Ai là người ký hợp đồng lao động với Giám đốc chi nhánh

Chủ đề   RSS   
  • #396802 18/08/2015

    minhnguyet61190

    Female
    Sơ sinh

    Đà Nẵng, Việt Nam
    Tham gia:29/07/2015
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 400
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 0 lần


    Ai là người ký hợp đồng lao động với Giám đốc chi nhánh

    Chào luật sư

    Cho tôi hỏi trong công ty TNHH thì ai là người ký hợp đồng với Giám đốc chi nhánh ạ

    Thanks 

     
    18357 | Báo quản trị |  

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

2 Trang <12
Thảo luận
  • #397512   25/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


    Chào bạn.

    Trừ ban kiểm soát, tổ chức của doanh nghiệp thường bao gồm 3 thành phần: Chủ sở hữu, quản trị, điều hành.

    Tuỳ theo quy mô mà doanh nghiệp có thể có đủ 3 bộ phận hoặc chỉ có 2 hoặc 1 (3 trong 1). Ví dụ:

    -DNTN: có 1 bộ máy thực hiện cả 3 nhiệm vụ của chủ sở hữu, quản trị và điều hành.

    -Cty TNHH: chủ sở hữu và quản trị thành 1 là HĐTV và điều hành là Giám đốc (tổng giám đốc); 

    - Cty Cổ phần thường tách bạch 3 bộ phận: Chủ sở hữu (Đại hội đồng cổ động); quản trị (HĐQT) và điều hành (giám đốc). Nếu quy mô nhỏ thì chủ sở hữu và quản trị là 1. 

    Để bảo đảm quyền lợi cho người chủ sở hữu, cho hoạt động của DN được hiệu quả thì bộ máy của công ty phải gọn nhẹ và phân công rành mạch, rõ ràng để tránh bị chồng chéo, dể phân định trách nhiệm khi gây thiệt hại.

    Việc phân định chức năng quyền hạn phải được quy định rõ ràng trong điều lệ và quy chế nội bộ của công ty như quy chế tổ chức hoạt động của HĐQT và chủ tịch HĐQT; quy chế tổ chức hoạt động của ban giám đốc và giám đốc; quy chế tổ chức và hoạt động của các phòng, bạn).

    Khi điều lệ và quy chế nội bộ quy định thẩm quyền thuộc về ai thì chỉ người đó mới có quyền thực hiện và quyết định. Thực hiện không đúng quyền hạn và nghĩa vụ là vi phạm, nếu gây thiệt hại phải bồi thường.

    Tuy nhiên, khi thực hiện với những đối tác bên ngoài công ty thì phải thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật: người ngoài họ không cần biết ai là chủ, ai là chủ tịch, ai là giám đốc...mà chỉ cần biết ai là người đại diện cho doanh nghiệp ghi trên giấy đăng ký kinh doanh (Doanh nghiệp); người đại diện cho doanh nghiệp phải là người đại diện theo pháp luật (thường là giám đốc hoặc chủ tịch HĐQT nếu điều lệ có quy định là chủ tịch) hoặc được người đại diện theo pháp luật uỷ quyền.

    Người đại diện theo pháp có thể là một hoặc một số người tuỳ theo điều lệ.

    Luật doanh nghiệp:

    Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

    1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

     

    Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật chỉ thực hiện công việc trong phạm được cho phép (đại diện), nên nếu việc đại diện của họ thực hiện công việc ngoài phạm vi quyền hạn của mình (giám đốc, Chủ tịch) thì phải có văn bản kèm theo của "người" có thẩm quyền quyết định đồng ý thực hiện: nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên.

    Tóm lại, phải thực hiện công việc đúng thẩm quyền được giao, nhưng đều thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc được người đại diện theo pháp luật uỷ quyền.

    HĐLĐ cũng như mọi hợp đồng khác đều do người đại diện theo pháp luật thực hiện; nếu vượt quá thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật (giám đốc, chủ tịch) thì phải có văn bản (quyết định, nghị quyết) của "người" có thẩm quyền đồng ý. 

     Đối với ý kiến của bạn:

    (Nhân tiện mình bàn luôn về Nghị định số 05 này nhé:

     
    Điều 3. Người giao kết hợp đồng lao động
    1. Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau: 
    a) Người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã; 
    b) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật; 
    c) Chủ hộ gia đình; 
    d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
     
    Doanh nghiệp là một tổ chức (tổ chức kinh tế), chiếu theo Nghị định này thì người giao kết hợp đồng của doanh nghiệp không chỉ là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b).

    Theo tôi thì bạn hiểu như vậy là chưa chính xác vì cần phân biệt chủ thể thường và chủ thể đặc biệt khi áp dụng pháp luật:

    Tổ chức có thể là tổ chức hành chính; tổ chức chính trị; tổ chức xã hội; tổ chức nghề nghiệp; tổ chức kinh tế...

    Theo luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng là một tổ chức nhưng có đặc điểm riêng:

    Điều 4. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    7. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

    Như vậy theo quy định của luật DN thì DN là một chủ thể riêng biệt được điều chỉnh riêng thì phải áp dụng quy định riêng biệt chứ không được tuỳ nghi như bạn nghĩ "là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b)."

    Trong doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu nên không thể tuỳ tiện áp dụng như ý kiến của bạn.

     
    Báo quản trị |  
  • #397549   25/08/2015

    huannguyen90
    huannguyen90
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:05/06/2014
    Tổng số bài viết (101)
    Số điểm: 1099
    Cảm ơn: 17
    Được cảm ơn 29 lần


    hungmaiusa viết:

     

    Doanh nghiệp là một tổ chức (tổ chức kinh tế), chiếu theo Nghị định này thì người giao kết hợp đồng của doanh nghiệp không chỉ là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b).

    Theo tôi thì bạn hiểu như vậy là chưa chính xác vì cần phân biệt chủ thể thường và chủ thể đặc biệt khi áp dụng pháp luật:

    Tổ chức có thể là tổ chức hành chính; tổ chức chính trị; tổ chức xã hội; tổ chức nghề nghiệp; tổ chức kinh tế...

    Theo luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng là một tổ chức nhưng có đặc điểm riêng:

    Điều 4. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    7. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

    Như vậy theo quy định của luật DN thì DN là một chủ thể riêng biệt được điều chỉnh riêng thì phải áp dụng quy định riêng biệt chứ không được tuỳ nghi như bạn nghĩ "là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b)."

    Trong doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu nên không thể tuỳ tiện áp dụng như ý kiến của bạn.


     

    Điều 56. Hội đồng thành viên

    1. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên công ty, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đ

    Solicitor

    luatgiatre90@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #397552   25/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


    huannguyen90 viết:

     

    hungmaiusa viết:

     

     

    Doanh nghiệp là một tổ chức (tổ chức kinh tế), chiếu theo Nghị định này thì người giao kết hợp đồng của doanh nghiệp không chỉ là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b).

    Theo tôi thì bạn hiểu như vậy là chưa chính xác vì cần phân biệt chủ thể thường và chủ thể đặc biệt khi áp dụng pháp luật:

    Tổ chức có thể là tổ chức hành chính; tổ chức chính trị; tổ chức xã hội; tổ chức nghề nghiệp; tổ chức kinh tế...

    Theo luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng là một tổ chức nhưng có đặc điểm riêng:

    Điều 4. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    7. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

    Như vậy theo quy định của luật DN thì DN là một chủ thể riêng biệt được điều chỉnh riêng thì phải áp dụng quy định riêng biệt chứ không được tuỳ nghi như bạn nghĩ "là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b)."

    Trong doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu nên không thể tuỳ tiện áp dụng như ý kiến của bạn.

     


     

     

    Điều 56. Hội đồng thành viên

    1. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên công ty, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đ

    Cơ quan cao nhất được quyết định nhưng không có nghĩa là được ký kết hợp đồng nhân danh công ty nếu không phải là người đại diện theo pháp luật.

     
    Báo quản trị |  
  • #397547   25/08/2015

    huannguyen90
    huannguyen90
    Top 500
    Male
    Chồi

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:05/06/2014
    Tổng số bài viết (101)
    Số điểm: 1099
    Cảm ơn: 17
    Được cảm ơn 29 lần


    Có gì đâu , trong nghị định 05 cũng đã quy định rõ thôi : 

    b) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật;  

    trong Công ty TNHH thì người đứng đầu là đại diện chủ sở hữu (HĐTV, chủ tịch công ty) => có thẩm quyền ký với giám đốc

    còn điều lệ quy định giám đốc là đại diện theo pháp luật thì giám đốc lại được kí với nhân viên 


    Trên đấy thấy có một số bạn tranh luận về căn cứ áp dụng luật chuyên ngành là luật lao động hay doanh nghiệp. Cái này phải tìm trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (80 hay 81 gì đó ) . và với quan hệ lao động thì không áp dụng luật lao động thì luật nào mới chuyên ngành / 

    Solicitor

    luatgiatre90@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #397551   25/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


     

    huannguyen90 viết:

     

    Có gì đâu , trong nghị định 05 cũng đã quy định rõ thôi : 

    b) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật;  

    trong Công ty TNHH thì người đứng đầu là đại diện chủ sở hữu (HĐTV, chủ tịch công ty) => có thẩm quyền ký với giám đốc

    còn điều lệ quy định giám đốc là đại diện theo pháp luật thì giám đốc lại được kí với nhân viên 


    Trên đấy thấy có một số bạn tranh luận về căn cứ áp dụng luật chuyên ngành là luật lao động hay doanh nghiệp. Cái này phải tìm trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (80 hay 81 gì đó ) . và với quan hệ lao động thì không áp dụng luật lao động thì luật nào mới chuyên ngành / 

     

     

    Trong doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu thì phải.

    Bạn nói "người đứng đầu là đại diện chủ sở hữu (HĐTV, chủ tịch công ty)" là quy định tại đâu?

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 25/08/2015 11:56:59 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #397594   25/08/2015

    Maiphuong5
    Maiphuong5
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:11/08/2010
    Tổng số bài viết (1612)
    Số điểm: 17756
    Cảm ơn: 1492
    Được cảm ơn 1497 lần


    Chào mọi người,

    bonnilinh viết:

    (Nhân tiện mình bàn luôn về Nghị định số 05 này nhé:

    Điều 3. Người giao kết hợp đồng lao động
    1. Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau: 
    a) Người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã; 
    b) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật; 
    c) Chủ hộ gia đình; 
    d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
    Doanh nghiệp là một tổ chức (tổ chức kinh tế), chiếu theo Nghị định này thì người giao kết hợp đồng của doanh nghiệp không chỉ là người đại diện theo pháp luật (điểm a) mà còn có thể là người đứng đầu (điểm b).
     
    Có gì chưa đúng mong bạn chỉ giúp mình.

    Trước hết, nói về cái "nhân tiện" bên trên để thấy bạn bonnilinh và một số bạn chưa rõ về thuật ngữ "người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, tổ chức".
    Sau đây là diễn giải của pháp luật về lao động, quy định tại gạch đầu dòng thứ 3, Điểm a) Khoản 1 Điều 14 Thông tư 30/2013 ngày 25/10/2013: "Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc người được người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ủy quyền đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có sử dụng lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động". Ngoài ra, tham chiếu thêm gạch đầu dòng thứ 4 (liên quan đến nước ngoài).
    Còn việc áp dụng luật chuyên ngành về lao động phải hiểu theo nghĩa rộng là "pháp luật chuyên về lĩnh vực lao động", vì thực tế ở VN áp dụng như thế (chứ kg hẳn là buộc phải quy định trong luật).
    Vậy ai hiểu sao thì cứ áp dụng, có tranh chấp thực tế thì mới rõ.
    Thân.
     

    Hope For The Best, But Prepare For The Worst !

     
    Báo quản trị |  
  • #397597   25/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


    Maiphuong5 viết:

    Chào mọi người,

    (trích)

    Còn việc áp dụng luật chuyên ngành về lao động phải hiểu theo nghĩa rộng là "pháp luật chuyên về lĩnh vực lao động", vì thực tế ở VN áp dụng như thế (chứ kg hẳn là buộc phải quy định trong luật).
    Vậy ai hiểu sao thì cứ áp dụng, có tranh chấp thực tế thì mới rõ.
    Thân.
     

    Chào bạn.

    Tôi thì ủng hộ ý kiến của bạn bonnilinh.

    Luật là luật, còn pháp luật là pháp luật vì pháp luật bao gồm luật và văn bản hướng dẫn.

    Khi luật (chuyên nhành) không có thì phải áp dụng luật khác để điều chỉnh hoặc luật chung (dân sự) để giải quyết.

    Nghị định, thông tư dù chuyên ngành thì cũng không thể cao hơn luật: đây là nguyên tắc áp dụng pháp luật.

    Tôi nghĩ là khi xét xử cũng không thể xử khác với lý do là: quy định là luật nhưng hiểu là pháp luật. Vì như thế là không có căn cứ mang tính tuỳ tiện.

    Thực tế hiện nay không ít xãy ra điều này nhưng sẽ dần khắc phục thôi để tránh tình trạng học một đàng, làm một nẻo hay nói vậy chứ không phải vậy.

    Trân trọng. 

     
    Báo quản trị |  
  • #397620   26/08/2015

    Chào anh chị hungmaiusa, huannguyen, Maiphuong5,

    Luật doanh nghiệp là luật ban hành để quy định về các hoạt động có liên quan của doanh nghiệp.
    Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù thì áp dụng quy định của Luật đó. 
    Luật chuyên ngành trong trường hợp này là BLLĐ. Nhưng BLLĐ không có quy định, cũng không có điều khoản giao Chính phủ quy định về "Người giao kết hợp đồng lao động".
    Như vậy không có quy định của luật chuyên ngành để xem xét ở đây.
    Quay trở lại Luật doanh nghiệp.
     
    Anh hungmaiusa đã đúng khi dẫn chính quy định của Luật doanh nghiệp làm căn cứ cho thảo luận. Anh dẫn:
    Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
    1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp
    Bonni đồng ý với anh ở quan điểm thống nhất rằng quyền ký kết là quyền được chủ sở hữu quy định (tại Điều lệ công ty), được người đại diện theo pháp luật thực hiện. Tuy nhiên: 
    – Trường hợp Điều lệ công ty không quy định người đại diện theo pháp luật có quyền ký kết (với Giám đốc chi nhánh), mà người đại diện theo pháp luật thực hiện ký kết (với Giám đốc chi nhánh), thì nhỡ hợp đồng vô hiệu thì sao?
     
    */ Người đứng đầu
    Luật doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu. 
    Tuy nhiên bonni nghĩ có thể quy định ai là người đứng đầu tại Điều lệ công ty.
    Còn nhiều khái niệm không có trong Luật nhưng thực tế vẫn đang 'bị' sử dụng, thí dụ như khái niệm Thủ trưởng đơn vị. 
    Luật doanh nghiệp không có khái niệm Thủ trưởng đơn vị, nhưng có nhiều quy định của pháp luật hiện nay quy định người có thẩm quyền trong một số thủ tục đối với doanh nghiệp là Thủ trưởng đơn vị. Vậy k hiểu căn cứ vào đâu để biết ai (chủ sở hữu, Chủ tịch, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hay một ai khác) là Thủ trưởng đơn vị?
     
    To anh chị Maiphuong5, hungmaiusa:
    Do điều khoản của Nghị định trên không phải là quy định của luật chuyên ngành, nên tạm gác lại việc thảo luận liên quan đến Điều 3 Nghị định hay khái niệm 'Người đứng đầu' nhé, vì thiết nghĩ k cần thiết, trừ khi ai chứng minh được điều khoản này là điều khoản được quy định tại luật hoặc được luật giao).
     
    Báo quản trị |  
  • #397621   26/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


     

    bonnilinh viết:

    Bonni đồng ý với anh ở quan điểm thống nhất rằng quyền ký kết là quyền được chủ sở hữu quy định (tại Điều lệ công ty), được người đại diện theo pháp luật thực hiện. Tuy nhiên: 

    Trường hợp Điều lệ công ty không quy định người đại diện theo pháp luật có quyền ký kết (với Giám đốc chi nhánh), mà người đại diện theo pháp luật thực hiện ký kết (với Giám đốc chi nhánh), thì nhỡ hợp đồng vô hiệu thì sao?
     
    */ Người đứng đầu
    Luật doanh nghiệp không có khái niệm người đứng đầu. 
    Tuy nhiên bonni nghĩ có thể quy định ai là người đứng đầu tại Điều lệ công ty.
    Còn nhiều khái niệm không có trong Luật nhưng thực tế vẫn đang 'bị' sử dụng, thí dụ như khái niệm Thủ trưởng đơn vị. 
    Luật doanh nghiệp không có khái niệm Thủ trưởng đơn vị, nhưng có nhiều quy định của pháp luật hiện nay quy định người có thẩm quyền trong một số thủ tục đối với doanh nghiệp là Thủ trưởng đơn vị. Vậy k hiểu căn cứ vào đâu để biết ai (chủ sở hữu, Chủ tịch, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hay một ai khác) là Thủ trưởng đơn vị?
     
    To anh chị Maiphuong5, hungmaiusa:
    Do điều khoản của Nghị định trên không phải là quy định của luật chuyên ngành, nên tạm gác lại việc thảo luận liên quan đến Điều 3 Nghị định hay khái niệm 'Người đứng đầu' nhé, vì thiết nghĩ k cần thiết, trừ khi ai chứng minh được điều khoản này là điều khoản được quy định tại luật hoặc được luật giao).

     

     

    Chào bạn.

    - "quy định người đại diện theo pháp luật có quyền ký kết (với Giám đốc chi nhánh)" là luật định chứ không phải là do điều lệ quy định hay không.

    - Điều 3 của nghị định Số 05/2015/NĐ-CP  ngày 12 tháng 01 năm 2015; NGHỊ ĐỊNH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao độncó nội dung không trái với các quy định của pháp luật hiện hành thì vì sao không có giá trị?

    - Nếu cho là không được giao cho chính phủ hướng dẫn nên không có giá trị là không có căn cứ vì luật không quy định như vậy. Vấn đề về "thủ trưởng đơn vị" do vượt quá nội dung chủ đề và không liên quan đến chủ đề nên không cần thiết tiếp tục thảo luận qúa rộng.

    Cập nhật bởi hungmaiusa ngày 26/08/2015 06:08:30 SA
     
    Báo quản trị |  
  • #397623   26/08/2015

    hungmaiusa viết:

    Chào bạn.

    - "quy định người đại diện theo pháp luật có quyền ký kết (với Giám đốc chi nhánh)" là luật định chứ không phải là do điều lệ quy định hay không.

    - Điều 3 của nghị định Số 05/2015/NĐ-CP  ngày 12 tháng 01 năm 2015; NGHỊ ĐỊNH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao độncó nội dung không trái với các quy định của pháp luật hiện hành thì vì sao không có giá trị?

    - Nếu cho là không được giao cho chính phủ hướng dẫn nên không có giá trị là không có căn cứ vì luật không quy định như vậy.

    Chào anh hungmaiusa
     
    Ta nói về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhé
     
    Quyền của chủ sở hữu công ty là các quyền theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Theo đó nếu Điều lệ công ty quy định quyền ký kết (với Giám đốc chi nhánh) là quyền của chủ sở hữu thì đó là quyền của chủ sở hữu. Đây là quy định của Luật.
     
    Với cách hiểu đó, Luật doanh nghiệp và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP có quy định khác nhau về vấn đề người giao kết hợp đồng. Trong trường hợp luật và nghị định có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì người ta áp dụng luật là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
     
    Báo quản trị |  
  • #397624   26/08/2015

    hungmaiusa
    hungmaiusa
    Top 10
    Cao Đẳng

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:22/06/2013
    Tổng số bài viết (4090)
    Số điểm: 31566
    Cảm ơn: 943
    Được cảm ơn 1953 lần


    Chào bạn.

    Quyết định: do trong nội bộ thỏa thuận cá nhân, tập thể nào sẽ có quyền; thỏa thuận đó được ghi nhận trong điều lệ, quy chế...

    Ký HĐ: đối với bên ngoài phải là người đại diện theo pháp luật. Người khác ký là vô hiệu vì họ không phải là đại diện của pháp nhân.

    Cần phân biệt quyền quyết định với quyền được đại diện thực hiện.

     
    Báo quản trị |