Phân cấp bậc thành viên mới từ tháng 6/2014
  • Trang nhất
  • Luật Sư Tư Vấn
  • Cùng Thảo Luận
  • Tìm Luật Sư
  • Thành Viên
  • Trang Của Tôi

Tính pháp lý của HĐKT

Chủ đề   RSS   
  • #232832 12/12/2012

    pink_glasses

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/12/2012
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Tính pháp lý của HĐKT

    Kính gửi Anh, Chị,

    Cho em hỏi trong hợp đồng kinh tế được ký kết 3 bên: Bên Trả tiền, Bên Thụ hưởng và Bên Bán có các điều khoản sau:

    Kính gửi Anh, Chị,

    Cho em hỏi trong hợp đồng kinh tế được ký kết 3 bên: Bên Trả tiền, Bên Thụ hưởng và Bên Bán có các điều khoản sau:

    --------------------------

    Tên hợp đồng: Hợp đồng kinh tế

    Số: .................

    - Giá trị hợp đồng:

    ..."Giá trị của Hợp đồng sau khi làm tròn là : 30.001.000.000  đồng "

    - Điều khoản thanh toán có nêu chi tiết cách thức thanh toán và số tiền tương ứng với giá trị hợp đồng nêu trên.

    - Điều khoản chung:

    " Hợp đồng này được xem là Hợp đồng nguyên tắc có tính pháp lý làm căn cứ để ký kết hợp đồng chính thức sau khi có Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền."

    Phụ lục:

    - Có chi tiết giá tiền, hạng mục công việc, tiến độ thực hiện.

    ------------------------

    Như vậy, cho em hỏi:

    1/ Hợp đồng này có được coi là 1 hợp đồng để thực hiện ngay hay không? Có hiệu lực chưa?

    2/ Nếu bên bán căn cứ hợp đồng này để cung cấp hàng hóa, thì giá trị hàng hóa bán được tính theo giá trị này hay không trong trường hợp kiểm toán?

    3/ Tính pháp lý của hợp đồng này nếu có tranh chấp xảy ra?

     

    Cập nhật bởi pink_glasses ngày 12/12/2012 11:39:35 SA
     

Like DanLuat để cập nhật các Thông tin Pháp Luật mới và nóng nhất mỗi ngày.

Thảo luận
  • #232857   12/12/2012

    legalconsult
    legalconsult
    Top 100
    Lớp 1

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:04/11/2012
    Tổng số bài viết (367)
    Số điểm: 2875
    Cảm ơn: 55
    Được cảm ơn 221 lần


    chào bạn

    I. để được coi là 1 hợp đồng thì phải đảm bảo 1 số điều khoản cơ bản như sau

    1. chủ thể của hợp đồng: là các bên tham gia ký kết HĐ, phải xác định rõ là ai

    2. Đối tượng của hợp đồng: HĐ được lập ra nhằm mục đích gì

    3. Nghĩa vụ của mỗi bên

    4. giá trị của HĐ, Thời hạn và phương thức thanh toán

    ............

    II. Nếu không có thỏa thuận khác, hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm các bên ký kết vô hĐ

    III. Giá trị hàng hóa: Căn cứ theo hợp đồng mua bán của các bên

    IV. Nếu không thuộc vào trường hợp HĐ vô hiệu do vi phạm PL thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật và được thừa nhận

    Một số trường hợp vô hiệu như sai về chủ thể, sai về đối tượng, HĐ ký kết do bị lừa dối, đe dọa..........

    Thân

    Triệu Văn Hiếu- Luật sư tập sự

    TT liên hệ: 0902 617 357

    Vanhieulkd@gmail.com

     
    Báo quản trị |  
  • #233255   14/12/2012

    pink_glasses
    pink_glasses

    Sơ sinh

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:12/12/2012
    Tổng số bài viết (2)
    Số điểm: 40
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 0 lần


    Cảm ơn Anh Hieu_Lawyer,

    Trong hợp đồng của tôi nó khá rõ ràng, duy chỉ có 2 điều khoản làm tôi khá lúng túng

    Hieu_Lawyer viết:

    chào bạn

    I. để được coi là 1 hợp đồng thì phải đảm bảo 1 số điều khoản cơ bản như sau

    1. chủ thể của hợp đồng: là các bên tham gia ký kết HĐ, phải xác định rõ là ai --> OK

    2. Đối tượng của hợp đồng: HĐ được lập ra nhằm mục đích gì --> OK

    3. Nghĩa vụ của mỗi bên --> OK

    4. giá trị của HĐ:  Đang để trong hợp đồng là tạm tính. Như vậy, cho tôi hỏi là khi kiểm toán, công ty chúng tôi có được tính phần giá trị bán của hợp đồng là doanh số không?

    Thời hạn và phương thức thanh toán: --> OK rõ ràng

    ............

    II. Nếu không có thỏa thuận khác, hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm các bên ký kết vô hĐ --> Điều khoản chung của hợp đồng có đoạn: "Hợp đồng này được xem là Hợp đồng nguyên tắc có tính pháp lý làm căn cứ để ký kết hợp đồng chính thức sau khi có Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền ký, " . Lúc này chưa có quyết định phê duyệt, vậy hợp đồng này có làm căn cứ để thực hiện việc triển khai, bàn giao hàng hóa chưa?

    III. Giá trị hàng hóa: Căn cứ theo hợp đồng mua bán của các bên

    IV. Nếu không thuộc vào trường hợp HĐ vô hiệu do vi phạm PL thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật và được thừa nhận: Ko có quy định trong hợp đồng về trường hợp vô hiệu

    Một số trường hợp vô hiệu như sai về chủ thể, sai về đối tượng, HĐ ký kết do bị lừa dối, đe dọa..........

    Thân

    Mong Anh tư vấn thêm.

    Cảm ơn Anh

     
    Báo quản trị |  
  • #233308   14/12/2012

    ls_tohadung
    ls_tohadung

    Male
    Sơ sinh

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:15/11/2012
    Tổng số bài viết (7)
    Số điểm: 35
    Cảm ơn: 0
    Được cảm ơn 3 lần


    Chào bạn Pink_glasses,

    Theo quan điểm cá nhân tôi, thì Hợp đồng của bạn mang tính chất như một Hợp đồng nguyên tắc hay một Bản ghi nhớ, Thỏa thuận hợp tác, Hợp đồng khung (ý nghĩa của các văn bản này là như nhau về mặt pháp lý). Đây có thể coi như là một Hợp đồng "mẹ" để từ đó ký kết các hợp đồng "con".

    Về quá trình để ký kết một hợp đồng, nếu bạn làm kinh doanh thì bạn quá rõ, tôi chỉ đưa ra một sơ đồ chung: Tìm đối tác --> gửi thư chào hàng --> đối tác chấp nhận chào hàng --> gặp gỡ đối tác --> thỏa thuận ký kết bản ghi nhớ --> Ký hợp đồng chính.

    Vậy thì, cái mà được gọi là Hợp đồng nguyên tắc ấy nằm ở đâu trong các giai đoạn nói trên? Cái này còn tùy thuộc (vào quy mô hợp tác, vào văn hóa kinh doanh vùng miền, vào lĩnh vực hợp tác, tập quán kinh doanh v.v). Vì vậy mà chúng ta cũng giao kết các văn bản với tên gọi phù hợp. Trong trường hợp của bạn thỏa thuận giữa các bên khá chi tiết và nhiều điều khoản như vậy thì gọi là Hợp đồng khung là hợp lý (đối với Bản ghi nhớ đôi khi rất ngắn gọn chỉ có một, hai điều khoản hẹn ngày giao kết hợp đồng chính mà thôi).

    Vấn đề chúng ta quan tâm ở đây không phải là tên gọi, mục đích của những văn bản trên, mà là GIÁ TRỊ PHÁP LÝ của chúng.

    Thường thì, Thỏa thuận hợp tác chỉ chứa những điều khoản về tiến trình hợp tác, ghi nhận cam kết và thiện chí hợp tác của hai bên, phân công công việc (một bên đầu tư hạ tầng, địa điểm, nhân công, một bên đầu tư về khoa học, công nghệ và thương hiệu v.v...). Với mỗi lĩnh vực có thể có những điều khoản về đặc tả hàng hóa (như xuất khẩu nông sản, thủy sản) hay có những điều khoản về trách nhiệm pháp lý.

     

    Quan tâm đầu tiên là mục tiêu và tính khả thi của sự hợp tác, vì thế nếu các bên chưa hiểu hết nguyện vọng và năng lực thực của nhau mà đưa ra các điều khoản chung hoặc quá chi tiết cũng đều bất cập, dễ dẫn tới “thỏa thuận suông”.

     

    Trường hợp của bạn, điều khoản về thỏa thuận hợp tác đã có nêu rất rõ là hợp đồng nguyên tắc này là cơ sở cho những hợp đồng "con" (có thể gọi là hợp đồng chính) sau này: "Hợp đồng này được xem là Hợp đồng nguyên tắc có tính pháp lý làm căn cứ để ký kết hợp đồng chính thức sau khi có Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền ký". Và có thể lĩnh vực hợp tác kinh doanh của bạn liên quan đến các hoạt động đầu tư, hoặc có yếu tố nước ngoài v.v (cần sự phê duyệt, cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) cho nên yếu tố "Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền ký" ở đây chính là mấu chốt để thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng sau này.

     

    Điều đó có nghĩa là, Hợp đồng con (hợp đồng chính sau này) muốn có hiệu lực phải có những yếu tố sau:

    1. Dựa trên nền tảng thỏa thuận của Hợp đồng khung. Trường hợp vẫn ký kết Hợp đồng chính mà không dựa trên thỏa thuận hợp tác thì phải nêu rõ là "Các Bản ghi nhớ, Thỏa thuận hợp tác,  Hợp đồng khung hay các văn bản tương tự lập bằng văn bản hay thỏa thuận miệng trước khi ký hợp đồng này đều không phải là một phần của Hợp đồng này và không có giá trị pháp lý".

    2. Hiệu lực phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện ghi trong Hợp đồng khung. Trường hợp của ban là phái có sự phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền. Về cơ bản vẫn là dựa trên thỏa thuận của Hợp đồng khung.

     

    Cuối cùng, quan trọng không kém, chính là việc dù Hợp đồng thỏa thuận không được quy định rõ trong luật nhưng nó mang đầy đủ tính chất của một hợp đồng dân sự (Theo quy định tại Điều 388 Bộ Luật Dân sự 2005); các bên đã xác định rõ nó chỉ là Hợp đồng khung nên có thể xem như Hợp đồng đó là một Đề nghị giao kết hợp đồng đã được chấp nhận (Theo quy định tại các điều 390, 396 Bộ Luật Dân sự 2005), hoặc là một Hợp đồng có điều kiện (khoản 6 Điều 406 Bộ Luật Dân sự 2005).

     

    Mặc dù còn phải bàn thêm nhiều vấn đề liên quan nhưng tóm lại, theo quan điểm của tôi, xin trả lời các câu hỏi của bạn như sau:

     

    1/ Đây là Hợp đồng khung, có giá trị thực hiện ngay (có hiệu lực) và sẽ hết hiệu lực nếu ít nhất một trong các bên từ chối thực hiện nghĩa vụ trong Hợp đồng khung và trong trường hợp nếu các bên ký kết Hợp đồng chính thì nội dung của Hợp đồng chính các bên không còn thừa nhận nó là một phần của Hợp đồng chính nữa.

    2/ Khi giao kết các Hợp đồng chính, các bên hoàn toàn có thể loại bỏ hiệu lực của Hợp đồng khung, cho nên giá trị pháp lý của Hợp đồng khung này tùy thuộc vào Hợp đồng chính, các bạn hoàn toàn có thể thay đổi giá trị Hợp đồng hay các điều khoản khác, miễn là Hợp đồng được ký kết dựa trên sự thỏa thuận và không bị rơi vào các trường hợp vô hiệu của Hợp đồng (về hiệu lực của hợp đồng thì rất nhiều vấn đề liên quan xin không tiện nêu ra đây).

    3/ Cũng tương tự như trên, tính pháp lý của Hợp đồng khung này sẽ chỉ được xem xét đến khi Hợp đồng chính thừa nhận nó và hành vi thực tế theo Hợp đồng khung đã xảy ra. Trong mọi trường hợp khác, nó không có giá trị pháp lý. Khi có tranh chấp xảy ra, tùy thuộc vào tranh chấp về Hợp đồng khung hay Hợp đồng chính để xem xét giá trị pháp lý của Hợp đồng khung tại thời điểm đó.

     

    Tôi xin lấy ví dụ một tình huống liên quan: Bên A của bạn đã nhận một số tiền của Bên B (tiền tạm ứng để thực hiện giai đoạn 1 chẳng hạn) nhưng sau một thời gian bạn vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng khung --> Bên B khởi kiện. Lúc này, hành vi thực tế của hợp đồng khung đã xảy ra (một bên đã chuyển tiền, biên kia đã nhận tiền) thì Hợp đồng khung lập tức có giá trị pháp lý như là một thỏa thuận chính thức (Hợp đồng chính). Việc Bên A không thực hiện nghĩa vụ của mình theo điều khoản được quy định trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng Bên B vẫn phải chứng minh được việc không thực hiện nghĩa vụ của Bên A là vi phạm hợp đồng --> Nghĩa vụ chứng minh thuộc về B và Hợp đồng khung lúc này có giá trị như một chứng cứ.

     

    Xin có đôi lời chia sẻ như vậy, rất mong được các quý đồng nghiệp góp ý và chia sẻ thêm quan điểm của mình.

     

    Thân ái,

     

    Tô Hà Dũng.

    Giải đáp pháp luật: Mr. Dũng

    Website: www.leadconsult.com.vn

    Email: ls.tohadung@gmail.com

    Dịch vụ pháp lý liên hệ sđt: 091.54.72.999

     
    Báo quản trị |