lập.

    Với quá trình như thế, ngày nay, người ta thấy án lệ có hai vai trò chính. Một là làm cho luật pháp, vốn là những ngôn từ nằm trên giấy, đáp ứng với các đòi hỏi của cuộc sống và khai mở những hướng phát triển mới cho xã hội. Thí dụ án lệ của điều luật về lỗi trong Bộ Dân luật Pháp (Điều 1382) năm 1804 đã khai mở ra ngành bảo hiểm xe cộ ở Pháp trong những năm 1930. Hai là, nó giúp cho người dân tiên đoán được; nếu họ định làm gì thì hậu quả sẽ có thể như thế nào thì có thể tìm thấy trong án lệ (nghe nói, hay được tư vấn); nhờ đó họ thấy cuộc sống mình ổn định. Ổn định trong tâm lý là một điều cực kỳ quan trọng cho nền kinh tế quốc gia và an ninh xã hội. Đấy là hai hệ quả mà người đặt ra tiền lệ hay án lệ khó lòng nghĩ ra khi bắt đầu làm; lúc ấy họ chỉ thấy là thuận tiện, chắc ăn; rồi sau đó thấy là thống nhất hóa được quan điểm xét xử.

    Sự nhìn nhận án lệ ở ta

    Bây giờ chúng ta mới chính thức bàn chuyện du nhập án lệ mà thế giới đã có cả trăm năm! Điều này dễ hiểu vì hệ thống tư pháp của chúng ta được thiết lập theo quan niệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ Liên Xô. Nay, khi muốn du nhập định chế kia, chúng ta thấy gì từ phía những người có trách nhiệm quyết định? Xin điểm lại một vài ý kiến đã được nêu trên báo.

    Ý kiến thứ nhất của bộ phận đề nghị,  nói- đại ý – là án lệ không làm giảm sút quyền lực của cơ quan tư pháp, mà lại tạo sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế để lựa chọn tài phán tại Việt Nam, tạo niềm tin về tính minh bạch công khai của hệ thống tòa án. Nội dung đầu của ý kiến này đúng; nhưng các ý sau cho thấy vai trò của tòa án và của luật pháp đối với lợi ích của người dân chưa được thấu hiểu. Thảo nào Ủy ban Pháp luật của Quốc hội bác án lệ!

    Ý kiến thứ hai nói- đại ý – rằng ở ta luật pháp luôn luôn thay đổi nên không thể lấy bản án trước áp dụng cho bản án sau được. Ví dụ, những năm 1970 chỉ ăn trộm vài chục mét dây điện có thể bị xử tử hình nhưng nay thì đã khác. Ý kiến này trình bày đúng sự kiện, nhưng không biết một điều quan trọng là hệ thống luật pháp của ta xử theo điều luật, do đó có thể áp dụng án lệ theo cách của Pháp.

    Ý kiến thứ ba nói rằng đưa án lệ vào xét xử hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam, vì hệ thống pháp luật không ngừng thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn nên trong từng giai đoạn cụ thể thì chính sách pháp luật không hoàn toàn giống nhau. Người Việt Nam thì cũng là người, tại sao án lệ phù hợp với người ở những nước khác thì lại không phù hợp với người Việt Nam? Đại khái là cũng chưa biết đủ, giống như ý kiến ở trên.

    Ý kiến thứ tư nói rằng một bản án được coi là án lệ phải được thông qua trình tự, thủ tục công nhận, và do cơ quan có thẩm quyền công nhận theo luật định chứ không phải bất kỳ bản án nào của tòa án cấp trên cũng được coi là án lệ và buộc tòa án cấp dưới phải tham khảo khi tiến hành xét xử. Ngoài ra, dự thảo luật cũng chưa làm rõ được khái niệm “án lệ”, trường hợp nào áp dụng án lệ, mối quan hệ giữa án lệ và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Nội dung sau của ý kiến này đúng; nhưng nội dung trước thì… khỏi nói!

    Cuối cùng có ý kiến nói rằng những năm 1990 ở Đông Âu cũng có phong trào đưa án lệ vào nhưng không thật sự thành công vì với hệ thống pháp luật thành văn thì nó khó dung nạp án lệ. Hơn nữa, về án lệ thì không có nghĩa cứ thấy người ta làm là làm vì nó còn phải phù hợp với trình độ thẩm phán, với văn hóa pháp đình, với hệ thống pháp luật thành văn của ta. Nội dung sau của ý kiến này đúng vì muốn áp dụng án lệ phải có các điều kiện tiên quyết; nhưng không biết các nước đã có phong trào đưa án lệ vào hệ thống tư pháp của họ có phân biệt sự khác nhau giữa án lệ của hệ thống Thông luật và Dân luật không?

    Sau những ý kiến “nặng ký” trên thì Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý với đề nghị của Ủy ban Tư pháp cho rằng tại thời điểm hiện nay chưa nên áp dụng án lệ trong công tác xét xử của tòa án mà cần tiếp tục nghiên cứu để xem xét khi sửa đổi Hiến pháp, luật tổ chức Tòa án Nhân dân và khi tiến hành sửa đổi toàn diện luật Tố tụng Dân sự.

    Nhận định

    Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không có gì đáng nói. Vì thực sự muốn tạo nên án lệ rồi áp dụng chúng thì phải có các điều kiện tiên quyết mà hiện nay ta chưa có. Một là trình độ thẩm phán và các biện pháp kích thích họ. Hai, sự hỗ trợ của kiểm sát viên cũng như của luật sư và – quan trọng hơn – sự nhìn nhận của thẩm phán đối với vai trò của luật sư. Ba, điều quan trọng nhất, mà hiện nay ta không chấp nhận, là việc đi tìm công lý phải có điểm dừng. Điều này đòi hỏi: việc đánh giá chứng cứ phải được ấn định lại; quan điểm của tòa án trên sẽ ràng buộc tòa án cấp dưới dựa trên sự kinh nghiệm và thâm niên của thẩm phán tòa trên; và việc phân chia tòa án theo khu vực địa lý chứ không theo đơn vị hành chính khiến cho tòa án tỉnh không còn là tòa phúc thẩm của tòa án quận, mà phải là tòa phúc thẩm khu vực. Tuy vậy, dựa trên kinh nghiệm phải có chiến tranh du kích thì mới có chiến tranh tổng lực – có nên nhìn nhận án lệ ngay từ bây giờ không?

    Dẫu vậy, trong sự kiện này có hai điều đáng tiếc. Một là các viện nghiên cứu của Bộ Tư pháp, của tòa án và của Quốc hội, họ đã làm gì để cho tòa án trình bày đề nghị một cách thiếu sót như thế; họ đã trình bày thế nào để các vị trong Ủy ban Pháp luật đưa ra những ý kiến như vậy? Vậy họ đang làm gì trong công cuộc cải tổ tư pháp hiện nay? Mới bước đầu tiên mà đã thất bại rồi!

    Hai là, sự hiểu biết của các vị có trách nhiệm về một định chế đã tồn tại từ lâu trên thế giới khiến tạo ra câu hỏi: làm sao chúng ta hội nhập với thế giới? Hệ thống tòa án của chúng ta sẽ được các nhà nghiên cứu nước ngoài nhận định như thế nào khi mà các ý kiến nặng ký ở trên đến tai họ?

    Luật được sinh ra để phục vụ con người chứ không phải để cai trị.

     
    Báo quản trị |  
  • #80469   21/01/2011

    tienanh152
    tienanh152

    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:13/01/2011
    Tổng số bài viết (5)
    Số điểm: 145
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 0 lần


    Theo mình thì ở nước ta chưa thể áp dụng được điều này.

    Bộ luật của ta còn chưa chuẩn mà. Vẫn còn phải sửa đổi. Đâu có như Mỹ hay các nước khác bộ luật của họ đã gần như là chuẩn và rất hiếm phải thay đổi mà chỉ có là bổ sung thêm cho điều luật càng ngày càng chặt chẽ mà thôi.
     
    Báo quản trị |  
  • #81893   10/02/2011

    tonytony
    tonytony

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:17/12/2010
    Tổng số bài viết (16)
    Số điểm: 107
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Ý kiến của mình thế này :

    1. Bản chất của Nhà nước là Luật pháp và ngược lại, vậy áp dụng Án lệ vào VN hiện nay được hay không, các bạn tự đã có câu trả lời.

    Nên hiểu : trong hệ thống án lệ, 1 thẩm phán tiểu bang tương đương với một hạ nghị sĩ (như tại Mỹ) - quyền lực không phải đùa.

    2. Điều 5 trong Bộ Luật cổ Hammourabie của người Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) nói rằng: “Nếu quan toà, do thiếu công minh hoặc kém khả năng mà xử án sai thì sẽ bị phạt số tiền gấp 12 lần nguyên án và bị cách chức vĩnh viễn”. Bộ luật đó được làm ra trong khoảng thời gian từ 1792-1750 tr.CN – cách đây gần 3.800 năm.

    Bộ Luật này là Luật cổ đại, đầu tiên, xa xưa nhất trên thế giới, được khắc trên các phiến đá, và hiện đang được trưng bày tại bảo tàng Paris.

    Suy ra : Trong bất kỳ thể chế nào, áp dụng loại luật lệ nào thì : sự minh bạch, công bằng của quan tòa được đặt lên cao nhất, không ai tác động được. Và quan tòa sai, vẫn bị xử như thường.

    Thực tế VN, tòa xử sai, xin lỗi, đền bù là xong, bất chấp khoảng tuổi xuân con người bị giam cầm, và thậm chí quan tòa còn bị tác động (...)

    3. Kết hợp điều 2 và 3 thì : Thể chế chưa phù hợp + đạo đức quan tòa còn (...) thì án lệ hay văn bản quy phạm pháp luật cũng thế thôi.

    4. Nói đến đây, các vị LS đừng quá phản bác, bởi : LS hiện nay ở VN sau khi tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ hành nghề thì họ lo cho thân chủ, miếng cơm manh áo mà thôi.

    Chứ nói trách nhiệm để lên tiếng nói góp ý, phản biện, xây dựng hệ thống Luật cho các cơ quan VN thì ... còn khuya lắm (vì sao họ không dám nói, phê bình thì các bạn cũng tự hiểu rồi)

    Bằng chứng : 1 năm bao nhiêu LS tốt nghiệp, rồi cấp chứng chỉ để vào Viện KS, hay Tòa án mà công tác để góp phần xây dựng hệ thống Luật của VN hay lo ra ngoài mở VP cho nó nhanh.

    5. Bổ sung thêm : Thời nhà Tống (một triều đình phong kiến Trung Hoa), Bao Thanh Thiên áp dụng loại luật gì (chắc chắn rằng thời đó Luật chẳng hiện đại, lắm học thuyết như bây giờ), mà xử án như thần - trong như nước, sáng như gương - để nói đến đạo đức, phẩm chất, năng lực quan tòa.

    Thế nhé, cuối cùng nói như Trịnh : giấc mơ là rất đẹp nhưng nó cũng chỉ mãi là giấc mơ.

    Cập nhật bởi tonytony ngày 10/02/2011 06:54:27 PM
     
    Báo quản trị |  
  • #350714   17/10/2014

    Mình có ý kiến là bạn nói chưa co luật thì lây đâu ra án lệ: nên nhớ rang án lệ chỉ ra đời khi văn bản qppl o quy định hoặc quy đinh ko rõ ràng chứ không phải có luật mới có an lê

     

     
    Báo quản trị |  

0 Thành viên đang online
-