DanLuat 2015

Chủ đề chưa có phản hồi

205 Trang «<42434445464748>»
  • 10/04/2016, 12:54:15 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


     
    Sáng chế đóng một vai trò quan trọng trong chế định luật Sở Hữu Trí Tuệ. Vậy sáng chế là gì? 
     
    Sáng chế là một trong những đối tượng được bảo hộ của Luật Sở Hữu Trí Tuệ. Căn cứ theo Điều 4 Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005, "Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên."
     
    Nói một cách dễ hiểu, sáng chế là những giải pháp kỹ luật mang tính mới nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật. Có khả năng ứng dụng vào công nghệ đem lại lợi ích. 
     
             
     
    Để được pháp luật bảo hộ là sáng chế cần những điều kiện sau: 
     
    Thứ nhất: Phải đảm bảo tính mới của sáng chế.
     
    Một trong những điều kiện tiên quyết cho việc bảo hộ sáng chế là giải pháp kỹ thuật được yêu cầu phải có tính mới. Tính mới là một trong những yêu cầu cơ bản trong bất kỳ xét nghiệm nào về mặt nội dung và là một điều kiện không phải bàn cãi để xem xét khả năng cấp bằng độc quyền sáng chế. 
     
    - Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.
     
    - Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
     
    - Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký được nộp trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố:
    • Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký theo quy định tại Điều 86 Luật Sở Hữu trí tuệ
    • Sáng chế được người có quyền đăng ký tại Điều 86 luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
    • Sáng chế được người có quyền đăng ký trừng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.
     
    Thứ hai: Phải đảm bảo được tính sáng tạo của sáng chế:
     
    Mục tiêu của bảo hộ sáng chế đó là khuyến khích sự sáng tạo, vì vậy tính sáng tạo là yêu cầu bắt buộc đối với sáng chế.
     
    Sáng chế được bảo hộ không những phải có sự khác biệt với những gì đã có trong tình trạng kỹ thuật trước đó mà sự khác biệt này còn phải có 2 đặc tính.
    • Thứ nhất sự khác biệt này phải có “Tính sáng tạo”
    • Thứ hai nó phải có bước tiến mới cao hơn so với tình trạng kỹ thuật hiện tại. 
    Thứ ba: Phải có khả năng áp dụng công nghiệp:
     
    Một giải pháp kỹ thuật chỉ có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu có khả năng áp dụng trên thực tế chứ không đơn thuần mang tính lý thuyết.
     
    Theo pháp luật Việt Nam sáng chế được coi là khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định. 
     
    Minh Trang 
     

     

  • 10/04/2016, 12:01:24 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


    Sở hữu trí tuệ và sở hữu tài sản hữu hình như hai mặt của một vấn đề. 

    Dựa vào một số tiêu chí, tác giả sẽ phân biệt một số điểm khác nhau như sau

    Tiêu chí Quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu những tài sản hữu hình
    Khái niệm Sở hữu trí tuệ được định nghĩa là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ Là tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa,...), có thể nhìn thấy được và có trị giá đo lường cụ thể.
    Đối tượng

    Tài sản vô hình là kết quả của quá trình tư duy sáng tạo trong bộ não con người được biểu hiện dưới nhiều hình thức.

    Là những tài sản không nhìn thấy được, nhưng trị giá được tính bằng tiền và có thể trao đổi. Ví dụ: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn…

    Tài sản hữu hình, được qui định tại Điều 163 BLDS bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
    Hình thái Tồn tại dưới dạng quyền tài sản và quyền nhân thân. Thể hiện dưới dạng hình thái vật chất nhất định.
    Bảo hộ tài sản sở hữu
     
    - Không gian:
     
    Có giới hạn nhất định. Chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia, khi có tham gia Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thì lúc đó phạm vi bảo hộ được mở rộng ra các quốc gia thành viên.
     
    Ví dụ: bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với tài sản đó.
     
    Tuy Bảo hộ một cách tuyệt đối tuy nhiên quyền này không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
     
    - Thời gian:
     
    Pháp luật có đặt ra thời hạn bảo hộ. Trong thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm. Hết thời hạn bảo hộ này (bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được phổ biến một cách tự do mà không cần bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu.
     
    Ví dụ: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam quy định: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình .v.v
     
    Phạm vi bảo hộ không bị bó hẹp trong một quốc gia .
     
     
    Bảo hộ quyền sở hữu tài sản hữu hình pháp luật không đặt ra thời hạn bảo hộ cho những tài sản này, tài sản hữu hình có thời hạn bảo hộ tuyệt đối.
     
    Căn cứ xác lập.
    - Quyền tác giả tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức nhất định (Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT) 
     
    - Quyền liên quan: khi biểu diễn, ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng…(Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT) 
     
    - Quyền SH công nghiệp: Đối với tên thương mại được xác lập khi sử dụng hợp pháp tên đó…(Khoản 3,4 Điều 6 Luật SHTT)
     
    -Quyền sở hữu Quyền sở hữu chỉ đề cao quyền sử dụng, định đoạt. Vì bản chất là tài sản vô hình, chúng ta không thể cầm nắm được tài sản nên  quyền chiếm hữu ít được đề cập tới
    -Do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hoa lợi, lợi tức. quyền đối với cây trồng: khi đăng lý bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
     
    - Được chuyển giao, tặng cho, thừa kế.
     
    - Tạo thành phẩm mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến - Các trường hợp chiếm hữu theo qui định của pháp luật Điều 170 BLDS
     
    -Việc đinh đoạt tài sản hữu hình cần kèm theo với sự chiếm hữu. Ví dụ: A chỉ có thể quyền sử dụng một chiếc xe nếu B là chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu chiếc xe cho A.
     
    Đăng ký bảo hộ

    Các quyền thuộc quyền sở hữu trí tuệ gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Có quyền phải đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới phát sinh quyền được bảo hộ.

    Tuy nhiên, quyền tác giả thì phát sinh mà không cần đăng ký. (Điều 49, 86, 87, 88, 164 LSHTT).

    Đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản là bất động sản, nếu là động sản chỉ đăng ký khi pháp luật có qui định (Điều 167 BLDS)
    Định giá TSVH gặp khó khăn trong việc xác định giá trị. 

    TSHH dễ dàng xác định giá trị.

     

  • 09/04/2016, 04:12:06 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Đối với những người thường xuyên xuất cảnh thì những từ như hộ chiếu (passport), thị thực (visa) là những từ rất quen thuộc. Nhưng đối với những người chưa từng xuất cảnh, như người đi xuất khẩu lao động, du học sinh,... đôi khi việc phân biệt hai từ này rất mơ hồ. Vì thế mình xin điểm qua một vài điểm khác biệt giữa hai từ này.

    TIÊU CHÍ HỘ CHIẾU THỊ THỰC
    KHÁI NIỆM

    Là giấy tờ xác định căn cước của một người , do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho công dân nước mình để đi ra nước ngoài và trở lại nước mình dưới sự bảo hộ của nhà nước

    Hay còn gọi là thị thực hay thị thực xuất nhập cảnh là một loại chứng nhận quan trọng do chính phủ một nước cấp cho người nước ngoài muốn đến nước họ.

    CÔNG DỤNG Mục đích công dân xin cấp hộ chiếu là để xuất cảnh và nhập cảnh có sự bảo hộ của nhà nước. Ngoài ra, hộ chiếu còn đóng vai trò như là một loại căn cước để xác định những đặc điểm nhân dạng của một người như : họ tên, ngày và nơi sinh, đặc điểm nhận dạng, sự khác biệt người này với người khác; đồng thời cũng là giấy tờ chứng minh quốc tịch của một người.

    Được dùng như là một loại giấy phép cho phép một người xuất nhập cảnh, lưu trú tại một quốc gia, vùng lãnh thổ mà người đó xin cấp.

    NƠI CẤP 

    - Đối với hộ chiếu phổ thông; Cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu và nhận kết quả tại tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố.

    - Đối với hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm ở trong nước là Cơ quan cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung bao gồm bao gồm Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, ở nước ngoài là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của 

    Cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực nhập cảnh Việt Nam được xác định theo Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 như sau:

    - Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự): Cấp, sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ thị thực cho người nước ngoài hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự ( bao gồm thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và tại nước thứ ba, và thân nhân, người giúp việc cùng đi); Cấp phép nhập cảnh Việt Nam cho các khách nước ngoài vào Việt Nam theo lời mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chính phủ và khách mời cấp tương đương của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    - Bộ Công an (Cục Quản lý xuất nhập cảnh): Cấp, sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ thị thực và cấp phép nhập cảnh cho các đối tượng khác có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam mời, đón.

    - Các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài: Cấp, bổ sung, sửa đổi và hủy bỏ thị thực theo phép nhập cảnh của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an; Quyết định việc cấp thị thực cho người nước ngoài không có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam mời, đón.

    THỜI ĐIỂM CẤP

    Hộ chiếu là giấy tờ có trước, là một trong những tài liệu quan trọng, cần để được cấp thị thực. Thông thường, thị thực thường được cấp bằng cách đóng dấu hoặc dán vào hộ chiếu tùy theo quy định của các nước khác nhau. Tại Việt Nam, thị thực được cấp bằng cách đóng dấu vào hộ chiếu.

  • 08/04/2016, 02:53:37 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


     
    Theo các quy định của Luật TTHC 2015, người khởi kiện và người thực hiện quyền khởi kiện được quy định rõ. Việc xác định ai là người khởi kiện? Ai là người thực hiện quyền khởi kiện có một ý nghĩa quan trọng. 
     
    Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 LTTHC: "Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri)."
     
    Như vậy, người khởi kiện là người có quyền và lợi ích bị xâm hại trực tiếp bởi các quyết định, hành vi hành chính... nêu trên. 
     
    Ví dụ: 
     
    Ngày 15/1/2015, ủy ban nhân dân xã B ra quyết định thu hồi đất của gia đình anh A. Nhưng trong phần diện tích đất thu hồi, có 150 m2  đất của chị C là hàng xóm của B.
     
     Như vậy, Anh A và chị C là những người có quyền, lợi ích bị xâm phạm trực tiếp bởi quyết định của UBND xã B. Họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính.
     
    Trường hợp khác, Anh A là công chức cùa phòng Tài nguyên và Môi trường, đầu tháng 5 anh nhận được quyết định buộc thôi việc của cấp trên. Chị C là vợ anh cho rằng quyết địnhbuộc thôi việc anh A là trái pháp luật nên khởi kiện. Tuy nhiên, chị không phải là người có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm phạm. Nên chị không có quyền khởi kiện.
     
    Việc xác định ai là người khởi kiện trong Vụ án hành chính phải dựa vào ai là người có quyền, lợi ích bị xâm phạm. 
     
    Tuy nhiên, việc xác định chủ thể thực hiện quyền khởi kiện lại không giống vậy. Người khởi kiện có thể là người thực hiện quyền khởi kiện cũng có thể không phải. 
     
    Có nghĩa là, trong một số trường hợp người khởi kiện không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà họ phải thực hiện thông qua một chủ thể khác. 
     
    Căn cứ Điều 117 Luật TTHC 2015, quy định: 
     
    • Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của cá nhân; ở phần cuối đơn cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ.
    Tuy nhiên, trong những trường hợp sau quyền khởi kiện được thực hiện thông qua chủ thể khác. Cụ thể: 
    • Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. 
    Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
     
    •  Cá nhân là người không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình làm đơn khởi kiện, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ làm chứng, ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
    • Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. 
     
    Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.
     
    Như vậy, trong một số trường hợp, người khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi.... Thì quyền khởi kiện được thực hiện thông quan chủ thể khác
     

    Minh Trang

  • 07/04/2016, 10:42:09 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    mynhanke
    mynhanke
    Top 150
    Female
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/08/2012
    Tổng số bài viết (276)
    Số điểm: 3833
    Cảm ơn: 93
    Được cảm ơn 365 lần


    BỘ TÀI CHÍNH                                                        CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TỔNG CỤC THUẾ                                                             Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Số: 1434/TCT-KK                                                                   Hà Nội, ngày 07 tháng 04 năm 2016
    V/v Tiếp nhận mẫu 06/GTGT

    Kính gửi: Cục Thuế các tinh, thành phố trực thuộc Trung uơng

          Tổng cục Thuế nhận được vướng mắc của một số Cục Thuế địa phương về thời hạn tiếp nhận mẫu 06/GTGT. Sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
          Căn cứ các quy định tại:
          - Khoản 2, khọản 3 Điều 10 Luật thuế GTGT.
          - Khoản 4, khoản 5 Điều 7 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT.
          - Khoản 1, khoản 2 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 cửa Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng.
          - Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính quy định sửa đổi, bổ sung khoản 3, 4 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
          Theo báo cáo của một số cơ quan thuế thì đến nay vẫn còn người nộp thuế chưa gửi mẫu 06/GTGT- tiếp tục đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ năm 2016-2017 đến cơ quan thuể quản lý trực tiếp. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi, không ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và phương pháp tính thuế đang áp dụng của người nộp thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến về việc tiếp nhận mẫu 06/GTGT - đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ cho chu kỳ ổn định 02 năm (2016-2017) cụ thể như sau:
          Người nộp thuế nộp mẫu 06/GTGT sau thời hạn 30/1/2016 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định theo hướng dẫn tại Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài chính. Cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo tới từng ngườỉ nộp thuế trên địa bàn, thuộc đối tượng dăng ký tự nguyện tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ phải gửi mẫu 06/GTGT đến cơ quan thuế chậm nhất là ngày 30/4/2016, nếu sau thời hạn này, người nộp thuế không đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thì phải chuyển sang phương pháp trực tiếp từ thời điểm nêu trên.
         Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế các tỉnh, thành phố được biết và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện

    Nơi nhận:                                                                              KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
    - Như trên;                                                                           PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
    - Vụ CST, Vụ PC (BTC)
    - Vụ CS, Vụ PC, Vụ TTHT, Cục CNTT;
    - Website Bộ Tài Chính;
    - Website Tổng cục thuế;
    - Lưu: VT KK (3b)                                                                           Nguyễn Đại Trí

     

  • 07/04/2016, 05:27:37 CH | Trong chuyên mục Thuế - Phí - Lệ phí

    mrvanthuc
    mrvanthuc
    Top 50
    Male
    Lớp 9

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:23/04/2009
    Tổng số bài viết (835)
    Số điểm: 12256
    Cảm ơn: 156
    Được cảm ơn 756 lần
    Moderator

    Gia hạn nộp mẫu 06/GTGT đăng ký phương pháp khấu trừ cho 2 năm 2016 -2017

    Mọi người xem và nộp nhé

     

  • 07/04/2016, 01:33:36 CH | Trong chuyên mục Tặng nhau Văn bản Luật

    mynhanke
    mynhanke
    Top 150
    Female
    Lớp 2

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:25/08/2012
    Tổng số bài viết (276)
    Số điểm: 3833
    Cảm ơn: 93
    Được cảm ơn 365 lần


  • 06/04/2016, 03:38:06 CH | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    Thông tư 01/2016/TT-BVHTTDL này hướng dẫn hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang hay quá các bác ợ.

    Thay vì tham gia các hoạt động xã hội hay các chương trình từ thiện để lấy điểm cộng từ Ban Giám khảo hay từ khán thính giả, những người ái mộ các hoa hậu, người mẫu, người đẹp này.

    Thì từ ngày 15/5/2016, việc tham gia các hoạt động xã hội, chương trình từ thiện là hoạt động bắt buộc phải làm của những người mẫu, người đẹp đạt giải nhất các cuộc thi người đẹp, người mẫu này trong vòng 24 tháng kể từ khi nhận giải.

    Nguyên xi quy định của Thông tư 01/2016/TT-BVHTTDL về vấn đề này như sau:

    Điều 7. Nội dung, hình thức đề án tổ chức cuộc thi người đẹp, người mẫu (quy định tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 15/2016/NĐ-CP)

    1. Tên cuộc thi thể hiện bằng tiếng Việt (trường hợp tên cuộc thi có sử dụng tiếng nước ngoài thì viết tên bằng tiếng Việt trước, tên nước ngoài sau).

    2. Mục đích, ý nghĩa của cuộc thi phải thể hiện rõ và phù hợp với tên gọi của cuộc thi, quy mô, phạm vi tổ chức cuộc thi.

    3. Thể lệ cuộc thi quy định rõ điều kiện, tiêu chí của thí sinh dự thi.

    4. Nội dung, trình tự tổ chức, thời gian và địa điểm tổ chức cuộc thi.

    5. Danh hiệu, cơ cấu giải thưởng, giá trị giải thưởng và thời gian trao giải.

    6. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tổ chức cuộc thi.

    7. Quyền và nghĩa vụ của thí sinh dự thi và thí sinh đạt giải.

    a) Đối với thí sinh dự thi:

    - Thực hiện đúng thể lệ, quy chế của cuộc thi người đẹp, người mẫu do đơn vị tổ chức quy định;

    - Tham dự đầy đủ các phần thi theo quy định tại đề án tổ chức cuộc thi.

    b) Đối với thí sinh đạt giải:

    Trong thời gian tối đa 24 tháng, kể từ ngày đạt giải nhất trong cuộc thi người đẹp, người mẫu, phải thực hiện các hoạt động xã hội, từ thiện theo kế hoạch của Ban tổ chức cuộc thi đã được cơ quan cấp phép phê duyệt.

    8. Danh sách và quy chế hoạt động của Ban tổ chức, Ban giám khảo.

    9. Kinh phí tổ chức cuộc thi và có văn bản chứng minh nguồn tài chính tổ chức cuộc thi.

    10. Mẫu đơn đăng ký dự thi của thí sinh (Mẫu số 05).

    Như vậy, việc quy định này tạo ra một sân chơi chung một cách công bằng cho những người mẫu, hoa hậu, người đẹp đạt giải, nhằm tránh tình trạng làm từ thiện chỉ để đánh bóng tên tuổi, hình ảnh của mình. Các bạn nhỉ 

    Ngoài ra, Thông tư này cũng cấm những người tham gia biểu diễn nghệ thuật, đạt danh hiệu cuộc thi người đẹp, người mẫu này chụp hình, quay phim hình ảnh cá nhân không mặc áo quần hay có mặc nhưng phản cảm…

    Tùy mức độ và tính chất vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.

  • 06/04/2016, 02:09:59 CH | Trong chuyên mục Café DanLuat

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Mang thai hộ là một quy định đầy nhân văn được thừa nhận từ Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Tuy nhiên, thực tế thực hiện quy định này còn nhiều khó khăn và không phải ai cũng biết đầy đủ các quy định của pháp luật về vấn đề này. Sau đây là một vài thông tin cơ bản mà trước khi tiến hành mang thai hộ các bên cần phải biết.

     

  • 06/04/2016, 12:50:03 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


    Tiêu chí

    Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

    Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

    Nguồn gốc 

    phát sinh

    Được xây dựng nên bởi các quy phạm điều chỉnh chế định hợp đồng.
    Chỉ tồn tại khi một hợp đồng tồn tại, trách nhiệm này phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.
    Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.
    Thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

    Về căn cứ

     xác định 

    trách nhiệm

    Thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc.
    Chỉ cần có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã có thể phát sinh trách nhiệm dân sự.
    Nói rõ hơn, bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm dù đã có hay chưa có thiệt hại xảy ra khi bên kia bị vi phạm hợp đồng.
    Khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng.
    Hai bên có thể dự liệu và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng và cách thức chịu trách nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm hợp đồng.
    Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, thiệt hại là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
    Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: hành vi vi phạm pháp luật, có thiệt hại thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế, có lỗi.

    Hành Vi 

    Vi phạm

    Hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể, những nghĩa vụ mà hai bên tự ràng buộc nhau trong hợp đồng, tức là hành vi này chưa chắc đã vi phạm các quy định pháp luật chung mà chỉ vi phạm “pháp luật” thiết lập giữa những người tham gia giao kết hợp đồng. Hành vi này là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, những quy định do nhà nước ban hành dẫn đến thiệt hại, vì vậy đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật chuyên nghành khác như hình sự, hành chính, kinh tế…
    Phương thức thực hiện trách nhiệm
    Các bên có thể thỏa thuận mức bồi thường hay phạt vi phạm kể từ khi giao kết hợp đồng (thể hiện bản chất thỏa thuận của hợp đồng).
    Việc bồi thường thiệt hại không giải phóng người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế.
    Bên gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời, cả thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, điều quan trọng là các bên trong quan hệ trách nhiệm dân sự có thể không biết nhau và không biết trước việc sẽ xảy ra để làm phát sinh quan hệ trách nhiệm dân sự, do đó không thể thỏa thuận trước bất cứ một việc gì.
    Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    Thông thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ.

    Yếu tố 

    lỗi

    Phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Việc phân biệt lỗi vô ý và cố ý cũng có ý nghĩa nhưng bên cạnh đó  thì người có hành vi vi phạm có thể chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi trong trường hợp pháp luật có quy định. 
    Thời điểm phát sinh trách nhiệm Kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

    Kể từ thời điểm xảy ra hành vi 

    gây thiệt hại.

    Về tính liên đới trong chịu trách nhiệm Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ liên đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước về vấn đề chịu trách nhiệm liên đới. Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định cụ thể của pháp luật dân sự.

    MInh Trang 

  • 05/04/2016, 09:42:57 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


     
    Trí tuệ là thành quả lao động sáng tạo do con người làm ra, được pháp luật công nhận và bảo hộ. Nhãn hiệu là một trong những đối tượng quan trọng được Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh.
     
    Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau.
     
    Căn cứ vào Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ về điều kiện chung đối với một nhãn hiệu được bảo hộ gồm có:
     
    Điều kiện 1: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Để đáp ứng được điều kiện thì nhãn hiệu phải là những nhãn hiệu tri giác được. Ở Việt Nam không công nhận bảo hộ về mùi hương hay vị của sản phẩm.
     
    Điều kiện 2: Nhãn hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
     
    Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam còn bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng. Để được xem là nhãn hiệu nổi tiếng phải Luật Sở hữu trí tuệ có đưa ra những tiêu chí đáng giá tại Điều 75 Luật SHTT, gồm:
     
    • Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
     
    Điều đó có nghĩa là nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng phải có danh tiếng trong một bộ phận công chúng nhất định. “Bộ phận công chúng” được hiểu là những người có liên quan đến loại nhãn hiệu hàng hoá đó, những khách hàng tiềm năng.
     
    • Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã lưu hành;
     
    Đây là tiêu chí xác định yếu tố không gian, thời gian mà nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng. Nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng không những được sử dụng tại nước đăng kí bảo hộ lần đầu tiên mà còn sử dụng rộng rãi khu vực và trên toàn thế giới. 
     
                              
     
    Mặt khác, nhãn hiệu hàng hoá đó phải được sử dụng lâu dài kể từ thời điểm đăng kí bảo hộ lần đầu tiên hoặc được sử dụng lần đầu tiên. Hai yếu tố không gian và thời gian tỉ lệ thuận với mức độ nổi tiếng của một nhãn hiệu hàng hoá tạo nên uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu hàng hoá; ngược lại nhãn hiệu hàng hoá càng nổi tiếng thì càng nhiều người biết đến, sử dụng, công nhận nó.
     
    •  Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
    Doanh số từ việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra bao nhiêu sản phẩm, lượng dịch vụ đã cung cấp là bao nhiêu.
     
    • Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
    Các nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng có thời hạn sử dụng liên tục trong nhiều năm, được nhiều người dùng biết đến.
     
    • Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
    Uy tín này có được thông qua các tiêu chí như: Chất lượng, mùi vị, giá thành… nhiều người biết đến hàng hoá đó và tín nhiệm không chỉ ở quốc gia đăng kí nhãn hiệu mà còn trên phạm vi khu vực hoặc thế giới.
     
    • Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
     
    • Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
     
    • Gía chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.”
     
    Có thể nhận thấy nhãn hiệu nổi tiếng khác với nhãn hiệu thông thường ở danh tiếng của nhãn hiệu đó do bộ phận công chúng có liên quan thông qua các hoạt động quảng cáo của nhãn hiệu, thông qua số lượng và doanh số hàng hóa được bán ra hay dịch vụ được cung cấp... Tuy nhiên, những tiêu chí luật định chỉ mang tính định tính. Số lượng cụ thể bao nhiêu vẫn được quyết định dựa trên sự đánh giá chủ quan của Thẩm phán.
     
    Minh Trang
  • 05/04/2016, 08:59:52 SA | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Giấy phép lái xe (GPLX) quốc tế do VN cấp có giá trị tại 85 nước nhưng không được dùng tại Mỹ, Nhật

     

    GPLX quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi đi công tác, học tập hoặc định cư ở nước ngoài. Trước đây, khi chưa có loại GPLX này, người ra nước ngoài sinh sống, công tác, học tập bắt buộc phải đổi sang GPLX của nước sở tại mới được phép lái xe. Khi có GPLX quốc tế, họ sẽ không phải đổi nữa mà có thể sử dụng để điều khiển phương tiện tại tất cả các nước (85 quốc gia) có tham gia Công ước về giao thông đường bộ năm 1968 (gọi tắt là Công ước Viên).

    GPLX quốc tế chỉ có hiệu lực khi mang ra nước ngoài mà cụ thể ở đây là tại các quốc gia tham gia Công ước Viên. Khi ra nước ngoài, người sử dụng phải mang cả GPLX quốc gia và quốc tế để đối chiếu.

    Tên tiếng Anh của GPLX này là International Driving Permit và được viết tắt là IDP. IDP được sử dụng để lái xe tại 85 quốc gia tham gia Công ước quốc tế Vienna 1968 về giao thông đường bộ và công ước về biển báo – tín hiệu đường bộ. Hạng xe được phép điều khiển của IDP tương ứng với các hạng xe của GPLX quốc gia do Việt Nam cấp.

    Có một số nước lớn như Mỹ, Nhật không tham gia vào công ước Vienna 1968, nhưng lại tham gia vào công ước Vienna 1949 nhưng Việt Nam không tham gia vào công ước này.

    Trong danh sách cập nhật 85 quốc gia ký công ước Vienna 1968 của Tổng cục Đường bộ VN không có nước Mỹ. Đến nay nước Mỹ vẫn cấp GPLX quốc tế nhưng là do Hiệp hội vận tải cấp nên không tương thích với Công ước Vienna năm 1968, bao gồm 85 nước tham gia. Vì thế việc cấp GPLX quốc tế do Việt Nam cấp sẽ không được công nhận khi lưu hành ở Mỹ và ngược lại.

     

    Sau đây là danh sách 85 quốc gia được áp dụng giấy phép lái xe quốc tế do Việt Nam cấp

     
  • 05/04/2016, 08:49:52 SA | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Trong số 9 nguyên thủ của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên và nắm quyền lâu nhất - 24 năm, còn ông Trần Đại Quang là người mới nhất đắc cử.

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

    chủ tịch nước

  • 05/04/2016, 01:18:01 SA | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    baothanhtu
    baothanhtu

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:31/05/2010
    Tổng số bài viết (12)
    Số điểm: 60
    Cảm ơn: 7
    Được cảm ơn 0 lần


    Ngày 01/4/2016 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 88/TANDTC-PC về việc triển khai thực hiện mô hình phòng xử án theo tinh thần cải cách tư pháp. Theo đó phòng xử án được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, đảm bảo sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác. Đây là sự cụ thể hóa quy định tại điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để sắp tới áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Đặc biệt phòng xử án được bố trí thân thiện phù hợp với người dưới 18 tuổi.

    Mô hình phòng xử án đối với vụ án Hình sự thông thườngMô hình phòng xử án đối với vụ án hình sự người dưới 18 tuổi

    Qua quan sát mô hình trên nhận thấy về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu dân chủ, tiến bộ trong hoạt động xét xử, thuận lợi hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Khắc phục được việc bố trí đại diện Viện kiểm sát và Thư ký phiên tòa ngồi ngang hàng với Hội đồng xét xử khiến vai trò của chủ thể không được thể hiện đúng, dẫn đến việc ngộ nhận về thẩm quyền, chức năng của Hội đồng xét xử và các chủ thể khác trong hoạt động xét xử. 

    Đối với riêng các Luật sư đây thực sự là một tin vui bởi lẽ chỗ ngồi của luật sư nói lên vị trí pháp lý và việc tranh tụng bình đẳng phải bắt đầu bình đẳng từ chỗ ngồi. Chúng ta kỳ vọng sắp tới việc tranh tụng tại phiên tòa sẽ tiến bộ hơn nữa, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.

  • 04/04/2016, 03:29:20 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp & Đầu tư

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 tại Điều 10 có quy định về doanh nghiệp xã hội. Theo đó, để trở thành một doanh nghiệp xã hội cần đáp ứng các tiêu chí quy định tại Khoản 1 Điều 10 sau: Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định pháp luật; Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

    Việc thành lập và đưa vào hoạt động doanh nghiệp xã hội được Nhà nước chú trọng và tạo nhiều ưu đãi, cụ thể:

    Thứ nhất, chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định pháp luật (điểm b Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014).

    Thứ hai, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Ngoài khoản viện trợ này, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường (điểm c Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014; Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP). Trình tự, thủ tục tiếp nhận các khoản tài trợ này được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP)

    Thứ ba, doanh nghiệp xã hội hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

    - Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm (điểm b Khoản 1 Điều 11 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).

    - Được kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi thêm không quá 15 năm đối với dự án đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư (điểm c Khoản 2 Điều 11 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).

    - Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo (Khoản 1 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015). Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự  án đầu tư mới thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư dự án đầu tư mới phát sinh doanh thu (Khoản 2 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC, ngày 22/06/2015).

    - Được giảm thuế nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 21 Thông tư 78/2014/TT-BTC, ngày 18/06/2014 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, ngày 26/12/2913 Hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Đồng thời với các ưu đãi đó, doanh nghiệp xã hội cũng cấn phải thực hiện các nghĩa vụ riêng của mình như: Duy trì mục tiêu và điều kiện thành lập trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật.Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký.

     

    Như vậy, so với doanh nghiệp thông thường, điều kiện, trình tự thành lập và các ưu đãi nhận được, doanh nghiệp xã hội có những điểm khác biệt. Căn cứ vào nhu cầu của mình, thực tế xã hội và những căn cứ pháp luật đã nêu, các bạn có thể xem xét và lựa chọn phù hợp.

  • 04/04/2016, 03:06:48 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Có một đứa con luôn là mong muốn của mọi cặp vợ chồng, nhưng không phải lúc nào điều đó cũng có thể thành hiện thực. Vì một lý do nào đó mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Để giải quyết điều đó, Luật hôn nhân gia đình 2014 đã cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, với những điều kiện tương đối khắt khe. Một trong những điều kiện để việc mang thai hộ được thực hiện hợp pháp đó là phải có sự tư vấn về pháp lý.

     

    Theo đó, tại khoản 2 và 3 điều 95 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

    Điều 95. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    b) Vợ chồng đang không có con chung;

    c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

    đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

     

    Tại khoản 1 điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định một trong những loại giấy tờ phải có trong bộ hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ là Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;

     

    Điều 14. Hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

    1. Cặp vợ chồng vô sinh gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, gồm:

    l) Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;

     

    Về nội dung tư vấn, nội dung tư vấn pháp lý bắt buộc phải bao gồm các nội dung được quy định tại khoản 1, 2, 3 điều 16 nghị định này, bao gồm các vấn đề về:

     

    - Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình.

    - Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình.

    - Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình.

    - Các nội dung khác có liên quan.

     

    Về người tiến hành tư vấn pháp lý, pháp luật cũng bắt buộc phải có trình độ cử nhân luật trở lên.

     

    Điều 18. Trách nhiệm tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

    3. Người tư vấn về y tế phải là bác sỹ chuyên khoa sản và tư vấn đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 15 của Nghị định này. Người tư vấn về pháp lý phải có trình độ cử nhân luật trở lên và tư vấn đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này. Người tư vấn về tâm lý phải có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên và tư vấn đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 17 của Nghị định này.

    4. Người tư vấn về y tế hoặc pháp lý hoặc tâm lý phải ký, ghi rõ họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc và ngày tư vấn vào bản xác nhận nội dung tư vấn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác nhận của mình.

     

    Vì quy định về mang thai hộ là một quy định còn tương đối mới trong pháp luật Việt Nam liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm, nên thiết nghĩ việc pháp luật Hôn nhân gia đình quy định như trên cũng hoàn toàn hợp lý. 

  • 04/04/2016, 06:04:55 SA | Trong chuyên mục Phòng Sinh viên Luật

    lengoc2013
    lengoc2013

    Sơ sinh

    Phú Yên, Việt Nam
    Tham gia:04/04/2016
    Tổng số bài viết (1)
    Số điểm: 5
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Em làm cho đơn vị sản xuất nước đá.Do mới ra trường chưa có kinh nghiệm làm kế toán nhiều nên nhờ bên LS tư vấn giúp em cách lập định mức thành phẩm như thế nào? Sao chị kế toán cũ đưa cho em là :

    A. về bài toán liên quan đến kế toán sản xuất nước đá cây như sau:
    5giờ cao điểm x 3032,7 (giá của năm 2014)=15163,5đồng
    6 giờ thấp điểm x 1089=6.534đồng
    13 giờ bình thường x 1689,6 =21964,8đ.
    cộng hết lại là:15163,5+6.534+21964,8=43.662,3đ chia 5.4 thì ra giá thành một cây đá.Vậy ý nghĩa của một bài toán này là sao em chưa rõ lắm nhờ phân tích giúp em dùng làm gì trong khi em bán 01 cây đá xuất hóa đơn tài chính là 13000đ/1 cây (đã có vat) rồi.
    Nhưng cách tính 5.4 em ko biết ở đâu mà ra 5.4 nữa, em có hỏ chị kt cũ bảo là cứ sx 1 cây đá tp là mất 5.4 kw điện.Như vậy bài toán này là tính giá vốn cho cây đá hay định mức vậy ạ.
    Trong khi chờ hồi âm lại em xin chân thành cảm ơn Qúy luật sư quan tâm tới câu hỏi của em.
    B.Cho em hỏi TK 3334 là TK lưỡng tính phải ko ạ.
    Em đang làm bctc 2015em thấy trong bctc 2014 của chị kt cũ để tk3334 số dư đầu kỳ bên nợ là 2000.000đ trong kỳ ps bên nợ là 1500.000đ ,bên có cũng 1500.000đ và số dư cuối kỳ là bên nợ 3500.000đ nghĩa là sao? đúng hay sai ạ.Trong khi tổng số tiền tạm tính TNDN hàng quý 2014đã nộp cho cơ quan thuế  là 1000.000đ.Mà làm quyết toán năm thì chỉ nộp cho cq thuế là 960.000đ .vậy là sao nhờ Qúy Luật sư tư vấn giúp.
  • 03/04/2016, 07:47:59 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


     
    Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Một khi hợp đồng đã được xác lập, nếu các bên vi phạm sẽ phải chịu những hậu quả bất lợi. Trong đó có việc bị phạt tiền vi phạm hợp đồng. 
     
    Các bên có quyền tự do thỏa thuận, xác lập giao kết hợp đồng. Nhưng khi đã xác lập, các bên có trách nhiệm thực hiện đúng những gì mình đã thỏa thuận. 
     
    Theo quy định tại Điều 422 Bộ Luật Dân sự 2005, "Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm". 
     
    Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, muốn áp dụng chế định phạt vi phạm hợp đồng các bên phải có sự thỏa thuận từ trước. Thỏa thuận này được ghi nhận trong hợp đồng. 
     
    Phạt vi phạm hợp đồng nhằm xác lập một nghĩa vụ cho bên vi phạm. Họ phải chi trả một khoản tiền theo như thỏa thuận cho bên bị vi phạm. 
     
     
                          
     
     
    Quy định này có sự khác biệt với Luật Thương Mai 2005. Luật thương mại quy định "Trừ trường hợp có thoả thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác". 
     
    Như vậy, theo quy định này, việc áp dụng phạt vi phạm sẽ phát sinh khi một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng mà không cần thỏa thuận từ trước. 
     
    Thêm vào đó, trong khi Luật Dân sư không giới hạn mức thỏa thuận tiền phạt, còn Luật thương mại lại quy định:
     
     "Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này."
     
    Ngoài việc thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng, các bên có quyền thỏa thuận về bồi thường thiệt hại. Các bên có thể thỏa thuận chỉ phải chi trả tiền phạt vi phạm hợp đồng hoặc vừa phải chi trả tiền phạt vi phạm hợp đồng vừa chi trả tiền bồi thường thiệt hại. 
     
    Nếu không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải hoàn trả tiền phạt vi phạm. 
     
    Mức bồi thường thiệt hại sẽ do các bên thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận từ trước thì bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã xảy ra. 
     
    Chế định phạt vi phạm hợp đồng nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng những gì đã thỏa thuận của các bên. Thúc đẩy giao dịch được thực hiện. Tuy nhiên, cần lưu ý nếu việc xác lập các giao dịch dân sự muốn áp dụng quy định này thì các bên phải thỏa thuận trước. 
     
    Minh Trang 
     
  • 03/04/2016, 12:59:13 CH | Trong chuyên mục Vấn đề pháp lý khác

    trangfantasi
    trangfantasi
    Top 500
    Female
    Mầm

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:15/03/2016
    Tổng số bài viết (70)
    Số điểm: 976
    Cảm ơn: 20
    Được cảm ơn 16 lần


     
    Quyền chiếm hữu là một quyền quan trọng trong chế định sở hữu tài sản. Nếu phát hiện một người đang chiếm hữu tài sản của mình không có căn cứ pháp luật, bạn có được đòi lại không? 
     
    Quyền chiếm hữu tài sản là một trong những quyền năng cơ bản của chủ sở hữu tài sản. Việc một người chiếm hữu tài sản được phát sinh trên cơ sở hoặc là có căn cứ pháp luật hoặc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
     
    Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 Điều 165, việc chiếm hữu dựa trên một trong các căn cứ sau thì được xem là chiếm hữu có căn cứ pháp luật: 
     
    a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
     
    b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
     
    c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
     
    d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
     
    đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
     
    e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.
     
    Như vậy, nếu chủ thể khác có hành vi chiếm hữu nhưng không phát sinh từ một trong các căn cứ trên thì bị xem là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
     
    Trong chế định về chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, được phân chia thành chiếm hữu ngay tìnhchiếm hữu không ngay tình. 
     
    Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
     
    Ví dụ như A mua một chiếc laptop cũ từ bạn cùng lớp là B. A không biết rằng chiếc lap kia do B lấy trộm từ C. Do đó, A tin chắc rằng mình có quyền chiếm hữu đối với chiếc lap mới mua.
     
    Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
     
    Ví dụ A mua một chiếc xe gắn máy từ B với giá rẻ, không có giấy tờ. Mặc dù biết chiếc xe của B không có giấy tờ nhưng do ham rẻ, A vẫn cố tình mua. 
    Vì xe máy là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, A biết rõ việc mua bán như vậy là sai nhưng thực hiện. A là người chiếm hữu không ngay tình. 
     
    Căn cứ theo Điều 166 BLDS 2015, "Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật".
     
    Pháp luật quy định việc có đòi lại được tài sản hay không phụ thuộc vào nguồn gốc có được tài sản, tính chất ngay tình trong chiếm hữu, nguyên tắc đền bù. Cụ thể:
     
    Điều 167: Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình:
     
    "Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu"
     
    Điều 168. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình
     
    "Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này."
     
    Điều 168 quy định việc đòi lại tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình nhưng loại bỏ 2 trường hợp sau nhằm bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình: 
     
    1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
     
    2. Trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
     
    Như vậy, không phải trong mọi trường hợp chủ sở hữu đều có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. 
     
    Minh Trang 
     
  • 02/04/2016, 12:05:04 CH | Trong chuyên mục Theo dòng sự kiện

    eyestorm
    eyestorm
    Top 200
    Male
    Lớp 2

    Tây Ninh, Việt Nam
    Tham gia:10/07/2013
    Tổng số bài viết (215)
    Số điểm: 3127
    Cảm ơn: 8
    Được cảm ơn 78 lần


    Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ cho việc thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của  công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quandưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh  không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức. 

    Sau đây là các quy định liên quan đến phòng chống tham nhũng trong Luật Hồng Đức:

    TỘI DANH QUY ĐỊNH

    Nhận hối lộ

    Điều 138 : “Quan ty làm ăn trái luật mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức; từ 10 quan đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém. Những bậc công thần quý thần cùng những người có tài đượcdự vào hạng bát nghị mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan; từ 10 quan đến 19 quan thì phạt tiền từ 60 quan đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”. 

    Biết tội phạm mà không báo cáo lại còn ăn hối lộ để bao che 

    Điều 192: “Những người coi chợ và người lính thợ thấy trong chợ có người làm đồ vật giả dối hay phá hủy tiềnđồng mà tha thứ không bắt trình quan, thì bị tội biếm hoặc phạt. Người ăn hối lộ dung túng việc đó thì tội cũng giống như chính phạm”.  

    Điều 120: “Viên quan được sai đi công tác, xem xét việc gì về tâu trình không đúng sự thực thì phải tội biếm hay đồ,…nếu ăn tiền hối lộ thì xử tội thêm 2 bậc”.

    Hành vi đòi hối lộ

    Điều 626 : “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu kẻ tội nhân xét tình đángthương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”.

    Đối với các trường hợp giấu đất đai, tài sản của công để chiếm đoạt hoặc có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi

    Điều 594: “Giấu những đồ vật của công từ 1 quan trở lên thì xử tội biếm; từ 10 quan trở lên thì xử tội đồ; 20 quan trở lên thì xử tội lưu; 50 quan trở lên thì phải xử tử. Nếu giấu mà chưa chiếm hẳn làm của mình, thì được giảm tội haibậc”.

    Điều 184: “Những người coi việc đào sông, làm cảng và quan đắp ải mà giấubớt dân phu, sách nhiễu tiền của thì bị tội biếm hoặc đồ, phải  bồi thường gấp hai, trả lại cho dân”.

    Điều 185: “Những người công sai đến các lộ, các huyện mà bắt ép phu khuân vác đưa đón và lấy lương thực, vật liệu quá nhiều thì bị tội xuy, đánh 50 roi, biếm một tư, phải bồi thường gấp đôi tang vật trả cho dân”.

    Điều 186:Những người coi chợ trong kinh thành sách nhiễu tiền lều chợ thì xử tội xuy đánh 50 roi, biếm một tư, lấy thuế chợ quá nặng biếm hai tư, mất chức coi chợ, bồi thường tiền gấp đôi trả cho dân”.

    Điều 241:“Những quan tướng hiệu cai quản (...) ăn bớt của công (…) xét tội nhẹ thì bị biếm hay cách chức, tội nặng thì bị đồ hay lưu. Nếu khi chống giặc mà phạm thì không kể nặng nhẹ đều phải chém”.

    Điều 280: “Những đồ quân nhu mà tướng lĩnh lấy dùng vào việc riêng thì xử tội biếm hay bãi chức; và bồi thường gấp đôi nộp vào quân”.

    Điều 639: “Các quan ty tự tiện lấy của cải đồ vật của quân dân, dùng vào việc riêng tư, thì xử như tội ăn hối lộ, và phải bồi thường gấp đôi trả cho quân dân”.

    Điều 372: “Quan dân không theo chế độ ruộng đất mà lạm chiếm phần mình thì xử tội biếm hay đồ”.

    Điều 370:Các nhà quyền quý chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất ao đầm của lương dân, từ một mẫu trở lên, thì xử tội phạt; từ 5 mẫu trở lên, thì xử tội biếm. Quan tam phẩm trở xuống thì xử tội tăng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định”.

    Điều 571: “Những người phu dân thợ thuyền đang làm việc mà quan chủ ty giám đương lại sai làm việc riêng, thì xử tội biếm hay bãi chức, và phải trả tiền công thuê nộp vào kho”.

    Điều 632:Các quan cai quản quan dân các hạt, vô cớ mà đi đến những làng xã trong hạt, hay là cho vợ cả, vợ lẽ, người nhà đi lại, mượn việc mua bán làm cớ, để quấy nhiễu quân dân, lấy của biếu xén, thì xử tội biếm hay bãi chức”.

    Trường hợp đòi tiền lương, tiền công quá mức 

    Điều 193: “Những người đòi tiền lương quá phận của mình, nếu là quan chức thì bị tội xuy đánh 50 roi, biếm một tư, và bãi chức, viên thuộc lại bị tội đồ làm tù quét dọn nơi đang làm việc, người tư giám bị tội đồ làm tù quét dọn trong trại lính, phải bồi thường tiền gấp đôi trả theo luật. Người không đáng được ăn lương mà lại đòi tiền thì bị xử tội thêm một bậc”.

    Trường hợp bổ nhiệm, tuyển dụng, thuyên chuyển quan chức và người làm việc trong các cơ quan nhà nước không đúng quy định

    Điều 97 : “Quan lại đặt ra có số nhất định,nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa 2 viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”. 

    Quan lại được bổ nhiệm nằm ngoài quy định 

    Điều 139: Người xin vào chức đặt thừa ấy phải phạt 50 roi, biếm một tư…Những người ỷ thế nhà quyền quý để cầu cạnh xin quan tước thì xử tội biếm hay đồ; kẻ dưới quyền quan ty cũng bắt tội như thế

    Đối với người quyết định bổ nhiệm, luân chuyển một cách tùy tiện, không theo thứ 

    Điều 152:Các quan sảnh, quan viện, phê vào sổ thăng trật, thuyên chuyển các quan văn võ bậc dưới và các quan coi tăng tạo mà chẳng theo thứ bậc, tự tiện thay đổi thì bị tội đồ và bắt cải chính; nếu phạm nặng thì xử thêm tội

    Trường hợp quan lại được giao nhiệm vụ mà làm chậm trễ hoặc dùng vào việc riêng       

     Điều 150:Những quan sảnh, quan viện duyệt sổ dân đinh, chức sắc, hay hạng sai dịch, mà tự tiện chậm trễ hay sai khiến vào những việc riêng, thì xử tội biếm hoặc đồ; việc nặng thì tội thêm một bậc. Những người thuộc lại kiểmđiểm sổ ấy không công bằng, lại làm chậm để lấy tiền, thì phải khép vào tội biếm đồ hay lưu. Người cai quản tự tiện lấy dân đinh làm việc riêng trong nhà, thì xử tội biếm hay tội đồ”.

    Với nhng quy đnh nêu trên cho thấy triều đại Nhà Lê đã quan tâm đến việc phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi lợi dụng chức quyền ca các quan lại cũng như nhng người có liên quan để vụ li cá nhân. Trong đóđã chú trng việc xử lý đvới quan lại nhn chối l, lợi dng quyn quản lý tài sản, đất đai để chiếm dng, chiếm đoạt ngân khối sản công, đất đairung vưn. Đặc biệt, Quốc triều Hình luật đã có những quy định để xử lý nghiêm khắc đvới nhng trưng hp quan chức được giao thực hiện quyền quản lý, bổ nhiệmtuyển dng, sử dng quan viên hay điều tra, xét xử c vụ án làm trái hay lợi dng quyền lực được giao để vụ lợi cá nhân. Nếu so sánh với pháp luật hiện đại, thì bộ luật này cũng thể hiện nhiều điểm cực kỳ ưu việt.

  • 02/04/2016, 11:04:10 SA | Trong chuyên mục Dự thảo Luật mới

    trang_u
    trang_u
    Top 50
    Female
    Lớp 11

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:18/11/2015
    Tổng số bài viết (1657)
    Số điểm: 17823
    Cảm ơn: 601
    Được cảm ơn 641 lần


    Một trong những đổi mới tại Dự thảo Thông tư ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.

    Cụ thể, Thông tư này bãi bỏ một số vắc xin sinh phẩm bắt buộc đối với trẻ nhỏ và quy định cụ thể lịch tiêm/uống và độ tuổi sử dụng của trẻ nhỏ như sau:

    1. Đối với vắc xin, sinh phẩm y tế phải sử dụng bắt buộc trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng:

    - Bãi bỏ vắc xin bệnh tả và bệnh thương hàn.

    STT

    Các bệnh truyền nhiễm có vắc xin tại Việt Nam

    Vắc xin sử dụng

    Đối tượng sử dụng

    Lịch tiêm/uống

    1

    Bệnh bạch hầu, ho gà

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần bạch hầu, ho gà

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

    Lần 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi.

    Lần 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi.

    Trẻ em dưới 2 tuổi

    Tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

    2

    Bệnh bại liệt

    Vắc xin bại liệt uống đa giá

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

    Lần 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi.

    Lần 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi.

    Vắc xin bại liệt tiêm đa giá

    Tiêm một lần khi trẻ đủ 5 tháng tuổi

    3

    Bệnh do Hemophilus influenza týp B

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần Hemophilus influenza týp B

    Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

    Lần 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi.

    Lần 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi.

    4

    Bệnh lao

    Vắc xin lao (BCG)

    Tiêm một lần cho trẻ trong vòng 01 tháng sau khi sinh.

    5

    Bệnh rubella

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần rubella

    Trẻ em dưới 2 tuổi

    Tiêm một lần khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

    6

    Bệnh sởi

    Vắc xin sởi đơn giá

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Tiêm một lần khi trẻ đủ 9 tháng tuổi

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần sởi

    Trẻ em dưới 2 tuổi

    Tiêm một lần khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

    7

    Bệnh uốn ván

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần uốn ván

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

    Lần 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi.

    Lần 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi.

    Trẻ em dưới 2 tuổi

    Tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng tuổi

    Vắc xin uốn ván đơn giá

    Phụ nữ có thai và phụ nữ độ tuổi sinh đẻ (15 – 35 tuổi)

    Lần 1: tiêm sớm khi có thai lần đầu hoặc trong tuổi sinh đẻ tại vùng nguy cơ cao.

    Lần 2: ít nhất 1 tháng sau mũi 1 và cách thời gian đẻ dự liến ít nhất 1 tháng.

    Lần 3: ít nhất 6 tháng sau mũi 2 hoặc kỳ có thai lần sau.

    Lần 4: ít nhất 1 năm sau lần 3 hoặc kỳ có thai lần sau.

    Lần 5: ít nhất 1 năm sau mũi 4 hoặc kỳ có thai lần sau

    8

    Bệnh viêm gan vi rút B

    Vắc xin viêm gian B đơn giá

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Lần 1: trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

    Vắc xin phối hợp có chứa thành phần viêm gan B

    Trẻ em dưới 1 tuổi

    Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi

    Lần 2: khi trẻ đủ 3 tháng tuổi.

    Lần 3: khi trẻ đủ 4 tháng tuổi.

    9

    Bệnh viêm não Nhật Bản

    Vắc xin viêm não Nhật Bản

    Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi

    Lần 1: khi trẻ đủ 1 tuổi.

    Lần 2: sau lần 1 từ 1 – 2 tuần.

    Lần 3: 1 năm sau lần 2.

    Nếu chưa tiêm chủng đúng lịch thì tiêm chủng càng sớm càng tốt sau đó nhưng phải đảm bảo phù hợp với hướng dẫn như trên.

    2. Đối với vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc đối với người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch

    Bãi bỏ vắc xin phòng lao (BCG)

    Dự thảo Thông tư này sẽ thay thế Thông tư 26/2011/TT-BYT ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi, đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.

    Xem thêm tại file đính kèm.

205 Trang «<42434445464748>»