DanLuat 2015

Chủ đề chưa có phản hồi

263 Trang 12345>»
  • Cách đây 3 giờ, 7 phút | Trong chuyên mục Phòng giảm "Sì trét"

    Angel2607
    Angel2607

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Hiện nay, điều gây khá khó chịu đối với những người khi tham giao thông vào ban đêm là việc rất nhiều người sử dụng đèn pha khi di chuyển trong khu vực đô thị hoặc đông dân cư, gây ảnh hưởng không chỉ đến người đi đối diện mà kể cả những phương tiện trước đó do ảnh hưởng của đèn pha lên gương chiếu hậu của họ. Cá nhân mình cũng đã gặp vài tình huống oái ăm như thề và bài viết này ngoài việc đề cập những quy định của pháp luật về đèn chiếu xa (đèn pha) còn bổ sung thêm các thông tin về chế độ đèn để ta dễ phân biệt.  

    Đầu tiên hãy tìm hiểu về chế độ đèn của phương tiện luu thông, hệ thống đèn chiếu sáng gồm đèn pha và đèn cốt, trong đó:

    Đèn pha (far) là đèn chiếu xa có cường độ ánh sáng mạnh, chiếu xa hơn và tầm nhìn cao hơn, giúp người điều khiển xe thấy được chướng ngại và các biển báo từ xa. Chế độ đèn này sử dụng khi đi đường trường, cao tốc, nhưng nhiều người do không hiểu biết hoặc do cố tình muốn gây chú ý nên đã sử dụng sai trong nội thành gây lóa mắt, mất tầm nhìn cho các xe đi ngược chiều, dẫn đến nguy hiểm.

    Lưu ý nhỏ: Nháy đèn pha theo kiểu tắt mở là cách nhắc nhở xe đi ngược chiều hạ đèn pha, đây là một thuật ngữ còn khá mới nên nếu để ý kĩ có thể phát hiện chính phương tiện lưu thông của mình đang bật sai chế độ đèn từ các xe đi chiều ngược lại.

    Đèn cốt (cos) là đèn chiếu gần, góc chiếu thấp giúp người lái xe quan sát được tình trạng mặt đường trong phạm vi gần (tránh ổ gà, gạch đá…), sử dụng khi lái xe tốc độ chậm, trong nội thành, khu dân cư. Độ sáng và khoảng chiếu sáng của loại đèn này được tính toán kỹ để không gây ảnh hưởng cho xe đi trước hoặc đối diện. Một số nước bắt buộc phải bật đèn xe ngay cả vào ban ngày, chính là để ở chế độ đèn cốt này. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP: Quy định cụ thể thời gian phải bật đèn xe:

    Bắt buộc người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô; mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy; máy kéo, xe máy chuyên dùng “Sử dụng đủ đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn”. Nếu người điều khiển vi phạm quy định nêu trên sẽ bị xử phạt theo mức sau đây:

    + Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô: 600.000 - 800.000 đồng (Điểm g Khoản 3 Điều 5 Nghị định 46)

    + Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: 80.000 - 100.000 đồng (Điểm c Khoản 2 Điều 6 Nghị định 46).

    + Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng: 200.000 - 400.000 đồng (Điểm e Khoản 3 Điều 7 Nghị định 46).

    Kết: sau bài viết này mình mong rằng những người tham gia giao thông ý thức hơn trong việc sử dụng đèn xe, vì việc bật đèn pha có thể gây hại cho cả chính bản thân mình và nó không khác gì việc sử dụng con dao hai lưỡi vậy. Do đó hãy cẩn trọng vì đôi khi những vấn đề nhỏ như thế này cũng đủ để khiến các tai nạn giao thông xảy ra và tất nhiên, hậu quả của nó không ai muốn cả.

  • Cách đây 3 giờ, 10 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    Angel2607
    Angel2607

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Dạo gần đây nảy ra một vấn đề mà mình thấy mọi người vẫn còn khá thắc mắc, đó là việc sử dụng Quyền im lặng trong vụ án chạy thận làm 8 người chết - vụ án mà bác sĩ Hoàng Công Lương đang phải “chịu” trách nhiệm chính và anh đã dùng quyền im lặng trong một phiên xét xử của tòa án. Vậy Quyền im lặng được quy định tại đâu và để hiểu rõ bản chất của nó thế nào là hợp lý, mình sẽ điểm sơ một số nội dung sau đây.

    Nguồn gốc quyền im lặng

    Không có lịch sử rõ ràng đằng sau quyền im lặng. The nemo brocard Latin tenetur se ipsum accusare ('không có người đàn ông nào bị ràng buộc để buộc tội mình ") đã trở thành một lời kêu gọi cho bất đồng chính kiến ​​tôn giáo và chính trị bị truy tố tại các tòa án thế kỷ 16 ở Anh.

    Sau các cuộc cách mạng vào cuối thế kỷ thứ 17, theo một số tài liệu lịch sử, quyền im lặng trở thành luật pháp như một phản ứng của người dân đến tòa án. Ở Vương quốc Anh và các nước trước đây là một phần của Đế chế Anh (như các quốc gia cộng đồng Anh, Hoa Kỳ và Cộng hòa Ireland) quyền im lặng đã vẫn gìn giữ trong truyền thống thông luật thừa kế từ nước Anh. Mặc dù ban đầu xa lạ với hệ thống tư pháp thẩm tra, quyền im lặng lan rộng khắp lục địa châu Âu. Đến những năm cuối thế kỷ 20, do sự phát triển luật pháp quốc tế mà sự phổ cập ngày càng tăng của một số biện pháp bảo vệ quyền im lặng. Ví dụ, quyền im lặng được ghi nhận trong các văn bản nhân quyền quốc tế quan trọng như Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

    Ở Việt Nam vào tháng 5 năm 2015, các dự thảo Bộ Luật Tố tụng hình sự cho phép người bị tạm giam, bị can, bị cáo... có quyền im lặng. Theo đó, quy định “quyền im lặng” của người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo không phải là tạo thêm rào cản cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà ngược lại sẽ góp phần tích cực nâng cao nghiệp vụ điều tra, truy tố, xét xử của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán. Đồng thời cũng nâng cao vị trí, vai trò của luật sư, trợ giúp viên pháp lý bào chữa.

    => Như vậy Quyền im lặng có thể được xem là một bước tiến mới trong hệ thống tố tụng ở nước ta, tuy vậy quyền này chỉ được phổ biến với cộng đồng thông qua vụ Hoa Hậu Phương Nga trong vụ cô bị kiện chiếm đoạt 16.5 tỷ đồng của ông Cao Toàn Mỹ.

    Vậy quyền im lặng được hiểu thế nào? Nên sử dụng khi nào?

    Quyền im lặng là một quyền hợp pháp được công nhận, một cách rõ ràng hoặc theo quy ước, trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Đây là quyền của nghi phạm, của người bị kháng cáo, trong một vụ án có quyền im lặng, không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hay tự buộc mình có tội. Theo quyền này, một công dân được mặc định là vô tội cho đến khi các cơ quan pháp luật chứng minh được người đó có tội, luật pháp công nhận quyền này căn bản phán xử dựa trên chứng cứ. 

    Quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình - nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự. Đây được xem là điều không quá khó hiểu khi mà điều tra viên trong trường hợp dùng các cách thức không công bằng để chứng minh việc phạm tội của người bị điều tra. Tình trạng mớm cung hoặc thêm bớt vào lời khai không phải chưa từng xuất hiện trong các vụ án ở Việt Nam. Do đó việc im lặng tới khi có sự tham gia của luật sư là cách thức bảo vệ đơn giản nhất và có thể áp dụng cho mọi người  Ví dụ, trong vụ Hoa hậu Phương Nga, việc các bằng chứng mà cô đưa ra trong quá trình khai báo với cơ quan điều tra bỗng biến thành “chứng cứ” chống lại cô, dẫn đến việc cô tuyên bố sử dụng quyền im lặng vì không còn tin vào VKS.

    Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản thực thi quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp 2013 như nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13), “Xác định sự thật của vụ án” (Điều 15), “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16), “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26). Tuy nhiên cũng có thể thấy rõ khái niệm về Quyền im lặng không được quy định cụ thể mà chỉ có nội dung chứa những ý chính nhắc về nó, cụ thể là quyền của người bị buộc tội tại các điều 59 đến 62 BLTTHS. Quyền này của người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) được thể hiện như sau: “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Quyền này được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử. Đây chính là tinh thần cốt lõi của “Quyền im lặng” được thể hiện trong BLTTHS 2015.

    Khi nào im lặng? Khi nào nên nói?

    Khi bị khởi tố vụ án/khởi tố bị can, trong trường hợp này, nghĩa là cá nhân người đó đang bị điều tra về một hành vi mà cơ quan điều tra cho rằng đó là “phạm tội”. Trong quá trình điều tra lại xảy ra sự không tương xứng giữa cơ quan điều tra và người bị điều tra. Điều này thể hiện ở nhân lực, phương tiện, các thông tin được thu thập, kiến thức chuyên môn. Các cán bộ điều tra có quyền không cho người bị điều tra biết được các thông tin mà họ đã có, có kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật thẩm vấn… Ngược lại, người bị điều tra, luôn yếu thế hơn cán bộ điều tra vì trong nhiều trường hợp, họ bị giam cách ly khỏi thế giới bên ngoài, không biết các kỹ thuật dẫn dụ trong hỏi cung có đúng pháp luật không?

    Do đó, nếu gặp những câu hỏi mà bạn không biết và không chắc chắn điều mình nói là bất lợi hay có lợi lúc này, những câu hỏi kiểu mớm cung hoặc trong quá trình ấy cảm thấy không yên tâm vì bất kì câu trả lời nào cũng “nguy hiểm” thì hãy im lặng và yêu cầu Luật sư để bảo vệ và hướng dẫn mình cách tốt nhất để xử lý trong trường hợp đó.

    Kết: việc sử dụng quyền im lặng ở nước ta là một bước tiến tốt cho thấy tình hình dân trí đã có sự tiếp thu và thực hiện các kiến thức pháp luật. Tuy nhiên thời điểm này vẫn còn khá ít trường hợp sử dụng quyền trên trong quá trình xét xử, nhất là khi bối cảnh án oan vẫn còn thì mình nghĩ việc tuyên truyền về quyền này vẫn cần thiết và mạnh mẽ hơn nữa.

  • Cách đây 3 giờ, 21 phút | Trong chuyên mục Lao động - Việc làm

    mynhobe
    mynhobe

    Female
    Sơ sinh

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:27/08/2017
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 75
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Căn cứ pháp lý:

    - Bộ luật lao động 2012;

    - Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động 2012;

    - Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    Theo Bộ luật lao động 2012, điều kiện thử việc được quy định từ Điều 27 đến Điều 29 như sau:

    + Về thời gian thử việc được quy định tại Điều 27:

    Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:
     
    1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
     
    2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
     
    3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

    Công việc chỉ được thử 1 lần duy nhất và tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Nếu công việc thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả thử việc quy định tại Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động 2012:

    1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động. 
     
    2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

    Sau khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động theo 1 trong 2 loại hợp đồng theo 

    + Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    + Hợp đồng lao động xác định thời hạn.

    Đối với hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo 1 công việc nhất định thì người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Bộ luật lao động 2012.

    Nếu vi phạm về số lần thử việc, thời gian thử việc sẽ bị xử lý tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được sửa đổi, bổ sung thoe Nghị định 88/2015/NĐ-CP:

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:
     
    a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;
     
    b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.
     
    2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
     
    a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;
     
    b) Thử việc quá thời gian quy định;
     
    c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;
     
    d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
     
    3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
     
    Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này.

    Trong trường hợp, 2 bên ký hợp đồng lao động mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì người sử dụng lao động và người lao động tiếp tục ký kết hợp đồng được quy định tại Điều 26 Bộ luật lao động 2012 như sau:

    1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
     
    a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
     
    Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
     
    b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
     
    Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
     
    c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
     
    2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.
     
    Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
     
    3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

     

  • Cách đây 3 giờ, 22 phút | Trong chuyên mục Vướng mắc pháp lý

    Angel2607
    Angel2607

    Male
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 80
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Đây là một câu hỏi mà người dân nước ta vẫn thường thắc mắc vì đánh bạc khi thì bị phạt hành chính, lúc lại bị xử lý hình sự. Vì thế bài viết này mình xin chia sẻ một số thông tin về hành vi trái pháp luật này.

    Trước tiên cần phải làm rõ rằng hành vi đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật nên dù bất cứ hình thức nào, kể cả “đánh bài vui” vẫn được xem là vi phạm.  Đánh bạc là việc nhiều người (ít nhất từ hai người trở lên) cùng tham gia thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào (đánh bài, tổ tôm, xóc đĩa, số đề, cá độ bóng đá,.v.v…) với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật (vàng, bạc, đá quý, xe máy, ôtô.v.v…)

    Căn cứ theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. Theo quy định trên, chỉ hành vi đánh bạc trái phép (không được pháp luật cho phép) mới có thể cấu thành tội đánh bạc, còn những hành vi đánh bạc được pháp luật cho phép, (như việc người nước ngoài đánh bạc tại một số casino được phép hoạt động) thì không trái pháp luật và không phải chịu trách nhiệm pháp lý.

    Như vậy có thể thấy rằng việc đánh bạc dưới hình thức “vui” như tính điểm để bao nước,.. cũng thuộc hành vi đánh bạc trái pháp luật do “được thua bằng tiền hoặc hiện vật”. Lúc này số tiền đánh bạc sẽ là căn cứ để quyết định người đó có phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự hay bị phạt hành chính. Cụ thể tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về “Tội đánh bạc” như sau:  

    ●Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    =>> Như vậy việc đánh bạc trái phép với trị giá tiền nằm trong khoảng điều luật trên quy định sẽ chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên có một vấn đề cần lưu ý ở đây rằng, số tiền trên không chỉ bao gồm tiền hoặc hiện vật trên chiếu bạc mà còn kể cả số tiền mà cá nhân đó mang theo.

    Ví dụ trong trường hợp một người đàn ông tham gia đánh bạc với giá tiền mỗi lần đánh là 10.000 đồng. Tuy nhiên thời điểm bị bắt trong bóp của anh ta có 10.000.000 đồng thì nếu anh ấy chứng minh được số tiền 10 triệu không liên quan gì đến việc đánh bạc và không có mục đích đánh bạc thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính (không thỏa mãn tính chất tiền và hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên) chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, điều ngược lại sẽ xảy ra khi anh ta không chứng minh được điều đó.

    Điều cuối cùng mình muốn giải đáp là trong trường hợp tham gia đánh bạc với mệnh giá không cấu thành tội phạm của Điều 321 BLHS 2015 thì người đánh bạc sẽ chịu hình phạt hành chính theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng:

    Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;”. Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có.

    Tóm lại có thể thấy hành vi đánh bạc dù ít hay nhiều đều bị xử lý theo pháp luật, đây vốn là điều mà nhiều người vẫn còn nghĩ rằng đánh bạc it thì “không sao”. Do đó mình nghĩ việc tuyên truyền pháp luật rất cần thiết trong bối cảnh ở nước ta, tình chấp hành pháp luật vẫn chưa thật sự tốt.

  • Cách đây 5 giờ, 22 phút | Trong chuyên mục Café DanLuat

    Kimhuyentr
    Kimhuyentr
    Top 500
    Female
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2015
    Tổng số bài viết (144)
    Số điểm: 3582
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 62 lần


    Gần đây, dân tình xôn xao về việc tổ chức các trạm thu phí BOT. Vậy pháp luật quy định về BOT như thế nào?

    Theo quy định tại Nghị định 68/2018/NĐ-CP sẽ có hiệu lực ngày 19/06/2018, BOT là một hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư (PPP). Cụ thể như sau:

    1. Nội dung hợp đồng BOT

    Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.

    Theo đó, nhà đầu tư là người xây các công trình hạ tầng. Sau khi xây dụng xong công trình hạ tầng thì được quyền kinh doanh trong một thời gian nhất định rồi chuyển giao cho Nhà nước

    2. Cách khai thác lợi nhuận

    Nhà đầu tư có quyền kinh doanh dự án BOT trong thời gian trước khi chuyển giao cho Nhà nước

    NĐT có quyền chủ động hoàn toàn để khai thác lợi nhuận từ khoảng thời gian xây dựng công trình đến khi bàn giao công trình cho NN. Lợi ích mà NĐT được hưởng cũng phát sinh từ việc kinh doanh công trình đó.

    Hết thời hạn KD thì việc chuyển giao công trình đó cho NN là việc chuyển giao không bồi hoàn.

    Về phía Nhà nước, sau khi tiếp nhận công trình dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức quản lý, vận hành công trình theo chức năng, thẩm quyền.

    3. Các dự án đầu tư BOT

    Xây dựng công trình hạ tầng:

    - Giao thông vận tải;

    - Nhà máy điện, đường dây tải điện;

    - Hệ thống chiếu sáng công cộng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; công viên; nhà, sân bãi để ô tô, xe, máy móc, thiết bị; nghĩa trang;

    - Trụ sở cơ quan nhà nước; nhà ở công vụ; nhà ở xã hội; nhà ở tái định cư;

    - Y tế; giáo dục, đào tạo, dạy nghề; văn hóa; thể thao; du lịch; khoa học và công nghệ, khí tượng thủy văn; ứng dụng công nghệ thông tin;

    - Hạ tầng thương mại; hạ tầng khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ thông tin tập trung; hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao; cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;

    - Nông nghiệp và phát triển nông thôn; dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;

    - Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    4. Về việc thu phí sử dụng dự án BOT

    Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công (Luật Phí và lệ phí)

    Nguyên tắc thu phí: Mức thu phí được xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Thẩm quyền ban hành mức thu phí đối với các công trình của dự án: (Phụ lục 1 Luật Phí và lệ phí)

    - Phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    - Phí sử dụng đường bộ: Bộ Tài chính quy định đối với đường thuộc trung ương quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với đường thuộc địa phương quản lý.

     

  • Cách đây 6 giờ, 22 phút | Trong chuyên mục Đất đai - Nhà cửa

    akaycongtu.pt@gmail.com
    akaycongtu.pt@gmail.com

    Sơ sinh


    Tham gia:Cách đây 6 giờ, 40 phút
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Mình là giáo viên đang công tác ở vùng cao. Giờ mình muốn vay tiền để mua nhà ở. Vậy mình xin nhờ sự tư vấn của trang về: Mình có thể vay được ngân hàng nào? Vay được tối đa là bao nhiêu tiền? Và lãi xuất của ngân hàng như thế nào?

  • Cách đây 6 giờ, 42 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    HuongGiang0112
    HuongGiang0112

    Female
    Sơ sinh

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 30
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 1 lần


    Bài tập: Anh D là tài xế xe tải lái xe cho công ty X, tối qua anh D đã gây tai nạn giao thông làm một người chết , anh đã đến đầu thú tại cơ quan công an và hiện tại đã bị tạm giữ để điều tra, gia đình chưa được gặp mặt. xin hỏi anh D có thể bị xử lý như thế nào? có cách nào để giảm nhẹ tội cho anh D? gia đình nên làm gì với gia đình nạn nhân? công ty X có chịu trách nhiệm gì hay không?

    Những trách nhiệm mà anh D có thể phải chịu trong tình huống trên như sau:

    Về trách nhiệm hình sự:

     Trong trường hợp trên, nếu xác định được lỗi thuộc về D đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 1 người khi điều khiển ô tô thì:

     Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường của cơ quan CSGT, kết luận của cơ quan CSĐT, lời khai của nhân chứng, kết quả giám định pháp y, D có thể bị khởi tố về tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 260- BLHS 2015.

    Việc anh D đã đến cơ quan công an đầu thú, có thể được xem là một căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51- BLHS về tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải”. Thêm vào đó,  Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

    Về trách nhiệm dân sự:

    Chiếc xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Khoản 1, Điều 601-Bộ luật Dân sự 2015

    Và trong trường hợp này anh D là tài xế xe tải của công ty X, có nghĩa là được thuê lái xe và trả tiền công, do đó công ty X mới là chủ sở hữu của chiếc xe gây tai nạn. Như vậy, theo quy định tại Điều 601- của Bộ luật Dân sự thì:

    Công ty X (chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ) phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ trừ những trường hợp loại trừ trách nhiệm sau:

    a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

    b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Về mức bồi thường thiệt hại. Trước tiên mức bồi thường thiệt hại sẽ do 2 bên thỏa thuận. Khi không thỏa thuận được thì người bị hại có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án căn cứ vào chi phí thiệt hại thực tế dựa trên quy định tại Điều 519- BLDS để đưa ra mức bồi thường cụ thể.

    “Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

    1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

    a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

    b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

    c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

    d) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

    Như vậy, gười bị thiệt hại sẽ được bồi thường những khoản như trên và mức bồi thường cụ thể sẽ được xác định căn cứ vào những chứng từ, chứng cứ mà bên yêu cầu bồi thường đưa ra để chứng minh thiệt hại trong thực tế.

    Xét về mặt tình cảm: thì gia đình anh D nên đến thăm hỏi, động viên gia đình nạn nhân, có thể tự nguyện bồi thường hoặc chia sẽ gánh nặng về kinh tế cho gia đình nạn nhân nếu có thể.

     

     

     

  • Cách đây 7 giờ, 1 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    dlinh0112
    dlinh0112

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 70
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 2 lần


    Cho thuê tài chính và cho thuê vận hành (hay còn gọi là cho thuê hoạt động) đều là hình thức của hoạt động cho thuê taì sản của tổ chức tín dụng, cụ thể là công ty cho thuê tài chính. Vậy hai hình thức này có gì khác biệt?

    TIÊU CHÍ

    CHO THUÊ TÀI CHÍNH

    CHO THUÊ VẬN HÀNH

    Khái niệm

    Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận.

     

    Cho thuê vận hành là hình thức cho thuê hoạt động, theo đó công ty cho thuê tài chính cho thuê tài sản đối với Bên thuê vận hành để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả tài sản khi kết thúc thời hạn thuê tài sản. Công ty cho thuê tài chính sở hữu tài sản thuê trong suốt thời hạn thuê. Bên thuê vận hành sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê vận hành.

     

    Đối tượng phù hợp

    Hình thức cho thuê này phù hợp với nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các đơn vị có thời gian hoạt động ngắn, không phải mất chi phí mua tài sản,… (chỉ mang tính tương đối)

     

    Quyền sở hữu tài sản

    Bên cho thuê cam kết chuyển Quyền sở hửu tài sản (bán) cho bên thuê.

    Không có cam kết này trên hợp đồng, Bên cho thuê chỉ chuyên giao quyền sử dụng cho bên đi thuê không chuyển giao quyền sở hữu

     

    Thời hạn thuê

    Dài, chiếm gần hết thời gian hữu dụng tài sản.

    Ngắn, chiếm một phần nhỏ thời gian hữu dụng tài sản.

    Mức thu hồi từ tài sản cho thuê.

    Gần bằng giá trị tài sản

    Chiếm tỷ lệ nhỏ trên giá trị tài sản

    Trách nhiệm bảo quản và đóng thuế tài sản.

    Thuộc về bên thuê

    Thuộc về bên cho thuê

    Trách nhiệm rủi ro tài sản

    Mọi rủi ro tài sản bên thuê chịu

    Người thuê chỉ chịu rủi ro do mình gây ra

    Tính chất hợp đồng

    Không được huỷ ngang

    Có thể huỷ ngang

    Cơ sở pháp lý:

    Thông tư 30/2015/TT-NHNN

    Nghị định 39/2014/NĐ-CP

  • Cách đây 7 giờ, 5 phút | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    giangthingochuong
    giangthingochuong

    Female
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:21/05/2018
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 14
    Được cảm ơn 0 lần


    Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. (theo Khoản 1 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp 2009).

    Lý lịch tư pháp có 2 loại, Lý lịch tư pháp số 1 và Lý lịch tư pháp số 2.

    Thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 được thực hiện theo quy định tại Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp 2009

    Trong trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp số 1 có thể ủy quyền cho người khác thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này “Cá nhân có thể uỷ quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật; trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì không cần văn bản ủy quyền.”

    Riêng đối với thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được thực hiện theo quy định tại Điều 46 Luật này thì “trường hợp cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp.”

    Như vậy, điểm bất cập ở đây là những trường hợp cá nhân là người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, ở xa đối với việc thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 khá khó khăn, họ không thể ủy quyền cho người khác thực hiện và chỉ có thể trực tiếp thực hiện thủ tục này.

    Tuy nhiên, hiện nay Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố đã triển khai dịch vụ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, công dân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể đăng ký ở mọi nơi và đính kèm hồ sơ trực tuyến gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, điều này đã một phần khắc phục được những khó khăn trong vấn đề giải quyết thủ tục hành chính cho công dân ở xa, ở nước ngoài, góp phần hạn chế chi phí cho người yêu cầu.

     

  • Cách đây 7 giờ, 31 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    thaiman
    thaiman

    Sơ sinh

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (8)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Theo pháp luật dân sự Việt Nam bù trừ nghĩa vụ trong phần chấm dứt nghĩa vụ dân sự. Bởi lẽ khi nghĩa vụ bù trừ thì nghĩa vụ chấm dứt. Bù trừ nghĩa vụ vừa là cơ chế thực hiện nghĩa vụ vừa là cơ chế chấm dứt nghĩa vụ dân sự

    Điều kiện áp dụng bù trừ nghĩa vụ:

    1.     Các bên có cùng nghĩa vụ

    “Bù trừ được áp dụng trong trường hợp các bên có cùng nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau.”

    Bù trừ nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi tồn tại hai nghĩa vụ đối với hai chủ thể khác nhau. Ở đây mỗi chủ thể là người có quyền vừa là người có nghĩa vụ với chủ thể còn lại với tư cách cá nhân, nếu chỉ tồn tại một bên có nghĩa vụ thì không thể tiến hành bù trừ nghĩa vụ

    2.     Các nghĩa vụ về tài sản cùng loại

    + Nghĩa vụ không mang yếu tố tài sản không được bù trừ

    + Lưu ý: Nghĩa vụ về tài sản ở đây thường là nghĩa vụ gaio một tài sản nhưng cũng có thể thực hiện một công việc (Khoản 3 Điều 378 Bộ Luật dân sự 2015)

    + Nghĩa vụ về tài sản cùng loại: đối tượng các nghĩa vụ tương đồng

    3.     Các nghĩa vụ cùng đến hạn

    Nghĩa vụ ùng đến hạn tức là cùng đến thời hạn thực hiện. Nếu một nghĩa vụ đến hạn một nghĩa vụ chưa đến thì không thể bù trừ , bù trừ chỉ được tiến hành khi nghĩa vụ thứ hai đến hạn thực hiện

    4.     Không thuộc trường hợp không được bù trừ quy định tại Điều 379 BLDS 2015

    Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:

    1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;

    2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

    3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;

    4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.

               5. Sự ảnh hưởng của tố tụng dân sự

    Yêu cầu bù trừ nghĩa vụ dân sự của bị đơn trong quá trình tố tụng là một yêu cầu phản tố nên phải tuân theo quy định về phản tố. Nếu không tuân thủ quy định về phản tố thì yêu cầu bù trừ không được giải quyết, nên bù trừ không được chấp nhận.

    Hệ quả của áp dụng bù trừ nghĩa vụ:

    1.     Nghĩa vụ chấm dứt

    Cả hai nghĩa vụ dân sự chấm dứt khi nghĩa vụ được bù trừ, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ ban đầu với nhau nữa

    2.     Phạm vi chấm dứt nghĩa vụ

    -         Các nghĩa vụ dân sự được bù trừ có giá trị ngang nhau thì các nghĩa vụ này đều chấm dứt toàn bộ

    -         Trường hợp nghĩa vụ bù trừ không ngang nhau hoặc công việc không tương đương thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch (khoản 3 Điều 379, BLDS 2015)

    3.     Thời điểm chấm dứt nghĩa vụ

    + Nghĩa vụ dân sự chấm dứt khi nghĩa vụ được bù trừ cùng đến hạn

    + Trường hợp có nghĩa vụ đến hạn trước nghĩa vụ đến hạn sau, thì bù trừ nghĩa vụ tiến hành thời điểm nghĩa vụ hai đến hạn.

    4.     Đối với biện pháp bảo đảm

    Bù trừ có hệ quả làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự. Do đó các biện pháp đối với các nghĩa vụ chấm dứt do nghĩa vụ chấm dứt cũng chấm dứt trong trường hợp bù trừ nghĩa vụ

    Lưu ý: Khoản 3 Điều 339 BLDS 2015 “bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh”

    Căn cứ pháp lý: Điều 378, 379 Bộ Luật dân sự 2015.

  • Cách đây 8 giờ, 13 phút | Trong chuyên mục Kế toán - Kiểm toán

    huynhthihau99
    huynhthihau99

    Sơ sinh

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:Cách đây 8 giờ, 17 phút
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Ở Việt Natrong chuẩn mực kế toán khi có tranh chấp về kế toán xảy ra , tòa án sẽ dựa vào quy định trong chuẩn mực kế toán , chế độ kế toán hay luật kế toán làm cơ sở đưa ra ý kiến ? giải thích.

     

  • Cách đây 11 giờ, 27 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    TuyenBig
    TuyenBig
    Top 500
    Female
    Lớp 1

    Bắc Kạn , Việt Nam
    Tham gia:27/03/2018
    Tổng số bài viết (117)
    Số điểm: 2685
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 81 lần


    Một trong những trường hợp sau đây được xem là khám bệnh, chữa bệnh trái tuyến:

    - Khám bệnh, chữa bệnh không đúng nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu khi không phải là tình trạng cấp cứu.

    - Khám, chữa bệnh trong trường hợp không có giấy chuyển tuyến của nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu.

    Từ 1/1/2016, Bộ Y tế sẽ mở thông tuyến khám, chữa bệnh. Cụ thể, người dân khi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại tuyến xã, phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện sẽ được quyền khám, chữa tại tất cả đơn vị tương đương tuyến cùng địa bàn tỉnh.

    Trong trường hợp chuyển viện đúng tuyến từ tuyến huyện lên tuyến tỉnh do đáp ứng điều kiện chuyển tuyến theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 điều 5 ( Bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị, danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt hoặc bệnh phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị, danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị;) tại Thông tư 14/2014/TT-BYT. Tuy nhiên, khi được chuyển lên tuyến Tỉnh, mặc dù cơ sở khám, chữa bệnh tuyến tỉnh đủ điều kiện và có khả năng chữa trị nhưng muốn chuyển lên khám chữa bệnh tại tuyến Trung ương. Trường hợp này bạn đã thuộc đối tượng khám chữa bệnh vượt tuyến, trái tuyến.

    Khi vượt tuyến trung ương, Quỹ Bảo hiểm Y tế sẽ thanh toán 40% chi phí thay vì 30% như hiện nay, nhưng chỉ với điều trị nội trú.

    Trường hợp điều trị ngoại trú vượt tuyến sẽ không được hưởng BHYT

    Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó; đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế. (điều 28 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014)

     

  • Cách đây 11 giờ, 55 phút | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao học

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3054)
    Số điểm: 59070
    Cảm ơn: 558
    Được cảm ơn 3856 lần


    >>> Nghị quyết 26/NQ-TW: quy hoạch số lượng cán bộ lãnh đạo các cấp

    >>> Nghị quyết 27/NQ-TW: bãi bỏ 5 loại phụ cấp dành cho cán bộ, công chức

    Ngày 23/05/2018, Nghị quyết 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) được chính thức được thông qua.

    Theo đó, sẽ thay đổi nhiều chính sách liên quan đến BHXH, đơn cử như sau:

    - Giảm thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm.

    - Sửa đổi cách tính lương hưu theo hướng công bằng giữa nam và nữ.

    - Nhóm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt cũng phải tham gia BHXH bắt buộc.

    - Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình từ năm 2021, tiến tới việc thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

    - Người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    - Tăng quyền lợi được hưởng BHXH nếu bảo lưu thời gian tham gia BHXH, giảm quyền lợi hưởng BHXH 1 lần.

  • Cách đây 12 giờ, 13 phút | Trong chuyên mục Lao động - Việc làm

    nguyenanh1292
    nguyenanh1292
    Top 25
    Female
    Cao học

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2014
    Tổng số bài viết (3054)
    Số điểm: 59070
    Cảm ơn: 558
    Được cảm ơn 3856 lần


    Xoay quanh vấn đề mức lương cơ sở tăng từ 1,3 triệu đồng lên 1,39 triệu đồng kể từ ngày 01/7/2018 theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP, một số bạn đặt câu hỏi với Dân Luật rằng, liệu mức lương cơ sở này tăng thì mức lương hưu có thay đổi gì không?

    Câu trả lời rằng mức hưởng lương hưu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đóng BHXH, mức lương đóng BHXH và đối tượng người lao động là nam hay nữ, điều kiện hưởng lương hưu.

    Đồng thời, Luật bảo hiểm xã hội 2014 có quy định rằng “Chính phủ quy định việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.”

    Nghĩa là về nội hàm công thức tính mức hưởng lương hưu không thay đổi, chỉ điều chỉnh tăng thêm sau khi tính được mức lương hưu theo công thức không đổi nêu trên.

    Kể từ thời điểm 01/7/2018, mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp hiện hưởng đối với các đối tượng sau đây được điều chỉnh tăng thêm 6,92% so với mức hưởng của tháng 6/2018 (theo Dự thảo Nghị định điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng):

    1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định 41/2009/QĐ-TTg); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

    2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP, Nghị định 121/2003/NĐ-CPNghị định 09/1998/NĐ-CP đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

    3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 91/2000/QĐ-TTg, Quyết định 613/QĐ-TTg năm 2010; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

    4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 130/CP năm 1975 và Quyết định 111-HĐBT năm 1981.

    5. Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg, Quyết định 38/2010/QĐ-TTg.

    6. Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 53/2010/QĐ-TTg.

    7. Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 62/2011/QĐ-TTg.

    8. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

  • Cách đây 12 giờ, 47 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    linhdung2029
    linhdung2029

    Sơ sinh

    Vietnam --> Hồ Chí Minh
    Tham gia:Cách đây 12 giờ, 50 phút
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Mình cần giúp trả lời câu hỏi này để ôn thi 

    Sự khác biệt cơ bản giữa thời hạn thực hiện và thời điểm có giá trị hiệu lực trong thẩm định giá trị bất động sản ?

    Nội dung cơ bản giá trị thị trường trong thẩm định giá trị bất động sản ?

  • Cách đây 13 giờ, 0 phút | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    MinhPig
    MinhPig

    Female
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:06/04/2018
    Tổng số bài viết (27)
    Số điểm: 345
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 6 lần


    Một thực trạng mà mình đã từng nghe tại đơn vị thực tập liên quan đến các vụ án hình sự rằng người bị hại từ chối giám định thương tích phục vụ cho quá trình điều tra trong khi trước đó họ đưa đơn kiện, đến khi cơ quan điều tra vào cuộc và làm rõ tình tiết vụ án thì người bị hại lại quay ngoắc 180 độ vì không chịu giám định thương tật.

    Điều 127 Bộ luật TTHS 2015 quy định về các biện pháp xử lý với trường hợp bị hại từ chối giám định:

    Thực hiện dẫn giải có thể áp dụng đối với:

    … b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”.

    Có nhiều lý do để người bị hại từ chối giám định: liên quan đến mối quan hệ gần gũi, sự thỏa thuận giữa bên gây hại trong việc bồi hoàn giá trị tổn thất họ tự hòa giải với nhau hay hơn nữa là những đe dọa từ chính các đối tượng hay sức ép từ các bên liên quan,… khiến cho việc đảm bảo xác định tính chất, hành vi phạm tội trở nên khó khăn do tính thoái thác của thương tích,…

    Đó là chưa kể đến những tôị danh chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp ví dụ như các  tội liên quan đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,…: Tội cố ý gây thương tích, Tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm,…

    Nắm bắt vấn đề trên, BLTTHS 2015 đã bổ sung quy định này mà trước đó BLTTHS 2003 chưa đề cập đến. Là nội dung quan trọng cho cơ quan điều tra sớm hoàn thành vụ án cũng như khắc phục những lý do khách quan ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại.

    Tuy nhiên, còn một số bất cập mà BLTTHS chưa đề cập đến như sau:

    - Việc dẫn giải sẽ được thực hiện như thế nào?

    - Đề cập đến việc trưng cầu giám định là quyền của công dân vậy áp dụng viêc dẫn giải là có đang vi phạm quyền công dân chưa?

    - Chưa quy định về quyền hạn áp dụng việc dẫn giải giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, vậy có xuất hiện tình trạng lạm quyền?

     

  • Cách đây 14 giờ, 32 phút | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    tôi có vướng mắt thế này mong cộng đồng dân luật tư vấn xem có văn bản nào hướng dẫn chỉ giúp tôi:

    - cá nhân công tác tại 1 công ty A đủ năm (từ tháng 1 đến tháng 12/2017) đến ngày 15/3/2018 công ty A cung cấp cho cá nhân đó 1 chứng từ khấu trừ với số tiền khoản 77 triệu đã khấu trừ 10%, cá nhân đó đem chứng từ đó đi hoàn thuế và đã được hoàn, đến 31/3/2018 công ty A lại cấp thêm 1 chứng từ khấu trừ (từ tháng 1 đến tháng 12): 30 triệu chẳn hạn cũng khấu trừ 10% tại nguồn. Hỏi trường hợp này thì làm hồ sơ hoàn thuế như thế nào với cùng 1 thời điểm cung cấp 2 chứng từ, đã hoàn 1 chứng từ? cộng đồng dân luật giúp mình xem có văn bản nào hướng dẫn không nha./. cám ơn

  • Cách đây 15 giờ, 2 phút | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    TuyenBig
    TuyenBig
    Top 500
    Female
    Lớp 1

    Bắc Kạn , Việt Nam
    Tham gia:27/03/2018
    Tổng số bài viết (117)
    Số điểm: 2685
    Cảm ơn: 15
    Được cảm ơn 81 lần


    >>> Thẩm phán có quyền bác đề nghị của Luật sư, bị cáo khi nào?

    Liên quan đến vụ việc đáng tiếc xảy ra với 8 mạng người tại Bệnh viện ĐK Hòa Bình, vụ việc vẫn chưa đi vào hồi kết khi những nội dung quan trọng lần lượt bị “bác bỏ” tại Tòa:

    Thứ 1. Chiều 16/5, luật sư Chiến đề nghị cách ly bị cáo Bùi Mạnh Quốc, vì luật sư cho rằng phần trả lời của BS Bùi Nghĩa Thịnh liên quan đến lời khai của Bùi Mạnh Quốc.

    >>> Tòa không chấp nhận đề nghị này, nên luật sư Chiến đã đưa ra một số câu hỏi bị cáo Quốc trước phần trả lời của bác sĩ Bùi Nghĩa Thịnh. Tuy nhiên chiều ngày 16/5 Tòa nghỉ sớm 15 phút hơn thường lệ, nên Bác sĩ Bùi Nghĩa Thịnh chưa có phần trả lời theo đề nghị của luật sư. LS được đề nghị hỏi BS Nghĩa vì còn trong thời gian làm việc nhưng không được đồng ý.

    Vẫn chưa rõ lý do là gì nhưng việc Tòa vẫn quyết định nghỉ mặc dù LS vẫn còn câu hỏi là đã không tạo điều kiện để LS thực hiện quyền của mình, theo tinh thần cải cách tư pháp.

    Thứ 2.  Sáng 17/5, HĐXX bất ngờ từ chối không cho bác sĩ Bùi Nghĩa Thịnh (BV Thủ Đức TP HCM) tham gia tố tụng với tư cách chuyên gia.

    >>> “HĐXX chưa chấp nhận tư cách tố tụng của bác sĩ này trong vụ án, vì vậy việc xét hỏi là không cần thiết”.

    Quyết định này của HĐXX gây bất ngờ và khó hiểu cho những người tham dự phiên tòa, bởi chiều 16/5 bác sĩ Bùi Nghĩa Thịnh vẫn được chấp nhận tâm thế trả lời các vấn đề về chuyên môn. Bởi các chuyên gia về thận nhân tạo sẽ giúp làm rõ các vấn đề khoa học, quy trình chuyên sâu khi chạy thận, qua đó góp phần làm rõ bản chất của các tình tiết trong vụ án.

    Sự phản ứng lần này gây không ít thắc mắc cho những người theo dõi vụ án, rõ ràng với vụ việc liên quan đến chuyên ngành như vậy không thể dựa vào khả năng phán đoán để nhận định mà sự tham gia của chuyên gia là một phần quan trọng có ảnh hưởng đến phán quyết của tòa án.

    Thứ 3. Đề nghị triệu tập thêm đại diện pháp nhân liên quan về vấn đề bảo trì máy và đơn vị cung cấp thiết bị, dịch vụ đều không được chấp nhận.

    >>> Toà cho là không cần thiết phải có mặt

    Thứ 4. Bộ Y tế, hội đồng chuyên môn Sở Y tế, đại diện Sở Y tế được đề nghị triệu tập tham gia tố tụng nhưng không được chấp nhận.

    >>> Cũng như mình đề cập đến việc sự cần thiết của các cơ quan có liên quan rất cần thiết trong một vụ việc mang tính phức tạp chuyên ngành như vậy, việc từ chối của Tòa vô hình trung đang cản trở việc làm sáng tỏ nội dung, tình tiết của vụ án.

    Thứ 5. Không để cho Luật sư tham gia xét hỏi đại diện Bộ Y tế tại phiên tòa khi trước đó LS là người đề nghị triệu tập nhưng không được chấp nhận: Xem nội dung tại đây

    >>> “Ở đây thì đại diện của Bộ Y tế được toà mời đến để trả lời một số vấn đề trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế, do đó các câu hỏi của luật sư hỏi không được chấp nhận và đây là quyền của HĐXX” HĐXX giải thích.

    Thứ 6. Sáng 23/5: trong phần xét hỏi ông Hoàng Đình Khiếu (Phó giám đốc BV Đa khoa Hoà Bình), Luật sư Hồng Phúc (bào chữa cho bị cáo Hoàng Công Lương) xin phép HĐXX được cung cấp tài liệu mới là một đoạn video.

    >>> Chủ tọa phiên tòa cho rằng: "Ai muốn công bố chứng cứ, tài liệu gì thì phải cung cấp trước cho HĐXX theo đúng quy định". Một lần nữa, Luật sư Phúc cho rằng đây là chứng cứ quan trọng cần được công bố ngay, nhưng tòa lại tiếp tục từ chối.

    + Có 2 vấn đề cần bàn đến ở đây: Thứ nhất, việc cung cấp thu thập chứng cứ là quyền của Luật sư, hơn thế đây được xem là nguồn chứng cứ quan trọng, việc HĐXX không chấp nhận chứng cứ nói trên là chưa đảm bảo tính khách quan. Thứ hai cần xem xét lại thời gian và điều kiện để HĐXX đánh giá chứng cứ, nhưng cách ứng xử quá gấp gáp tại tòa lại khiến cho cộng đồng phản ứng

    Về nguyên tắc, chủ tọa chỉ quyết định vấn đề điều khiển, còn những vấn đề khác cần thiết quan trọng khác phải hội ý và quyết định của cả HĐXX.

    Với những nội dung trên vẫn chưa ngầm hiểu được nội dung vụ việc tiếp theo sẽ diễn ra theo chiều hướng nào, nhưng những phản ứng nói trên của Tòa khiến cho dư luận “ngờ” rằng đang gây những bất lợi cho bị cáo thông qua việc không chấp nhận những thay đổi mới gần như là mang tính quyết định cũng như những vi phạm rõ ràng trong nguyên tắc tố tụng với quyền của Luật sư cũng gây bức xúc.

    Cùng theo dõi những ngày tiếp theo để đón chờ cái kết sẽ như thế nào.

  • Cách đây 20 giờ, 4 phút | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    tangoctram1101ulaw
    tangoctram1101ulaw

    Female
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:14/10/2015
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2005, ở nước ta có 6 hình thức sở hữu (Điều 200 – Điều 232), bao gồm:

    (1) sở hữu nhà nước;

    (2) sở hữu tập thể;

    (3) sở hữu tư nhân;

    (4) sở hữu chung;

    (5) sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

    (6) sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

    Còn theo BLDS 2015, quy định 3 hình thức sở hữu là:

    (1) sở hữu riêng;

    (2) sở hữu chung;

    (3) sở hữu toàn dân.

    Ta thấy, BLDS 2005 xác định các hình thức sở hữu là chưa khoa học, tạo ra sự phức tạp không cần thiết trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu này. Việc phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể như vậy là không hợp lý. Bởi các lý do sau:

    Thứ nhất, việc liệt kê chủ thể tỏ ra chưa khoa học vì sự liệt kê có thể chưa đầy đủ vì còn có nhiều loại hình tổ chức, các nhóm người phát sinh. Nếu như có một thành phần kinh tế mới xuất hiện trong xã hội thì BLDS lại phải sửa, như vậy tính ổn định của BLDS không cao. BLDS không nên cá biệt hóa một nhóm tổ chức nhất định thành một hình thức sở hữu.

    Thứ hai, khi xác định một hình thức sở hữu nào đó thì phải xuất phát từ sự khác biệt về nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), về phương thức thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản. Trong khi đó, nội dung của một số hình thức sở hữu được quy định trong BLDS 2005 là không có sự khác biệt ngoại trừ chủ sở hữu, vì thế không có ý nghĩa về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa các hình thức sở hữu.

    Thứ ba, theo quy định BLDS 2005 thì sở hữu tập thể là một hình thức sở hữu độc lập. Tuy nhiên, về cơ bản, đây chỉ là sở hữu của pháp nhân là hợp tác xã.

    Vì các lẽ trên, BLDS 2015 đã cố gắng loại bỏ những bất cập trên bằng cách quy định thành 3 hình thức sở hữu (riêng, chung, toàn dân). Việc quy định sở hữu chung và sở hữu riêng là dựa trên việc một hay nhiều người (chủ thể) thực hiện quyền sở hữu (một người thực hiện quyền là sở hữu riêng; nhiều người thực hiện quyền là sở hữu chung), không có căn cứ vào việc xác định người (chủ thể) cụ thể thực hiện quyền sở hữu (như Nhà nước, cá nhân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…). Ngoài ra, BLDS 2015 còn quy định một hình thức sở hữu đặc biệt là sở hữu toàn dân (thay thế cho hình thức sở hữu nhà nước trong BLDS 2005) là để phù hợp với Hiến pháp 2013.

  • Cách đây 22 giờ, 12 phút | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    NQuy111
    NQuy111

    Female
    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:16/05/2018
    Tổng số bài viết (6)
    Số điểm: 75
    Cảm ơn: 2
    Được cảm ơn 0 lần


    Sỹ quan quân đội không được tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp nhưng có thể tham gia góp vốn vào các công ty theo Khoản 3 Điều 14 Luật Viên chức 2010 như sau:

    3. Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

    Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì sỹ quan quân đội không thể tham giá góp vốn vì theo Điều 50 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về quyền của thành viên trong công ty như sau:

    1. Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên.

    2. Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 48 của Luật này.

    3. Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

    4. Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản.

    5. Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ.

    6. Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.

    7. Tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý khác theo quy định tại Điều 72 của Luật này.

    8. Trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định còn có thêm các quyền sau đây:

    a) Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền;

    b) Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm;

    c) Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng thành viên và các hồ sơ khác của công ty;

    d) Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

    9. Trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại khoản 8 Điều này thì nhóm thành viên còn lại đương nhiên có quyền theo quy định tại khoản 8 Điều này.

    10. Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

    Như vậy, nếu góp vốn vào công ty TNHH thì sẽ trở thành thành viên của công ty đồng nghĩa với việc bạn sẽ có vai trò quản lý trong đó. Điều này sẽ trái với Khoản 3 Điều 14 Luật Viên chức 2010

    Đối với công ty cổ phần, theo Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần như sau:

    1. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

    a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

    b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.

    2. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

    Như vậy, sỹ quan quân đội chỉ có thể tham gia với tư cách cổ đông góp vốn mà không thể tham gia với tư cách người trong Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vì những chức danh này có vai trò quản lý trong công ty.

    Đối với công ty cổ phần:

    Theo Khoản 1 Điều 179 Luật Doanh nghiệp 2014 về điều hành công ty hợp danh quy định như sau:

    Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.

    Như vậy, sỹ quan công chức chỉ có thể tham gia vào công ty cổ phần với tư cách thành viên hợp vốn, không được tham gia với tư cách hợp danh vì thành viên hợp danh có khả năng quản lý doanh nghiệp.

  • 24/05/2018, 12:29:02 SA | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    Kimhuyentr
    Kimhuyentr
    Top 500
    Female
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:07/05/2015
    Tổng số bài viết (144)
    Số điểm: 3582
    Cảm ơn: 6
    Được cảm ơn 62 lần


    Thuế thu nhập cá nhân là: khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước

    Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, các khoản thu nhập được miễn thuế TNCN như sau:

    1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa các đối tượng “có quan hệ thân thiết”, bao gồm:

    - Vợ với chồng;

    - Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ;

    - Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;

    - Cha chồng, mẹ chồng với con dâu;

    - Bố vợ, mẹ vợ với con rể;

    - Ông nội, bà nội với cháu nội;

    - Ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại;

    - Anh chị em ruột với nhau.

    Trường hợp bất động sản do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế.

    2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

    3.  Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp cá nhân được miễn, giảm tiền sử dụng đất khi giao đất, nếu chuyển nhượng diện tích đất được miễn, giảm tiền sử dụng đất thì khai, nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.

    4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa các đối tượng “có quan hệ thân thiết”, bao gồm:

    - Vợ với chồng;

    - Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ;

    - Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;

    - Cha chồng, mẹ chồng với con dâu;

    - Cha vợ, mẹ vợ với con rể;

    - Ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại;

    - Anh chị em ruột với nhau.

    5. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp để hợp lý hóa sản xuất nông nghiệp nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Nhà nước giao để sản xuất.

    6. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác.

    7. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ

    8. Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận được từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập tại nước ngoài gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước.

    9. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động

    10. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện.

    11. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

    - Học bổng nhận được từ ngân sách Nhà nước bao gồm: học bổng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường công lập hoặc các loại học bổng khác có nguồn từ ngân sách Nhà nước.

    - Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước (bao gồm cả khoản tiền sinh hoạt phí) theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.

    12. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.

    13. Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận.

    14. Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    15.  Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam nhận được do làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.

    16. Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu có được từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác thủy sản xa bờ.

263 Trang 12345>»

0 Thành viên đang online
-